LÝ LUẬN GIÁ TRỊ CỦA CÁC TRƯỜNG PHÁI KINH TẾ TRONG GIAI ĐOẠN TỪ THẾ KỶ XVI ĐẾN XIX VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI - Pdf 13

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA KINH TẾ
Tiểu luận
*
LÝ LUẬN GIÁ TRỊ
CỦA CÁC TRƯỜNG PHÁI KINH TẾ
TRONG GIAI ĐOẠN TỪ THẾ KỶ XVI ĐẾN XIX
VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Tác giả : Nguyễn Thị Hoàng Anh
Học phần: Lịch sử các học thuyết kinh tế
từ thế kỷ XVI đến XIX
Lớp : Kinh tế chính trị - K32B Lâm Đồng
Lâm Đồng, tháng 10 năm 2013
1
Phần 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự phát triển của xã hội loài người là một quá trình vận động và phát triển
không ngừng của các hình thái kinh tế - xã hội. Ở mỗi giai đoạn phát triển, đều
có những hiện tượng kinh tế - xã hội đòi hỏi con người phải có những hiểu biết
và các giải quyết. Ban đầu, chỉ là những giải thích dưới hình thức các tư tưởng
kinh tế lẻ tẻ, rời rạc. Dần dần đã trở thành những quan niệm, quan điểm kinh tế
có tính hệ thống của các giai cấp khác nhau. Theo đà phát triển của kinh tế thị
trường, đến nay, đã có nhiều học thuyết kinh tế xuất hiện làm cơ sở lý luận cho
các nhà chiến lược kinh tế của Nhà nước và quản lý kinh doanh của các doanh
nghiệp. Đó là các học thuyết kinh tế của chủ nghĩa trọng thương, chủ nghĩa
trọng nông, kinh tế học tư sản cổ điển; … và cho đến nay là những học thuyết
kinh tế hiện đại.
Việc nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế từ thế kỷ XVI đến thế kỷ
XIX, ngoài việc tiếp cận các quan điểm kinh tế, bảo vệ lợi ích của các giai cấp
nhất định mà còn giúp cho các thế hệ sau nhận thức và cải tạo hiện thực kinh tế -
xã hội dựa trên những bài học của lịch sử. Ngoài ra, còn cung cấp một cách có
hệ thống các quan điểm, lý luận kinh tế làm cơ sở cho các khoa học kinh tế

giàu. Hàng hóa chỉ là phương tiện để gia tăng khối lượng tiền tệ. Trên quan
điểm coi tiền là tiêu chuẩn đánh giá mọi hình thức hoạt động nghề nghiệp.
Những hoạt động nào không dẫn đến tích luỹ tiền tệ là những hoạt động tiêu
cực, không có lợi. Hoạt động công nghiệp không thể là nguồn gốc của của cải
(trừ công nghiệp khai thác vàng và bạc) chỉ có hoạt động ngoại thương mới là
nguồn gốc thật sự của của cải. Khối lượng tiền tệ chỉ có thể gia tăng bằng con
đường ngoại thương. Trong hoạt động ngoại thương phải thực hiện chính sách
xuất siêu.
Những người theo chủ nghĩa Trọng thương coi sản xuất là phương tiện
phục vụ cho thương nghiệp, còn thương nghiệp mới là nguồn gốc tạo ra của cải
như Montcheretien cho rằng: “kinh tế chính trị là khoa học về của cải thương
mại mà nhiệm vụ của nó là bán nhiều, mua ít”; họ coi lợi nhuận thương nghiệp
là kết quả của sự trao đổi không ngang giá, là sự lừa gạt. Họ cho rằng, không
một người nào thu được lợi mà lại không làm thiệt kẻ khác. Dân tộc này là giàu
bằng cách hy sinh lợi ích của dân tộc khác. Trong trao đổi phải có một bên thua
để bên kia được.
3
Mặc dù còn hạn chế về tính lý luận nhưng hệ thống quan điểm học thuyết
kinh tế Trọng thương đã taọ ra những tiền đề lý luận kinh tế xã hội cho các lý
luận kinh tế thị trường sau này phát triển. Điều này thể hiện ở chỗ họ đưa ra
quan điểm sự giàu có không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị, là tiền. Mục
đích hoạt động của kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường là lợi nhuận. Mác đã chỉ
ra rằng chủ nghĩa Trọng thương thế kỷ XVI - XVII đã đi theo cái hình thức chói
lọi của giá trị trao đổi và đứng trên lĩnh vực thô sơ của lưu thông hàng hóa để
xem xét nền sản xuất tư bản chủ nghĩa.
