Tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam - Pdf 13

Đề tài: Thực trạng vận hành tỷ giá ở Việt Nam và các biện pháp hoàn thiện

Nhóm 2 Page 1
Đề tài: Thực trạng vận hành tỷ giá ở Việt Nam và các biện pháp hoàn thiện

Nhóm 2 Page 2
Đề tài: Thực trạng vận hành tỷ giá ở Việt Nam và các biện pháp hoàn thiện

Nhóm 2 Page 3
Đề tài: Thực trạng vận hành tỷ giá ở Việt Nam và các biện pháp hoàn thiện
LỜI NÓI ĐẦU
Tỷ giá hối đoái giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống kinh
tế của mỗi quốc gia cũng như các quan hệ thương mại quốc tế thông qua
việc phản ánh tương quan giá trị đồng tiền của những nước khác nhau.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại quốc tế, ngày nay tỷ giá hối
đoái đã trở thành công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng của mỗi quốc gia và là
vũ khí lợi hại trong cuộc chiến tranh thương mại hết sức khốc liệt trên thế
giới.
Trong thời gian qua, để thúc đẩy nền kinh tế phát triển, Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam đã nhiều lần thay đổi phương pháp điều hành tỷ giá. Từ
chỗ được giữ cố định, “đông cứng” trong một thời gian khá dài, đến nay tỷ
giá hối đoái đã được hình thành một cách khách quan theo tín hiệu thị
trường và có sự điều tiết của Nhà nước. Thực tế đã chứng minh rằng, cơ chế
điều hành tỷ giá hối đoái hiện nay là phù hợp với đặc điểm tình hình và mục
tiêu phát triển kinh tế đất nước. Tuy nhiên, để cơ chế điều hành tỷ giá mới có
thể thực sự phát huy tác dụng cần thiết phải có những cải cách hơn nữa
trong việc quản lý tỷ giá hối đoái. Làm sao để tỷ giá hối đoái sát hợp với tín
hiệu thị trường, theo hướng điều tiết của Nhà nước, khuyến khích xuất khẩu,
hạn chế nhập khẩu, nâng cao uy tín của đồng tiền và tiến tới một đồng Việt
Nam có khả năng chuyển đổi luôn là câu hỏi được đặt ra cho không chỉ
những nhà hoạch định chính sách mà còn là dấu chấm hỏi cho những nhà

Ví dụ: 1 USD = 19.500 VND
Định nghĩa 2: Tỷ giá hối đoái là quan hệ so sánh giữa hai tiền tệ của hai
nước với nhau mà trong thời đại ngày nay sự so sánh đó là sự so sánh sức
mua của các tiền tệ.
1.1.1.2. Phân loại
Trong thực tế tuỳ từng nơi từng lúc khi quan tâm đến một khía cạnh nào
đó của tỷ giá hối đoái người ta thường gọi đến tên đến loại tỷ giá đó. Do vậy
cần thiết phải phân loại tỷ giá hối đoái.
Dựa vào những căn cứ khác nhau người ta chia ra nhiều loại tỷ giá khác
nhau:
Căn cứ vào phương tiện chuyển ngoại hối, tỷ giá được chia ra làm hai
loại:
- Tỷ giá điện hối: là tỷ gía mua bán ngoại hối mà ngân hàng có trách nhiệm
chuyển ngoại hối bằng điện (telegraphic transfer -T/T)
- Tỷ giá thư hối: là tỷ giá mua bán ngoại hối mà ngân hàng có trách nhiệm
chuyển ngoại hối bằng thư (mail transfen M/T)
Căn cứ vào chế độ quản lý ngoại hối, tỷ giá hối đoái chia ra các loại
- Tỷ giá chính thức: là tỷ giá do nhà Nước công bố được hình thành trên cơ
sở ngang giá vàng.
- Tỷ giá tự do là tỷ giá hình thành tự phát trên thị trường do quan hệ cung
cầu quy định .
Nhóm 2 Page 5
Đề tài: Thực trạng vận hành tỷ giá ở Việt Nam và các biện pháp hoàn thiện
- Tỷ giá thả nổi là tỷ giá hình thành tự phát trên thị trường và nhà nước
không can thiệp vào sự hình thành và quản lý tỷ giá này.
- Tỷ giá cố định là tỷ giá không biến động trong phạm vi thời gian nào đó.
Căn cứ vào phương tiện thanh toán quốc tế, tỷ giá được chia ra các
loại:
- Tỷ giá séc là tỷ giá mua bán các loại séc ngoại tệ.
- Tỷ giá hối phiếu trả tiền ngay là tỷ giá mua bán các loại hối phiếu có kỳ

