QLNN về MT các KCN – Nhóm I – KH8G
MỞ ĐẦU
Môi trường có vai trò hết sức quan trọng trong việc đảm bảo sự tồn tại
và phát triển của nền kinh tế - xã hội cũng như sự sống của con người, đặc biệt
là môi trường tự nhiên, bởi đó là: không gian sống của con người; nơi hình
thành, tích lũy và cung cấp tài nguyên thiên nhiên cho đầu vào sản xuất, tiện
nghi sinh hoạt cho con người; nơi chứa đựng và đồng hóa chất thải sản xuất và
sinh hoạt do con người thải ra... Với vai trò quan trọng như vậy, vấn đề môi
trường và bảo vệ môi trường ngày càng được quan tâm ở hầu hết các quốc gia
trên thế giới, nhất là trong thời đại hiện nay khi vấn đề biến đổi khí hậu cũng
như những tác hại của ô nhiễm môi trường đang đe dọa nghiêm trọng đến sự
sống của loài người nói chung.
Ở Việt Nam, quá trình đổi mới đất nước và thực hiện tiến trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong những năm qua đã đạt được nhiều thành
tựu đáng kể, góp phần không nhỏ vào việc nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân, thay đổi mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội đất nước. Công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được xem là một quá trình tất yếu trong việc
phát triển kinh tế - xã hội bởi nó góp phần quan trọng trong việc thay đổi cơ cấu
kinh tế, quan hệ xã hội và đáp ứng các nhu cầu con người theo hướng phát triển,
hiện đại. Tuy nhiên, bên cạnh những ảnh hưởng tích cực, điều này cũng đồng
nghĩa với việc số lượng các nguồn gây ô nhiễm, tác động xấu lên môi trường
ngày càng có xu hướng gia tăng và tạo nên những sức ép rất lớn lên khả năng
chịu tải ô nhiễm của môi trường, làm cho môi trường Việt Nam suy giảm nhanh
chóng, nhiều nơi ô nhiễm đã ở mức báo động. Trong đó, số lượng các KCN tăng
lên một cách ồ ạt theo tốc độ công nghiệp hóa mà không có sự kiểm soát và gắn
chặt với vấn đề bảo vệ môi trường cũng chính là một trong những nguyên nhân
gây tổn hại nghiêm trọng tới môi trường sinh thái. Nước thải, rác thải, khí
thải… của các KCN đang từng ngày, từng giờ hủy hoại môi trường sống của
người dân; làm tổn hại tới sức khỏe, đời sống, hiệu quả sản xuất kinh tế…
Nhà nước có chức năng quản lý trên tất cả các lĩnh vực trong đó có lĩnh
vực quản lý môi trường và môi trường KCN. Bằng những công cụ, biện pháp
vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa
lý xác định được thành lập theo điều kiện trình tự thủ tục áp dụng đối với
KCN đã quy định.
KCN và KCX được gọi chung là KCN trừ trường hợp quy định riêng đặc biệt.
2. Sự hình thành và phát triển của các KCN
Bắt đầu được xây dựng từ năm 1991, tính tới năm 2009 Việt Nam đã
thành lập được 223 KCN với tổng diện tích là 57.264 ha. Phân bố tại 56/64 tỉnh
thành phố trực thuộc TW. Trong số 223 KCN hiện nay của nước ta, có 171 KCN
đã đi vào hoạt động, 52 KCN đang trong quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ
thuật. Tỷ lệ lấp đầy các KCN đạt khoảng 46% với tổng diện tích 17.107 ha đất
công nghiệp đã cho thuê.