II. HỌC THUYẾT KINH TẾ TRỌNG NÔNG
Cũng như chủ nghĩa Trọng thương, chủ nghĩa Trọng nông xuất hiện trong
khuôn khổ thời kỳ quá độ phong kiến sang chế độ tư bản chủ nghĩa, nhưng ở
giai đoạn phát triển kinh tế trưởng thành hơn. Học thuyết kinh Trọng nông cho
rằng nguồn gốc thuần túy của sự giàu có của mỗi quốc gia là từ sản xuất nông

Pháp là mang tính sản xuất. Nghĩa là chỉ có thể tạo ra thặng dư trong nông
nghiệp mà thôi, hay là chỉ trong nông nghiệp thì sản lượng đầu ra mới lớn hơn
đầu vào cần cho sản xuất ra sản lượng đó. Theo ông, sự gia tăng của cải, sự giàu
có của một dân tộc phụ thuộc vào sự tăng trưởng của nông nghiệp; chỉ có nông
nghiệp là ngành sản xuất, còn các loại lao động khác là phi sản xuất. Quan điểm
này nhấn mạnh rằng của cải được tạo ra trong quá trình sản xuất chứ khong phải
trong thương mại
Những quan điểm của F.Quesnay được Anne Robert Jacques Turgor tiếp
tục kế thừa, lý luận về giá trị được ông trình bày khá rõ ràng trong tác phẩm “Tư
duy về việc tạo ra và phân bổ của cải”. Thứ nhất, ông nhất trí với quan điểm
cảu các nhà Trọng nông khác là có hai nguyên tắc hình thành giá trị hàng hóa
khác nhau giữa công nghiệp và nông nghiệp; trong nông nghiệp: giá trị hàng hóa
bằng tổng chi phí sản xuất như tiền lương, nguyên, nhiên vật liệu và sự quản lý
của nhà tư bản; giá trị hàng hóa bằng tổng chi phí sản xuất tương tự như trong
công nghiệp cộng với sản phẩm thuần túy mà ngành công nghiệp không có. Bởi
vì chỉ trong nông nghiệp mới có sự giúp sức của tự nhiên làm sinh sôi nảy nở
nhiều của cải mới. Thứ hai, giá trị hàng hóa và giá trị trao đổi được xác định bởi
tỷ lệ nhu cầu, bởi cường độ, tầng suất sự mong muốn tham gia trao đổi giữa
người mua với người bán.Thứ ba, để tiện lợi cho việc trao đổi phải có một loại
hàng hóa có thể đại diện cho tất cả các loại hàng hóa khác. Hàng hóa này phải
có hai thuộc tính: có thể làm thước đo chung để biểu hiện giá trị các loại hàng
5
hóa khác và là sự đảm bảo chung nhằm thu được các hàng hóa khác thông qua
trao đổi.
Như vậy, chủ nghĩa Trọng nông đã giải thích nguồn gốc của sản phẩm
thuần tuý theo tinh thần của chủ nghĩa tự nhiên, tựa hồ như đất đai là nguồn gốc
của sản phẩm thuần tuý. Trong học thuyết này, họ đã coi sản phẩm thuần tuý là
sản phẩm lao động của người công nhân làm thuê, bộ phận này đã biến thành
nguồn thu nhập của giai cấp tư sản và địa chủ. Tuy nhiên, phái Trọng nông chưa
phân tích được rõ các khái niệm lý luận cơ sở như hàng hóa, tiền tệ, giá trị, giá

lý, là giáo sư giải phẫu và âm nhạc, là
bác sĩ. Ông còn là một chủ đất, một nhà
công nghiệp phát đạt. W.Petty là người
áp dụng phương pháp mới trong nghiên
cứu khoa học, được gọi là phương pháp
khoa học tự nhiên; là người đầu tiên
đưa ra nguyên lý lao động quyết định giá trị trong kinh tế chính trị học tư
sản.