GBP/USD=2,488281/0,888671=2,80
Trong chế độ bản vị vàng, tỷ giá hối đoái của một nước cũng như trên thế
giới khá ổn định và thường chỉ biến động theo mức tăng giảm hàm lượng
vàng chứa đựng trong mỗi đơn vị tiền tệ.
Nhóm 2 Page 6
Đề tài: Thực trạng vận hành tỷ giá ở Việt Nam và các biện pháp hoàn thiện
Do hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới sau Chiến tranh thế
giới lần thứ nhất, đặc biệt là do những bất lợi của chế độ bản vị vàng (kiềm
chế sự phát triển kinh tế và giao lưu kinh tế quốc tế ) nên phần lớn các nước
đã từ bỏ chế độ bản vị vàng vào đầu những năm 30. Đến năm 1971, các nước
hoàn toàn bãi bỏ chế độ bản vị vàng.
1.1.2.2. Thuyết ngang giá sức mua (Purchasing Power Parity- PPP )
Khi tỷ lệ lạm phát của một nước tăng tương đối so với lạm phát của một
nước khác, mức cầu đồng tiền nước đó giảm do xuất khẩu giảm. Ngoài ra,
người tiêu dùng và các doanh nghiệp trong nước có lạm phát cao có xu
hướng tăng nhập khẩu. Như vậy, cả hai lực lượng này tạo áp lực giảm giá
đồng tiền của nước có lạm phát cao.Tỷ lệ lạm phát thường khác nhau giữa
các quốc gia, tạo nên các kiểu mẫu mậu dịch quốc tế để điều chỉnh thích hợp
và ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái .
Một trong những lý thuyết nổi tiếng nhất và gây nhiều tranh cãi nhất
trong tài chính quốc tế là thuyết ngang giá sức mua, tập trung vào mối liên
hệ lạm phát – tỷ giá hối đoái.
Ý tưởng căn bản của thuyết ngang giá sức mua ban đầu được phát triển
bởi nhà kinh tế học cổ điển David Ricardo vào thế kỷ 19. Nhưng chính Gustar
Cassel, một nhà kinh tế người Thụy Điển mới là người phổ biến rộng rãi PPP
vào những năm 20 của thế kỷ XX. Trong những năm này, rất nhiều nước như
Đức, Hungary, Nga phải trải qua thời kỳ lạm phát phi mã vì sức mua đồng
tiền của các nước đó giảm rất mạnh, bị mất giá mạnh so với các đồng tiền ổn
định như USD. Lúc này quan niệm về thuyết PPP trở nên phổ biến trước thực
trạng lịch sử như vậy. Có nhiều hình thức khác nhau của thuyết PPP.

bởi sự biến động của tỷ giá, do đó, quan hệ PPP được duy trì không thay đổi.
Nếu nước A có tỷ lệ lạm phát bằng 0% và nước B có tỷ lệ lạm phát bằng 10%
thì đồng tiền của nước B phải giảm giá 10% so với đồng tiền của nước A. Sự
biến động của tỷ giá sẽ duy trì tỷ lệ giá cả giữa hai nước trước và sau khi
lạm phát xảy ra là không thay đổi.
Nếu thuyết PPP tương đối hoạt động, có hiệu lực ngay lập tức và chính
xác, thì chính sách tiền tệ sẽ không có tác dụng cải thiện cán cân thương mại.
Bất cứ sự thay đổi nào trong các mức giá cả giữa hai nước do thay đổi mức
cung ứng tiền sẽ được hấp thụ ngay lập tức bởi sự thay đổi của tỷ giá. Trong
thực tế thuyết PPP tương đối có ảnh hưởng tương đối tới sự biến động của
tỷ giá, nhưng xảy ra chậm hơn. Xu hướng là rõ ràng nhưng nhiều yếu tố có
thể làm méo mó quan hệ này trong ngắn hạn. Một trong những nguyên nhân
chủ yếu là do trong giai đoạn ngắn hạn đối với cả thị trường trong nước và
thị trường quốc tế thì giá cả hàng hoá được coi như là cố định. Trong khi đó
tỷ giá trao đổi thì được điều chỉnh thường xuyên do sự cập nhật thông tin và
do sự thay đổi của chính sách kinh tế. Điều đó có nghĩa, sự thay đổi của tỷ giá
đã tạo ra sự sai lệch lớn và kéo dài so với thuyết PPP.
1.1.3 Niêm yết tỷ giá
Theo tập quán kinh doanh tiền tệ của ngân hàng, tỷ giá hối đoái thường
được yết giá như sau:
USD/DEM = 1,4125/1,4175
USD/VND = 15.300/15.500
Trong công thức trên, đồng USD đứng trước gọi là đồng tiền yết giá và là
một đơn vị tiền tệ. VND đứng sau gọi là đồng tiền định giá và là một số đơn
vị tiền tệ và thường xuyên thay đổi phụ thuộc vào thời giá của tiền yết giá.
Tỷ giá đứng trước 15.300 là tỷ giá mua đô la trả bằng VND của ngân hàng,
được gọi là tỷ giá mua vào của ngân hàng (BID RATE).
Nhóm 2 Page 8
Đề tài: Thực trạng vận hành tỷ giá ở Việt Nam và các biện pháp hoàn thiện
Tỷ giá đứng sau 15.500 là tỷ giá bán đô la thu bằng VND của ngân hàng, gọi