3. Sự phân bố của các KCN
Tình hình phân bố các KCN của nước ta là không đều, nhìn chung những
năm gần đây có sự điều chỉnh theo hướng tạo điều kiện cho một số địa bàn khó
khăn như trung du miền núi phía Bắc (Tuyên Quang, Hòa Bình, Bắc Kạn…)
hay Tây Nguyên (Đăk Lăk, Gia Lai, Kon Tum…), Tây Nam Bộ (Hậu Giang, An
Giang, Sóc Trăng…) nhằm chuyển dịch kinh tế song chủ yếu các KCN vẫn tập
trung chủ yếu tại 23 tỉnh, thành phố thuộc 4 vùng kinh tế trọng điểm là: Vùng
KTTĐ Bắc Bộ, Vùng KTTĐ miền Trung, vùng KTTĐ phía Nam và vùng
KTTĐ vùng ĐB S.Cửu Long. Do mức độ tập trung quá lớn tại một số vùng
3
QLNN về MT các KCN – Nhóm I – KH8G
KTTĐ này đang là một trở ngại đối với phát triển kinh tế các vùng miền, đặc
biệt là sức ép của các KCN tập trung lên môi trường.
4. Xu hướng phát triển của các KCN
Xu hướng phát triển KCN Việt Nam được thể hiện cụ thể trong quyết
định số 1107/2006/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch phát triển KCN Việt Nam đến
năm 2015 và định hướng tới năm 2020. Hình thành hệ thống KCN có vai trò
chủ đạo dẫn dắt phát triển công nghiệp quốc gia, hình thành các KCN với quy
mô hợp lý tạo điều kiện phát triển công nghiệp nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh
sinh học.
Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại
mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai
trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã
hội và bảo vệ môi trường.
III. MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN KCN VÀ BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG
1. Mối quan hệ
Phát triển các KCN cũng chính là một bộ phận của sự phát triển. Chính
sự phát triển các KCN góp phần phát triển kinh tế xã hội của quốc gia. Nâng
cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Sự phát triển của các KCN đặt
trong một môi trường cụ thể. Nếu môi trường thuận lợi thì việc phát triển công
nghiệp diển ra dễ dàng và mang lại hiệu quả cao. Chính sự phát triển của các
KCN cũng chính là nhân tố tạo ra những biến đổi của các thành tố môi trường.
Tác động của phát triển KCN đến môi trường thể hiện ở khía cạnh có lợi
là cải tạo môi trường tự nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần thiết cho sự cải tạo đó,
nhưng có thể gây ra ô nhiễm môi trường. Mặt khác, môi trường đồng thời cũng
tác động đến sự phát triển kinh tế xã hội thông qua việc làm suy thoái nguồn tài
nguyên đang là đối tượng của hoạt động phát triển KCN hoặc gây ra thảm hoạ,
thiên tai đối với các hoạt động sản xuất.
2. Nguyên tắc bảo vệ môi trường.
Những nguyên tắc bảo vệ môi trường nói chung cũng chính là nguyên tắc
cần tuân theo khi tiến hành hoạt động bảo vệ môi trường tại các KCN ở nước ta
hiện nay. Gồm 5 nguyên tắc sau:
- Bảo vệ môi trường phải gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế và bảo đảm
tiến bộ xã hội để phát triển bền vững đất nước; bảo vệ môi trường quốc
gia phải gắn với bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu.
5
QLNN về MT các KCN – Nhóm I – KH8G
- Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn xã hội, quyền và trách nhiệm
1. Khái niệm quản lý
Quản lý là hoạt động tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên đối
tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý.
2. Quản lý nhà nước về môi trường
6
QLNN về MT các KCN – Nhóm I – KH8G
Quản lý nhà nước về môi trường là tổng hợp các biện pháp: pháp luật,
chính sách, kinh tế, xã hội…nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát
triển bền vững kinh tế - xã hội quốc gia.
3. Quản lý nhà nước về môi trường KCN
Quản lý nhà nước về môi trường KCN là tổng hợp các biện pháp: pháp
luật, chính sách, kinh tế, xã hội…nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và
phát triển các KCN một các bền vững.