Theo ông, giá trị hàng hóa là do lao động kết tinh, khẳng định vai trò của
lao động trong việc tạo ra giá trị hàng hóa. Với phát hiện này ông đã đối lập
hoàn toàn với học thuyết kinh tế trọng thương, vì họ cho rằng lưu thông tạo ra
giá trị. Đây là cống hiện lớn của ông so với tất cả các nhà kinh tế trước đây và
đương thời với ông. Với phát minh này W. Petty được coi là cha đẻ của kinh tế
chính trị học.
Để tìm hiểu lý luận giá trị hàng hóa, ông bắt đầu nghiên cứu về giá cả. Theo
ông có 3 loại giá cả: giá cả tự nhiên, giá cả thị trường và giá cả chính trị. Giá cả
tự nhiên là giá cả vốn có, là giá cả có trước khi trao đổi đã nằm trong hàng hóa.
Giá cả tự nhiên là do thời gian lao động kết tinh trong hàng hóa và trong tiền tệ
(vàng - bạc) tạo ra. Do vậy theo ông người ta trao đổi hàng hóa lấy tiền tệ thực
chất là trao đổi lao động cho nhau. Với quan điểm này,W.Petty đã tìm thấy cái
chung trong các hàng hóa đem trao đổi với nhau, đó là thời gian lao động của
con người. Giá cả nhân tạo hay giá cả thị trường của hàng hóa phụ thuộc vào giá
trị tự nhiên và quan hệ cung - cầu của hàng hóa. Giá cả chính trị chịu sự tác
động của các yếu tố chính trị đối với lượng chi phí lao động để sản xuất ra hàng
William Petty
7
hóa, làm cho các chi phí này vượt lên cao hơn so với các chi phí lao động tự
nhiên.
Như vậy, W.Petty chính là người đầu tiên trong lịch sử đặt nền móng cho lý
thuyết giá trị lao động. Việc phân biệt 3 loại giá cả trên đã cho thấy sự cố gắng

tiên khắc phục được hạn chế của những người trọng thương và trọng nông trong
việc quy lao động tạo ra giá trị chỉ về một lao động cụ thể, đặc thù nào đó. Theo
ông tất cả các lao động sản xuất đều bình đẳng trong việc tạo ra giá trị. A.Smith
còn đi xa hơn khi xác định giá trị bằng lao động có tính chất trung bình của xã
hội chứ không phải lao động cá biệt của những người sản xuất hàng hóa riêng lẻ.
Theo quan điểm này, trao đổi hàng hóa diễn ra trên thị trường thực chất là trao
đổi những lượng lao động được xã hội thừa nhận và tất cả những người sản xuất
cần phải tính toán chi phí sản xuất của mình dựa trên mức hao phí trung bình
của xã hội để có thể thu lợi. Ông cũng phân biệt lao động giản đơn, không lành
nghề và lao động phức tạp, lành nghề và nhận xét rất đúng rằng cùng trong một
thời gian ngắn như nhau với một cường độ lao động như nhau, những lao động
phức tạp, lành nghề sẽ tạo được lượng giá trị lớn gấp nhiều lần so với lao động
giản đơn, không lành nghề.
Ông cũng phân biệt rõ giá trị sử dụng và giá trị trao đổi trong một hàng hóa:
“Giá trị có hai nghĩa khác nhau, có lúc nó biểu thị hiệu quả sử dụng như là một
vật phẩm đặc biệt, có lúc biểu thị sức mua do chỗ chiếm hữu một vật nào đó mà
có được đối với vật khác. Cái trước gọi là giá trị sử dụng, và cái sau gọi là giá
trị trao đổi” và có một nhận xét thú vị là thường mặt hàng nào có giá trị sử dụng
cao lại có ít giá trị hơn so với mặt hàng có giá trị sử dụng thấp hơn.