/010!"#$%#
1.2.1. Khái niệm và hệ thống chính sách tỷ giá
Chính sách tỷ giá là tổng thể các nguyên tắc công cụ biện pháp được nhà
nước điều chỉnh tỷ giá của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định nhằm
đạt mục tiêu đã định trong chiến lược phát triển của quốc gia đó.
Để quản lý và điều hành tỷ giá NHTW thường sử dụng các chính sách chủ
yếu sau:
- Chính sách chiết khấu: khi NHTW nâng cao lãi suất chiết khấu làm lãi
suất trên thị trường tăng, làm các nguồn vốn ngắn hạn trên thị trường quốc
Nhóm 2 Page 9
Đề tài: Thực trạng vận hành tỷ giá ở Việt Nam và các biện pháp hoàn thiện
tế chạy vào nước mình để thu lợi tức cao làm dịu sự căng thẳng của cầu vượt
cung ngoại hối do đó làm tỷ giá giảm xuống và ngược lại.
- Chính sách hối đoái: khi tỷ giá lên cao NHTW bán ngoại hối ra thị
trường kéo tỷ giá tụt xuống và ngược lại. Tuy nhiên NHTW phải có dự trữ
ngoại hối đủ lớn, nếu cán cân thanh toán thiếu hụt thường xuyên thì khó có
đủ ngoại hối thực hiện phương pháp này.
- Phá giá tiền tệ: là sự nâng cao một cách chính thức TGHĐ hay là việc
nhà nước hạ thấp sức mua đồng tiền nước mình so với ngoại tệ làm đẩy
mạnh xuất khẩu hạn chế nhập khẩu cải thiện cán cân thương mại làm tỷ giá
bớt căng thẳng.
- Nâng giá tiền tệ: là việc Nhà nước chính thức nâng giá đơn vị tiền tệ
nước mình so với ngoại tệ làm cho tỷ giá giảm xuống.
1.2.2. Các công cụ của Chính sách tỷ giá
1.2.2.1. Nhóm công cụ trực tiếp
NHTW thông qua việc mua bán đồng nội tệ nhằm duy trì một tỷ giá cố
định hay gây ảnh hưởng làm cho tỷ giá thay đổi đạt tới một mức nhất định
theo mục tiêu đã đề ra. Hoạt động can thiệp trực tiếp của ngân hàng trung
ương tạo ra hiệu ứng thay đổi cung tiền có thể tạo ra áp lực lạm phát hay
thiểu phát không mong muốn cho nền kinh tế vì vậy đi kèm hoạt động can

sẽ giảm lãi suất tái chiết khấu.
Muốn giảm tỷ giá hối đoái thì Chính Phủ có thể quy định mức thuế
quan cao, quy định hạn ngạch và thực hiện trợ giá cho những mặt hàng xuất
khẩu chiến lược. Và ngược lại sẽ làm tăng tỷ giá hối đoái.
Ngoài ra Chính Phủ có thể sử dụng một số biện pháp khác như điều
chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ vớiNHTW, quy định mức lãi suất
trần kém hấp dẫn đối với tiền gửi bằng ngoại tệ. Mục đích là phòng ngừa rủi
ro tỷ giá, hạn chế đầu cơ ngoại tệ, làm giảm áp lực lên tỷ giá khi cung cầu
mất cân đối.
1.2.3. Vai trò của chính sách tỷ giá tới tăng trưởng kinh tế
1.2.3.1. Đối với cán cân thanh toán
Tỷ giá giữa đồng nội tệ và ngoại tệ là quan trọng đối với một quốc
gia vì trước tiên nó tác động trực tiếp tới giá cả hàng xuất nhập khẩu của
chính quốc gia đó. Khi TGHĐ tăng (đồng nội tệ xuống giá) sẽ làm tăng giá
trong nước của hàng nhập khẩu và giảm giá ngoài nước của hàng xuất khẩu
của nước đó, cải thiện sức cạnh tranh quốc tế của hàng trong nước. Các
nguồn lực sẽ được thu hút vào những ngành sản xuất mà giờ đây có thể cạnh
tranh hiệu quả hơn so với hàng nhâp khẩu và cũng vào ngành xuất khẩu mà
giờ đây có thể có hiệu quả hơn trên các thị trường quốc tế. Kết quả là xuất
khẩu tăng nhập khẩu giảm làm cán cân thanh toán được cải thiện.
1.2.3.2. Với lạm phát và lãi suất
Khi các yếu tố khác không đổi TGHĐ tăng làm tăng giá các mặt hàng
nhập khẩu tính bằng nội tệ. Các hộ gia đình,các nhà sản xuất sử dụng đầu
vào nhập khẩu phải tiêu dùng hàng nhập khẩu với mức giá tăng cùng tỷ lệ
phá giá. Kết quả mức giá chung trong nền kinh tế trở nên cao hơn đặc biệt là
nền kinh tế nhỏ, mở cửa với thế giới bên ngoài có xuất khẩu và nhập khẩu
chiếm tỷ lệ cao so với GDP. Nếu TGHĐ tiếp tục có sự gia tăng liên tục qua các
năm có nghĩa là lạm phát đã tăng. Nếu lãi suất tăng ở mức vừa phải có thể
kiểm soát sẽ kích thích tăng trưởng nhưng nếu lạm phát tăng quá cao sẽ tác
động làm lãi xuất tăng làm giảm đầu tư ảnh hưởng không tốt đến đời sống