4. Nội dung quản lý nhà nước về môi trường KCN
Luật bảo vệ môi trường quy định chung về bảo vệ môi trường gồm 10 nội
dung cụ thể. Và quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường các KCN cũng tuân
theo những nội dung đó nhưng sẽ áp dụng trong phạm vi các KCN và các hoạt
động liên quan đối tới các hoạt động của các KCN. Nội dung cụ thể như sau:
- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về bảo vệ môi
trường, ban hành hệ thống tiêu chuẩn về môi trường tại các KCN
- Xây dựng chỉ đạo thực hiện những chiến lược , chính sách bảo vệ môi
trường, chống khắc phục những suy thoái môi trường, ô nhiễm môi
trường, sự cố môi trường tại các KCN.
- Xây dựng , quản lý những công trình bảo vệ môi trừng có liên quan đến
bảo vệ môi trường KCN.
- Tổ chức,xây dựng , quản lý hệ thống quan trắc địa, định kỳ định giá hiện
trạng môi trường và dự báo môi trường KCN.
- Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường cảu các dự án và cơ sở
sản xuất kinh doanh tại các KCN.
- Cấp, thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trương cho các cơ sở sản
các KCN phát triển theo hướng đa ngành nghề, đa lĩnh vực nếu như công tác
bảo vệ môi trường không được chú trọng thì chính lượng rác thải tại các KCN
đang là nguồn xả thải gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tới sức khỏe, đời
sống sinh hoạt, môi trường sinh thái, hoạt động sản xuất của người dân xung
quanh các KCN.
1. Nước thải tại các KCN
• Đặc trưng nước thải các KCN
Thành phần nước thải của các KCN rất đa dạng, chủ yếu là các chất lơ
lửng (SS), chất hữu cơ(thể hiện qua hàm lượng BOD, COD), chất dầu mỡ ( biểu
hiện qua tổng hàm lượng Nitơ và phốtpho) một số chất kim loại nặng. Những
chất này nếu không đạt tiêu chuẩn mà xả thải ra môi trường sẽ gây ảnh hưởng
tới môi trường nước và trực tiếp là các con sông đón nhận các dòng xả thải này.
• Tình trạng môi trường nước
Tổng lượng nước thải thải ra của các KCN ước tính khoảng 1 triệu
m
3
/ngày. Trong đó có tới 70% xả thải trực tiếp ra các nguồn nhận thải không
qua xử lý đang gây ô nhiễm môi trường nước mặt, những nguồn nước mặt nhận
thải đã bắt đầu suy thoái. Lượng nước thải đều có thông số ô nhiễm cao hơn
nhiều so với QCVN.
Hàm lượng các chất lơ lửng trong nước thải công nghiệp thường xuyên
vượt ngưỡng quy chuẩn như KCN Hòa Khánh vượt 2 lần, KCN Điện Nam _
Điện Ngọc vượt mức tới 10 lần, có nơi tới hàng trăm lần tại các KCN thuộc Đà
Nẵng.
Hàm lượng BOD và COD những năm nay đã được giảm đáng kể nhờ
việc lắp đặt hệ thống xử lý nước thải tập trung như: KCN Tiên Sơn – Bắc Ninh.
Tuy nhiên một số KCN vẫn còn vi phạm quy chuẩn này như KCN Liên Chiểu-
Đà Nẵng.
9
QLNN về MT các KCN – Nhóm I – KH8G
2
.VOC
s
,…)…
• Tình trạng khí thải công nghiệp
Khí thải thải ra từ các KCN khác nhau và tập trung phát thải lượng khí
thải ô nhiễm môi trường nhiều nhất là tại vùng KTTĐ phía Nam, tiếp đến là
KTTĐ Bắc Bộ,… và cuối cùng là KTTĐ vùng ĐB S. Cửu Long.
Theo kết quả quan trắc, môi trường xung quanh các KCN tương đối là
tốt, số liệu quan trắc đạt tiêu QCVN. Chủ yếu tình trạng ô nhiễm môi trường
do khí thải xuất phát từ những KCN cũ, sử dụng những công nghệ lạc hậu và
không lắp đặt hệ thống xử lý chất thải. Chủ yếu là ô nhiễm do bụi, CO
2
, CO
và ô nhiễm tiếng ồn.
Về hàm lượng bụi thì thường bị ô nhiễm nặng vào mùa khô và những
KCN đang xây dựng.
10