Cùng tư tưởng như W.Petty nhưng dưới cách trình bày khác, A.Smith phân
biệt giá cả tự nhiên và giá cả thị trường. Giá cả thị trường được ông xác định là
giá mà người ta trả trong các trao đổi thực tế hàng ngày. Giá cả này chủ yếu do
quan hệ cung và cầu hàng hóa quyết định, song đôi khi do tác động can thiệp
của chính phủ. Ngược lại, cơ sở giá trị tự nhiên là thu nhập từ 3 nguồn mang lại:
tiền công với tư cách là thu nhập lao động; lợi nhuận - thu nhập của tư bản và
địa tô - thu nhập của chủ đất. Ông cũng nhận xét trong ngắn hạn, hai loại giá cả
này thường chênh lệch nhau, xong do một cơ chế điều tiết tự động của thị
trường, cuối cùng chúng sẽ có xu hướng cân bằng với nhau.
9
Đặc biệt, ông coi trọng vai trò của tiền tệ trong trao đổi hàng hóa. Nguồn

10
Ông phân biệt rõ hai thuộc tính của hàng hóa là giá trị sử dụng và giá trị
trao đổi và chỉ rõ giá trị sử dụng là điều kiện cần thiết cho giá trị trao đổi, nhưng
không phải là thước đo của nó. Trừ một số ít hàng hóa khan hiếm, thì giá trị sử
dụng quyết định giá trị trao đổi, còn đại đa số hàng hóa khác, giá trị do lao động
quyết định. Vì giá trị trao đổi là một lượng tương đối biểu hiện khối lượng hàng
hóa khác (hay tiền tệ) nên D.Ricardo đặt vấn đề là bên cạnh giá trị tương đối,
còn tồn tại giá trị tuyệt đối. Đó là thực thể của giá trị, là số lượng lao động kết
tinh, giá trị trao đổi là hình thức cần thiết và có khả năng duy nhất để biểu hiện
giá trị tuyệt đối.
Ông xem xét lại lý luận giá trị của A.Smith, gạt bỏ những chỗ thừa và mâu
thuẫn trong lý thuyết kinh tế của A.Smith, chẳng hạn, trong hai định nghĩa “giá
trị do lao động hao phí quyết định” là đúng, còn định nghĩa “giá trị lao động mà
người ta có thể mua được bằng hàng hóa này quyết định” là không đúng. Theo
D.Ricardo, không phải chỉ trong nền sản xuất hàng hóa giản đơn mà ngay cả
trong nên sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa, giá trị vẫn do lao động quyết
định. Ông chỉ ra rằng, trong cơ cấu giá trị hàng hóa phải bao gồm 3 bộ phận là c
1
+ v + m, chứ không thể loại c ra khỏi giá trị sản phẩm như A.Smith đã làm. Tuy
nhiên ông chưa phân tích được sự chuyển dịch c
1
vào sản phẩm mới diễn ra như
thế nào. Ông có ý định phân tích lao động giản đơn và lao động phức tạp, quy
lao động phức tạp thành lao động giản đơn và trung bình. Ông nói rằng, lao
động xã hội cần quyết định lượng giá trị hàng hóa, song lại cho rằng lao động xã
hội cần thiết do điều kiện sản xuất xấu nhất quyết định.
Đề cập vấn đề tiền tệ và giá cả, Ricacdo cho rằng giá trị của tiền là do giá
trị vật liệu làm ra tiền quyết định. Nó bằng số lượng hao phí để khai thác vàng,
bạc. Ông nêu lên khái niệm giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị. Ông ủng hộ
quy luật lưu thông tiền tệ của W.Petty và A.Smith, song mặt khác ông đi theo

của trường phái tư sản cổ điển, đặc biệt là lý luận giá trị - lao động. Hơn thế nữa,
họ dần dần xa rời lý luận giá trị - lao động, phát triển mặt thứ hai trong thuyết
giá trị của các nhà cổ điển, như ủng hộ thuyết giá trị - các nhân tố sản xuất, ủng
hộ lý luận giá trị - ích lợi. Một số đại biểu trong thời kỳ này như: T.R.Malthus,
J.B.Say, N.W.Senior,
1. Thomas Robert Malthus
Thomas Robert Malthus (1766 - 1844) sinh ra trong một gia đình quý tộc
và làm nghề tu hành. Ông không nhất trí với lý luận giá trị lao động của A.Smith
12
hay D.Ricardo. Ông đề cập đến hai khía cạnh trong vấn đề giá trị đó là giải thích
giá trị trao đổi và cách đánh giá giá trị.