nước đó hoặc những đồng tiền mạnh nên khi TGHĐ tăng lên cũng đồng
nghĩa với sự tăng lên của gánh nặng nợ nước ngoài. Ngày nay khi sự luân
chuyển vốn quốc tế ngày càng tự do thì các nước đặc biệt các nước đang
phát triển càng cần phải thận trọng hơn trong chính sách tỷ giá để đảm bảo
tăng trưởng và khả năng trả nợ nước ngoài.
1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến TGHĐ
1.2.4.1. Sức mua của mỗi đồng tiền trong một cặp tiền tệ
Do tỷ giá được xác định dựa trên quan hệ cung cầu về ngoại hối và
nguyên tắc một giá nên khi sức mua của đồng nội tệ tăng lên sẽ làm tỷ giá
giảm xuống và ngược lại
1.2.4.2. Cán cân thanh toán quốc tế
Đây là yếu tố cực kì quan trọng trong những yếu tố kinh tế tác động
đến tỷ giá. Đánh giá chung có tính chất truyền thống đối với sự biến động
Nhóm 2 Page 12
Đề tài: Thực trạng vận hành tỷ giá ở Việt Nam và các biện pháp hoàn thiện
của TGHĐ, các nhà kinh tế đều cho rằng lượng hàng hóa xuất nhập khẩu và
dịch vụ quốc gia là những nhân tố cơ bản đứng sau lưng tăng giá TGHĐ.
Tình trạng của cán cân thanh toán tác động đến cung cầu về ngoại hối
do vậy, tác động trực tiếp đến TGHĐ.
1.2.4.3. Yếu tố tâm lý
Dựa vào sự phán đoán từ các sự kiện kinh tế, chính trị của một nước
và tình hình thế giới, cả chính trị và kin tế có liên quan các nhà kinh doanh
ngoại hối bao gồm các ngân hàng thương mại, các doanh nghiệp và kể cả
người đầu cơ tùy theo sự phán đoán đó mà hành động.
Yếu tố tâm lý ảnh hưởng một cách hết sức nhạy cảm đối với thị trường
tài chính, trong đó có thị trường hối đoái. Tuy nhiên những biến động này
bao giờ cũng mang tính chất ngắn hạn, xác lập một vị thế ngắn hạn.
1.2.4.4. Vai trò quản lý của ngân hàng trung ương
Chế độ tỷ giá mà phần đông các nước vận hành là thả nổi có quản lý do
đó vai trò can thiệp của nhà nước giữ vị trí quan trọng. NHTW tự biến mình

các thâm hụt trong ngân sách và tài khoản vãng lai.
1.2.5.2. Nhóm các nước đang chuyển đổi về cơ cấu kinh tế (Ba Lan, Nga,
Séc…)
Các nước trong nhóm này đều gắn đồng tiền với một số ngoại tệ nhất
định (Ba Lan với 5 đồng tiền USD, DEN, GBP, FRF, CHF; CH Séc với 2 đồng tiền
DEM, USD) tỷ giá được công bố hàng ngày với mức dao động cho phép.
NHTW sẽ can thiệp khi tỷ giá ra ngoài biên độ dao động. Trong giai đoạn
chuyển sang nền kinh tế thị trường, dự trữ ngoại tệ thấp, thị trường hối đoái
và nội tệ chưa phát triển thì cơ chế trên tỏ ra là một điểm tựa tương đối
chắc chắn cho NHTW trong việc kiểm soát chính sách tỷ giá. Chúng ta sẽ xem
xét trường hợp của nước Nga.
Trước cuộc khủng hoảng T8/1998, chủ trương thực hiện liệu pháp
‘sốc’ để cải tổ nền kinh tế, Chính phủ Nga đã áp dụng cơ chế tỷ giá thả nổi
hoàn toàn cùng với khá nhiều chính sách tự do hoá trong giai đoạn 91-95.
Những đợt phá giá vô căn cứ đã góp phần tạo ra sự tụt dốc tới 3000 lần của
đồng Rúp so với USD, làm tăng lạm phát trong nước. Ước tính đến năm 1995,
tổng giá trị USD bằng tiền mặt lưu hành quy đổi giá trị so với đồng Rúp đã
vượt quá 3 lần, Nga là quốc gia tầm cỡ duy nhất trong lịch sử phụ thuộc quá
nhiều vào đồng tiền của một quốc gia khác. Ngày 6-7-1995, Chính phủ Nga
đưa ra hệ thống ‘hành lang hối đoái’ nhằm tạo tiền đề cho quá trình cố định
tỷ giá đồng tiền này.
Năm 1998, sau khi thay đổi mệnh giá đồng Rúp theo tỷ lệ mới
1/1000 tỷ giá đồng Rúp giảm xuống còn một con số, Chính Phủ Nga đã quyết
định thực hiện chính sách cố định tỷ giá ở mức 6.2 R/USD. Song với những
biến động quá lớn về giá cả một số mặt hàng chủ chốt trên thị trường quốc
tế đã gây nên khủng hoảng tiền tệ T8/1998, hệ thống Ngân hàng rơi vào tình
trạng mất khả năng thanh toán, khoảng 1/3 ngân hàng bị phá sản, gần 160
tỷ USD nợ nước ngoài không có khả năng trả Ngày 9/9/1998, Nga đã buộc
phải từ bỏ mục tiêu biên độ tỷ giá và chuyển sang hệ thống tỷ giá hối đoái
thả nổi, do thị trường quyết định, NHTW chỉ có nhiệm vụ ngăn chặn sự dao

này đã biến Trung Quốc thành khu vực an toàn, thu hút đầu tư rất mạnh kể
cả trong thời kỳ khủng hoảng khu vực, thay thế Mỹ trở thành nước thu hút
FDI lớn nhất thế giới, dự trữ ngoại tệ chỉ xếp sau Nhật Bản. Vai trò của đồng
NDT ngày càng được củng cố và nâng cao trên khu vực và thế giới.
Ngày 31/7/2005, Trung Quốc tuyên bố TGHĐ đồng NDT căn cứ vào
“giỏ” ngoại tệ gồm USD, Euro, yên Nhật và đồng won Hàn Quốc. NHTW
Trung Quốc mới đây đã tăng giá NDT 2% nhằm làm dịu tình trạng mất cân
bằng trong mậu dịch đối ngoại của Trung Quốc, mở rộng kích cầu trong
nước cũng như nâng cao mức cạnh tranh của doanh nghiệp trên trường
quốc tế, nâng cao hiệu quả tận dụng vốn nước ngoài…Người phát ngôn
NHTW Trung Quốc cho biết: hiện nay khâu quản lý ngoại tệ của nước này đã
được nới lỏng dần dần, việc xây dựng thị trường ngoại tệ không ngừng tăng
cường, các cuộc cải cách tiền tệ đã thu được tiến triển thực chất, kiểm soát vĩ
mô thu được thành quả nổi bật, kinh tế quốc dân tiếp tục duy trì đà tăng
trưởng ồn định.Vì vậy Trung Quốc chọn thời điểm này để thực hiện cải cách
tỷ giá.
234
Khi có một thị trường hối đoái và nội tệ phát triển ở mức cao có đầy
đủ công cụ gián tiếp giúp NHTW linh hoạt trong can thiệp và trung hoà giữa
Nhóm 2 Page 15
Đề tài: Thực trạng vận hành tỷ giá ở Việt Nam và các biện pháp hoàn thiện
các chỉ tiêu của chính sách tiền tệ.Bản thân nền kinh tế đó cũng phải phát
triển mạnh, có dự trữ đồng tiền có sức mạnh và có khả năng chuyển đổi, ổn
định tương đối, có xu hướng tăng giá.
Nhóm 2 Page 16
Đề tài: Thực trạng vận hành tỷ giá ở Việt Nam và các biện pháp hoàn thiện
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VẬN HÀNH CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ
Ở VIỆT NAM
Đặc trưng chính sách tỷ của một quốc gia phụ thuộc chủ yếu vào cơ chế xác
định và cơ chế can thiệp lên tỷ giá mà quốc gia đó áp dụng. Căn cứ vào cơ