Theo ông nguyên tắc cung cầu xác định giá cả tự nhiên cũng như giá cả thị
trường. Ông xác định nhu cầu như là mong muốn kết hợp với khả năng để mua
và cũng như là lượng hàng hóa kinh doanh kết hợp với ý định bán chúng. Theo
Malthus quan hệ cung cầu quyết định giá trị thị trường của hàng hóa.
2. Lý luận của Jean Baptisste Say
Jean Baptisste Say (1766 - 1832) sinh ra trong một gia đình làm nghề dệt ở
Lyon. Điểm nổi bật trong phương pháp luận của ông là áp dụng phương pháp
chủ quan, tâm lý trong việc đánh giá các hiện tượng và quá trình kinh tế, phủ
nhận các quy luật kinh tế khách quan.
J. B.Say đã đem thuyết về “tính hữu dụng” thay cho học thuyết giá trị của
khoa kinh tế chính trị cổ điển, đối lập với lý luận giá trị của Ricacdo. Theo ông,
sản xuất tạo ra giá trị hữu dụng (giá trị sử dụng), còn tính hữu dụng lại truyền
giá trị cho các vật. Giá trị là thước đo tính hữu dụng. Như vậy, ông đã không
phân biệt được giá trị sử dụng và giá trị, coi giá trị sử dụng và giá trị là một, do
đó đã che đậy cái bản chất đặc thù xã hội của giá trị. Ông đưa ra kết luận các
nhân tố tạo ra giá trị không phải chỉ có lao động mà còn có cả công cụ và ruộng
đất.
Ông còn đưa ra định nghĩa thứ hai về giá trị là: giá trị của sự phục vụ có
tính chất sản xuất chẳng qua chỉ là giá trị của hàng hóa vốn là kết quả của những

cả với giá trị của hàng hóa song lại coi đó như một sự vi phạm quy luật giá trị
trong chủ nghĩa tư bản. Để khắc phục sự chênh lệch này, ông hy vọng một xã
hội dựa trên cơ sở chiếm hữu tư nhân nhỏ có thể phân bố hợp lý các tỷ lệ lao
động.
Về vấn đề tiền tệ ông đã nghiên cứu một cách cẩn thận và đưa ra một số
luận điểm khoa học. Ông coi tiền như một loại hàng hóa, nhưng là hàng hóa đặc
biệt có chức năng làm thước đo chung của giá trị. Ông thấy được sự khác nhau
giữa tiền giấy và tiền tín dụng. Song nói chung ông vẫn còn dừng lại trước bản
chất và nguồn gốc phát sinh của tiền.
2. Những lý luận của J.P.Proudhon
Proudhon (1809-1865) sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở Pháp.
Ông đặt ra những vấn đề kỳ lạ, độc đáo cho sự tranh luận, các quan điểm của
Simonde de Sismondi
mondi
14
J.P.Pruodhon được coi là có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc hình thsanhg.
Lý luận giá trị là phần quan trọng trong học thuyết kinh tế của ông.
Trong lý luận gía trị J.P.Proudhon có cố gắng
đặt vấn đề một cách biện chứng. Cụ thể ông
cảm nhận được và muốn vạch rõ mâu thuẫn
biện chứng giữa giá trị sử dụng và giá trị trao
đổi.
Về hình thức, ông có đặt vấn đề một cách
biện chứng hứa hẹn bóc trần mâu thuẫn giữa
giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá. Nhưng
ông đã giải thích không đúng mâu thuẫn đó.
Ông coi giá trị sử dụng là hiện thân của sự dồi
dào, còn giá trị trao đổi là hiện thân của sự khan hiếm, thành thử giá trị sử dụng
và giá trị biểu hiện hai khuynh hướng đối lập: dồi dào và khan hiếm.
Theo ông, trao đổi trên thị trường người ta có sự lựa chọn, đặc biệt về sản

CNXH không tưởng Pháp. Lênin coi đó là 3 nguồn gốc lý luận của chủ nghĩa
Mác.