qua những nét nổi bật trong 3 giai đoạn đầu và đi sâu vào giai đoạn
gần đây nhất với chính sách tỷ giá thả nổi có điều tiết từ 2/1999 đến
nay.
Nhóm 2 Page 17
Đề tài: Thực trạng vận hành tỷ giá ở Việt Nam và các biện pháp hoàn thiện
2.1 %)%5-67/898:5; 5)$%#
2.1.1. Bối cảnh kinh tế
Trong giai đoạn này, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế đóng cửa và
hướng nội. Đây là thời kỳ của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp.
Các bạn hàng chủ yếu là các nước XHCN trong hội đồng tương trợ
kinh tế. Hình thức trao đổi thương mại chủ yếu là hàng đổi hàng giữa các
nước theo một tỷ giá đã được thoả thuận trong hiệp định ký kết song
phương hay đa phương.
2.1.2. Chính sách tỷ giá (phương pháp xác định, chính sách quản
lý)
Tỷ giá trong giai đoạn này được xác định dựa trên việc so sánh sức
mua giữa hai đồng tiền, sau đó được qui định trong các hiệp định thanh
toán được ký kết giữa các nước XHCN.
Tỷ giá của Việt Nam lần đầu tiên được công bố vào ngày 25/11/1955
là tỷ giá giữa đồng Nhân dân tệ (CNY) và VND. 1CNY=1470VND. (Tỷ giá này
được xác định bằng cách chọn ra 34 đơn vị hàng hóa cùng loại, thông dụng
nhất, tại cùng một thời điểm tại thủ đô và có tham khảo thêm giá cả ở một
số tỉnh khác để qui đổi ra tổng giá cả của 34 mặt hàng đó theo hai loại tiền
của 2 nước.)
Sau đó, khi Việt Nam có quan hệ ngoại thương với Liên Xô, tỷ giá giữa
VND và đồng Rúp (SUR) được tính chéo nhờ tỷ giá giữa CNY và SUR đã có
từ trước. 1 SUR = 0.5 CNY ⇒ 1 SUR = 735 VND.
Tỷ giá hối đoái trong giai đoạn này được giữ cố định trong một thời
gian dài.
Một đặc trưng nữa của tỷ giá trong giai đoạn này là “đa tỷ giá” tức là

1988 3.000 5.000
1989 3.900 4.750
Nguồn: Ngân hàng nhà nước
Do đồng tiền Việt Nam được định giá quá cao so với các đồng tiền tự
do chuyển đổi nên:
- Cán cân thương mại bị thâm hụt nặng, xuất khẩu gặp nhiều bất lợi
trong khi nhập khẩu thì có lợi và thường xuyên tăng lên. Hậu quả là hàng nội
bị hàng ngoại chèn ép, sản xuất trong nước bị đình đốn.
- Nhà nước phải áp dụng tỷ giá kết toán nội bộ để bù lỗ cho các đơn vị
sản xuất hàng xuất khẩt nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu và chưa đủ bù
đắp chi phí sản xuất.
- Cán cân thanh toán bị bội chi, dự trữ ngoại tệ bị giảm sút, phản ứng
của chính phủ lúc này là tăng cường quản lý ngoại hối, bảo hộ mậu dịch và
kiểm soát hàng nhập khẩu. Nhưng từ đó nảy sinh tình trạng khan hiếm vật
tư, hàng hóa, nguyên vật liệu cần thiết khiến cho tốc độ tăng trưởng chậm
lại, sản xuất trong nước trì trệ, đình đốn lại càng trở nên tồi tệ, sức ép lạm
phát tăng vọt.
1010?%CD/898B/88/E<F%.$%#
2.2.1. Bối cảnh kinh tế
Đông Âu, Liên Xô sụp đổ, quan hệ ngoại thương được bao cấp với các
thị trường truyền thống bị gián đoạn, khiến chúng ta phải chuyển sang buôn
bán với khu vực thanh toán bằng đồng Đô-la Mỹ.
Quá trình đổi mới kinh tế thực sự diễn ra mạnh mẽ bắt đầu từ năm
1989. Chính phủ cam kết và thực thi chiến lược ổn định hóa nền kinh tế - tài
chính – tiền tệ, trong đó vấn đề tỷ giá được coi là khâu đột phá, có vai trò cực
kỳ quan trọng đối với quá trình cải cách, chuyển đổi cơ chế và mở cửa kinh
tế.
Nhóm 2 Page 19
Đề tài: Thực trạng vận hành tỷ giá ở Việt Nam và các biện pháp hoàn thiện
2.2.2. Chính sách tỷ giá.

Thị trường với các nước XHCN cũ bị thu hẹp một cách đáng kể.
Về phương diện thanh toán quốc tế, Việt Nam đứng trước một tình thế
vô cùng khó khăn. Bên cạnh hệ thống thanh toán đa biên đã bị tan rã, tất cả
các nước CNXH đều đồng loạt chuyển đổi đồng tiền thanh toán với Việt Nam
bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi (chủ yếu là USD). Việc chuyển đổi đồng tiền
thanh toán có ảnh hưởng lớn đến khả năng thanh toán của Việt Nam bằng
ngoại tệ vì trước đó, hầu hết nguồn thu ngoại tệ của Việt Nam đều bằng
đồng Rúp chuyển nhượng, chỉ có một lượng nhỏ bằng ngoại tệ tự do chuyển
đổi.
Điều đó đã dẫn đến cán cân vãng lai và cán cân thương mại thâm hụt
lớn, nhập khẩu gấp 3 lần xuất khẩu. sự thiếu hụt trong cán cân thương mại
được bù đắp bằng các khoản viện trợ, cho vay của các nước CNXH mà chủ
yếu là Liên Xô.
Nhóm 2 Page 20
Đề tài: Thực trạng vận hành tỷ giá ở Việt Nam và các biện pháp hoàn thiện
Năm 1997, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Nam Á bùng nổ
buộc các nước này phải tiến hành phá giá mạnh đồng nội tệ và Việt Nam
cũng không nằm ngoài xu hướng đó.
2.3.2. Chính sách tỷ giá
- Thời kỳ 1992-1994: tỷ giá chính thức hình thành trên cơ sở đấu thầu tại
trung tâm giao dịch ngoại tệ.
Trong thời gian này, NHNN đề nghị với chính phủ thành lập Quỹ điều hòa
ngoại tệ tại NHNN để có thể can thiệp vào thị trường ngoại hối nhằm ổn
định tỷ giá. Chính phủ ủy quyền cho Thống đốc được toàn quyền điều hành
quỹ một cách linh hoạt.
Có thể nói, việc thành lập quỹ ngoại tệ tại NHNN đã làm dịu những
biến động thất thường của tỷ giá trên thị trường. NHNN đã sử dụng quỹ
một cách rất linh hoạt và hiệu quả. Quỹ tạo cho NHNN một nguồn lực thực
sự để can thiệp nhằm ổn định tỷ giá, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của nền
kinh tế về ngoại tệ.

Thành lập thị trường ngoại tệ liên ngân hàng (20/10/1994). Có qui mô
lớn hơn, hoạt động linh hoạt hơn nên tỷ giá hối đoái ngày càng phản ánh
đầy đủ hơn quan hệ cung cầu thị trường. Qua thị trường liên ngân hàng,
ngân hàng nhà nước nắm bắt dấu hiệu thị trường về tỷ giá hối đoái, công bố
tỷ giá chính thức hàng ngày và biên độ giao dịch cho các ngân hàng thương
mại.
Từ tháng 7/1997, do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính
tiền tệ Châu Á, đồng Việt Nam chịu áp lực giảm giá mạnh đã khiến cho thị
trường ngoại hối rơi vào tình trạng đầu cơ, tích trữ ngoại tệ, cầu ngoại tệ
luôn lớn hơn cung. Trong hai năm 1997-1998, nhà nước đã ba lần chủ động
điều chỉnh tỷ giá VND/USD, đồng thời nới rộng biên độ giao dịch giữa các
ngân hàng thương mại với các khách hàng trên thị trường ngoại tệ.
<10I$%#!=%)%5-/88AB/888
Năm Tỷ giá chính thức
1995 11.021
1996 11.040
1997 11.175
1998 12.985
1999 14.016
Nguồn: Ngân hàng nhà nước
Cuối giai đoạn, trong thời kỳ xảy ra khủng hoảng tài chính ở khu vực,
tỷ giá tăng lên do điều chỉnh của chính phủ là để tăng cao sức cạnh tranh
của hàng hóa Việt Nam.
Việc tỷ giá của Việt Nam không tăng quá nhanh như của các nước
khác trong khu vực có tác động tích cực vì không tạo tâm lý hoang mang cho
người dân, không gây ra một sức ép lớn lên nợ nước ngoài và hạn chế thiệt
hại cho nhập khẩu.
2.4. ?%CD/88853)J<F%K5%L%3
2.4.1. Giai đoạn 1999-2006
2.4.1.1. Bối cảnh kinh tế