C.Mác khẳng định mình là người đầu tiên phát hiện ra tính chất hai mặt của
lao động sản xuất hàng hóa, đó là lao động cụ thể và lao động trừu tượng. Lao
động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể, có đối tượng lao động,
mục đích, phương pháp lao động, kết quả sản xuất riêng. Chính cái riêng đó
phân biệt được các loại lao động cụ thể khác nhau. Mỗi lao động cụ thể tạo ra 1
giá trị sử dụng nhất định. Lao động cụ thể tồn tại vĩnh viễn cùng với sản xuất và
tái sản xuất xã hội, không phụ thuộc vào bất cứ hình thái kinh tế xã hội nào. Còn
lao động trừu tượng là lao động của người sản xuất hàng hoá đã gạt bỏ hình thức
biểu hiện cụ thể của nó để quy về một cái chung đồng nhất. Đó là sự tiêu phí sức
lao động, tiêu hao sức bắp thịt, thần kinh của con người. Lao động trừu tượng
tạo ra giá trị hàng hoá. Chỉ có lao động sản xuất hàng hoá mới có tính chất là lao
động trừu tượng.
Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá vừa là lao động cụ thể,
vừa là lao động trừu tượng có liên hệ với tính chất tư nhân và tính chất xã hội
của lao động sản xuất hàng hoá. Sự phân công lao động xã hội tạo ra sự phụ
thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất hàng hoá thông qua trao đổi. Việc
16
trao đổi hàng hoá không thể căn cứ vào lao động cụ thể mà phải quy về lao động
chung nhất, lao động trừu tượng.
Theo Mác, đây là điểm xuất phát mà khoa kinh tế chính trị xoay quanh,
nghĩa là phát hiện này đã đem lại cuộc cách mạng trong kinh tế chính trị. Bởi lẽ
phát hiện này đã đem đến cơ sở khoa học cho lý luận giá trị nói riêng và toàn bộ
học thuyết kinh tế của Mác nói chung.
Theo Mác, hàng hoá có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng; ông đã
tiến xa hơn lý luận của các nhà tư sản cổ điển là phân biệt một cách rõ ràng hai
thuộc tính này; đó là giá trị sử dụng là công dụng của vật phẩm có thể thoả mãn
nhu cầu nào đó của con người; còn giá trị là lao động xã hội thể hiện và vật hoá
trong hàng hoá. Giá trị và giá trị sử dụng là hai thuộc tính cùng tồn tại và thống

công lao động xã hội, hàng hoá được đưa ra trao đổi thường xuyên hơn. Nhu cầu
trao đổi do đó trở nên phức tạp hơn, người có vải muốn đổi thóc, nhưng người
có thóc lại không cần vải mà lại cần thứ khác. Vì thế, việc trao đổi trực tiếp
không còn thích hợp và gây trở ngại cho trao đổi. Trong tình hình đó, người ta
phải đi vòng, mang hàng hoá của mình đổi lấy thứ hàng hoá mà nó được nhiều
người ưa chuộng, rồi đem đổi lấy thứ hàng hoá mà mình cần. Khi vật trung gian
trong trao đổi được cố định lại ở thứ hàng hoá được nhiều người ưa chuộng , thì
hình thái chung xuất hiện. Các địa phương khác nhau thì hàng hoá dùng làm vật
ngang giá chung cũng khác nhau. Hình thái tiền tệ: tiền tệ là một hàng hoá đặc
biệt được tách ra từ trong thế giới hàng hoá làm vật ngang giá chung thống nhất;
nó thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất
hàng hoá.
Mác chỉ ra ảnh hưởng khác nhau tới lượng giá trị hàng hoá của lao động
giản đơn và lao động phức tạp: “Lao động phức tạp chỉ là lao động giản đơn
được nâng lên luỹ thừa, hay nói cho đúng hơn, là lao động giản đơn được nhân
lên, thành thử một lượng lao động phức tạp nhỏ hơn thì tương đương với 1
lượng lao động giản đơn lớn hơn”. Vì vậy, khi trao đổi người ta lấy lao động
giản đơn làm đơn vị tính toán và quy tất cả những lao động phức tạp thành lao
động giản đơn.
Mác là người đầu tiên vạch rõ nguồn gốc, bản chất của tiền; theo Mác, sự
xuất hiện của tiền là do quá trình phát triển lâu dài của sản xuất và trao đổi hàng
hóa , chứ không phải do dấu hiệu ước định hay do bản chất của vàng làm nó trở
thành tiền tệ. Đồng thời Mác còn vạch ra năm chức năng của tiền, đó là: chức
18
năng thước đo giá trị; chức năng phương tiện lưu thông; chức năng phương tiện
cất trữ, chức năng phương tiện thanh toán và chức năng tiền tệ thế giới.
Lý luận về giá cả hàng hoá, ông cho rằng giá cả thị trường lên xuống xoay
quanh giá trị hàng hoá và trở thành cơ chế tác động của quy luật giá trị. Cơ chế
này phát sinh tác dụng trên thị trường thông qua cạnh tranh, cung – cầu, sức mua
của đồng tiền.

thu hẹp quy mô sản xuất lại hoặc chuyển sang đầu tư vào ngành có giá cả hàng
hoá cao.
Trong quá trình lưu thông hàng hoá: Điều tiết lưu thông của giá trị cũng
thông qua giá cả trên thị trường. Sự biến động của giá cả thị trường cũng do tác
dụng thu hút luồng hàng từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao, do đó làm cho lưu
thông hàng hoá thông suốt.
Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao động,
lực lượng sản xuất xã hội phát triển nhanh
Người sản xuất phải hạ thấp chi phí cá biệt: Do điều kiện sản xuất khác
nhau nên hao phí lao động cá biệt khác nhau, người sản xuất nào có hao phí lao
động cá biệt nhỏ hơn hao phí lao động xã hội của hàng hoá ở thế có lợi, sẽ thu
được lãi cao và ngược lại. Để giành lợi thế trong cạnh tranh và tránh nguy cơ vỡ
nợ, phá sản, họ phải hạ thấp hao phí lao động cá biệt của mình, sao cho bằng hao
phí lao động xã hội cần thiết.
Thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển: để có lợi thế họ phải tìm cách cải
tiến kỹ thuật, cải tiến tổ chức quản lý, thực hiện tiết kiệm chặt chẽ, tăng năng
suất lao động. Sự cạnh tranh quyết liệt càng thúc đẩy quá trình này diễn ra mạnh
mẽ hơn, mang tính xã hội, kết quả là lực lượng sản xuất xã hội được thúc đẩy
phát triển mạnh mẽ.
Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hoá người sản xuất hàng hoá
thành kẻ giàu người nghèo
Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên: quá trình cạnh tranh theo đuổi giá trị tất
yếu dẫn đến kết qủa là: những người có điều kiện sản xuất thuận lợi, có trình độ,
kiến thức cao, trang bị kỹ thuật tốt nên có hao phí lao động cá biệt thấp hơn hao
phí lao động xã hội cần thiết, nhờ đó giàu lên nhanh chóng. Họ mua sắm thêm tư
liệu sản xuất, mở rộng kinh doanh. Ngược lại những người không có điều kiện
20
thuận lợi làm ăm thua kém, hoặc gặp rủi ro trong kinh doanh nên bị thua lỗ dẫn
tới phá sản trở thành nghèo khó.
Phân hoá xã hội thành kẻ giàu người nghèo: xã hội bị phân hoá thành kẻ

đáng ba câu hỏi: sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào. Trên
thị trường hàng hoá và dịch vụ, giá cả điều tiết cung cầu.
Trong những năm qua, nhờ sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước. Nhà nước Việt
Nam quản lý nền kinh tế thị trường trước hết đã dựa trên những yêu cầu khách
quan của các quy luật kinh tế thị trường mà trong đó có giá trị. Nhà nước thiết
lập khuôn khổ pháp luật và Đảng đề ra những nghị quyết nhằm tạo điều kiện cần
thiết để vận dụng giá trị. Những quy định đó chi phối hoạt động của các doanh
nghiệp, điều chỉnh hành vi kinh tế của họ. Nhà nước định hướng cho sự phát
triển kinh tế và thực hiện điều tiết các hoạt động kinh tế nhằm đảm bảo cho giá
trị được phát huy tác dụng để ổn định nền kinh tế. Nhà nước xây dựng các chiến
lược và quy hoạch phát triển, trực tiếp đầu tư vào một số lĩnh vực để dẫn dắt nền
kinh tế - xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế. Nhà nước đảm bảo cho nền
kinh tế hoạt động có hiệu quả theo giá trị - kích thích hoạt động của chủ thể
kinh tế và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tự do của họ. Do đó làm cho
nền kinh tế phát triển năng động, có hiệu quả. Nhờ đó, nền kinh tế nước ta đã có
những thành tựu đáng kể:
Tạo sự thích ứng tự phát giữa khối lượng và cơ cấu của sản xuất (tổng
cung) với khối lượng và cơ cấu nhu cầu của xã hội (tổng cầu). Nhờ đó ta có thể
thoả mãn tốt nhu cầu tiêu dùng cá nhân về hàng ngàn, hàng vạn sản phẩm khác
nhau. Nhiệm vụ này nếu để Nhà nước làm sẽ phải thực hiện một số công việc
lớn, có khi không thực hiện được và đòi hỏi chi phí cao trong quá trình ra các
quyết định.