hiện rõ nét hơn thông qua phản ứng của thị trường đối với các đợt điều
chỉnh tăng biên độ và giảm tỷ giá chính thức của NHNN. Tất cả các đợt điều
chỉnh đều có chung một xu thế diễn biến là sự giảm đến mức tối đa cho phép
của tỷ giá VND. Điều đó có nghĩa là tỷ giá chính thức đã không phản ánh
đúng giá trị của đồng nội tệ trên thị trường, nên khi có cơ hội, tỷ giá đã liên
tục giảm đến mức tối đa được phép. Sự mở rộng biên độ giao động trong
thời gian qua thực sự là một cuộc kiểm nghiệm hiệu quả đối với tỷ giá chính
thức do NHNN công bố. Chỉ khi tỷ giá chính thức được điều chỉnh đúng bằng
tỷ giá thị trường liên ngân hàng, ở mức tỷ giá chính thkức cộng với biên độ
giao động tối đa cho phép vào ngày 7/8/1998, tỷ giá giao dịch thực tế mới
giao động tương đối ổn định trong khung cho phép (thấp hơn trần) so với tỷ
giá chính thức. Điều đó khẳng định rằng tỷ giá chính thức lúc này đã phần
nào phản ánh được tình hình thị trường ngoại tệ có tổ chức.
 J1MG1G/888: Nhà nước chấm dứt tỷ giá chính thức và giảm biên độ tỷ
giá xuống còn 0,1%. Và biên độ tỷ giá được nới rộng dần từ năm 1999 đến
nay.
N1MG1G/888BHOGMG1OO1 áp dụng biên độ giao động 0,1%.
- Trong năm 2002 tỷ giá bình quân VNĐ/USD trên thị trường liên ngân hàng
tăng 1,97%, so với năm 2001.
Nhóm 2 Page 23
Đề tài: Thực trạng vận hành tỷ giá ở Việt Nam và các biện pháp hoàn thiện
- Năm 2003 tỷ giá tăng khoảng 1% so với năm 2002
Nguồn : Ngân hàng phát triển Châu Á-ADB)
%P5Q10/R67+%35S$%#%)%5-NT*/888B1OO1
Tuy nhiên, giai đoạn này (1999-2002), mặc dù tỷ giá tăng nhưng mức
độ giảm giá trị của Việt Nam đồng vẫn còn thấp hơn nhiều so với một số
nước trong khu vực nên tốc độ tăng trưởng nhập khẩu cao hơn tốc độ tăng
trưởng xuất khẩu làm cho tăng dần mức thâm hụt trong cán cân thương
mại.
<10AS":U%>%)%5-/888B1OO1

FDI ( tỷ USD) 3,15 4,22 6,43 10,2
Cán cân thương mại (%GDP) -12,8 -12,1 -8,1 -8,8
Cán cân TK vãng lai (%GDP) -4,9 -3,4 -0,9 -0,3
Dự trữ ngoại tệ (tỷ USD) 5,6 6,3 8,5 11,5
Nguồn:Tổng cục Thống kê
Sau khủng hoảng tài chính 1998, một số nước châu Á đã học được
một bài học đau đớn về quản lý dự trữ ngoại hối. Từ kinh nghiệm đó, các
nước đã gia tăng nhanh chóng mức dự trữ ngoại hối của mình và Việt Nam
cũng không nằm ngoài xu thế đó.
<10VX-%:%'%()*%)%5-/888B1OOI
Năm 1999 2000 2001 2002 2003 2004
Dự trữ quốc tế chính
thức và vàng
2,711 3,030 3,387 3,692 5,620 6,357
Tỷ lệ tăng hàng năm
%
53,6 11,7 11,8 9 50,6 13,1
Dự trữ ngoại hối tính
trên tuần nhập khẩu
8,1 8,9 8,3 7,5 10,4 9,6
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Trong vòng 6 năm ( từ 1999 đến 2004) dự trữ ngoại hối đã tăng gấp
3,42 lần, mức tăng hằng năm bình quân là 11,3%. Đặc biệt, năm 1999 và
2003, dự trữ ngoại hối đã có mức tăng đột biến, lên tới hơn 50%. Nếu chỉ xét
trên chỉ tiêu này, ta thấy mức tăng lên của dự trữ ngoại hối là tương đối tốt.
Tuy nhiên, cũng trong giai đoạn này, kim ngạch nhập khẩu của nước ta cũng
liên tục tăng lên. Điều đó dẫn đến mức tăng lên của dự trữ ngoại hối vẫn
không đảm bảo được tiêu chuẩn về khả năng thanh toán trong thương mại
quốc tế.
Mặc dù dự trữ ngoại hối của nước ta vẫn còn mỏng, điều mà chúng ta


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status