Kích thích đổi mới kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất. Sức ép của cạnh tranh
buộc những người sản xuất phải giảm chi phí sản xuất cá biệt đến mức tối thiểu
bằng cách áp dụng phương pháp sản xuất tốt nhất như không ngừng đổi mới kỹ
thuật và công nghệ sản xuất, đổi mới sản xuất, đổi mới tổ chức sản xuất và quản
lý kinh doanh, nân cao hiệu quả.
Thực hiện phân phối nguồn lực một cách tối ưu. Trong nền kinh tế thị
trường với sự hoạt động mạnh mẽ của giá trị, việc lưu động, di chuyển phân
phối các yếu tố sản xuất, vốn đều tuân theo nguyên tắc của thị trường; chúng sẽ

hoá - dịch vụ đã hình thành nhưng còn hạn hẹp và còn nhiều hiện tượng tiêu
cực (hàng giả, hàng nhập lậu, hàng nhái nhãn hiệu) vẫn làm rối loạn thị trường.
23
Thị trường hàng hoá sức lao động mới manh nha, một số trung tâm giới thiệu
việc làm và xuất khẩu lao động mới xuất hiện nhưng đã nảy sinh hiện tượng
khủng hoảng. Nét nổi bật của thị trường này là sức cung về lao động lành nghề
nhỏ hơn cầu rất nhiều, trong khi đó cung về sức lao động giản đơn lại vượt quá
cầu, nhiều người có sức lao động không tìm được việc làm. Thị trường tiền tệ,
thị trường vốn đã có nhiều tiến bộ nhưng vẫn còn nhiều trắc trở.
Sự cạnh tranh không hoàn hảo, do sự vận dụng giá trị còn chưa được hiệu
quả nên vẫn xuất hiện độc quyền.
Hiệu quả kinh tế xã hội không được đảm bảo do mục đích của các chủ thể
kinh tế là lợi nhuận tối đa; họ lạm dụng tài nguyên và gây ô nhiễm môi trường
sống.
Phân phối thu nhập không công bằng, dưới tác dụng của giá trị sẽ có sự
phân chia kẻ giàu người nghèo nhưng do sự vận dụng còn bị hạn chế nên không
đem lại được sự công bằng cho mọi người dân bằng các chính sách trợ giúp xã
hội.
Không thể tránh khỏi khủng hoảng kinh tế chu kỳ và thất nghiệp, tỷ lệ thất
nghiệp và lạm phát ở nước ta còn tương đối cao (năm 2011 lạm phát lên đến
18,12%; năm 2012 lạm phát 6,81%).
Trình độ phát triển của nền kinh tế thị trường ở nước ta thấp; kết cấu hạ
tầng cơ sở vật chất kỹ thuật kém. Nước ta còn nghèo nhưng chưa thực hiện tốt
cần kiệm trong sản xuất, tiết kiệm trong tiêu dùng, tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế
và đầu tư cho phát triển còn thấp
Do đó, trong thời gian tới, cần có những giải pháp cơ bản nhằm vận dụng
tốt hơn lý luận giá trị để phát triển kinh tế ở nước ta như:
Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, đẩy mạnh cơ chế quản lý, phát triển
kinh tế thị trường: Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, ứng dụng nhanh
tiến bộ khoa học – công nghệ. Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại.

hoạch và kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch; rà soát, bổ sung, điều
chỉnh các quy hoạch và triển khai lập các quy hoạch mới theo yêu cầu điều
chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển của đất nước.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status