DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BPP Người hưởng thụ phải trả tiền
PPP Người gây ô nhiễm phải trả tiền
CAC Mệnh lệnh và kiểm soát
CCKT Công cụ kinh tế
BVMT Bảo vệ môi trường
QLMT Quản lý môi trường
DN Doang nghiệp
QH Quốc hội
VPHC Vi phạm hành chính
CN Công nghiệp
NSNN Ngân sách nhà nước
UBND Ủy ban nhân dân
BTC Bộ tài chính
TM – DV Thương mại – dịch vụ
NN Nông nghiệp
TNMT Tài nguyên môi trường
KT – XH Kinh tế - xã hội
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
SXCN Sản xuất công nghiệp
QCVN Quy chuẩn việt nam
TCVN Tiêu chuẩn việt nam
TP Thành phố
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp……………………………… 38
Bảng 3.2. Khối lượng rác thải phát sinh năm 2013………………………… 47
Bảng 3.3. Thực trạng nộp phí thu gom rác thải sinh hoạt………………… 48
Bảng 3.4. Thống kê số hộ gia đình thực hiện nộp phí thu gom rác thải sinh
hoạt …………………………………………………………………………. 49
1.6.1. Thuế tài nguyên …………………………………………………… 18
1.6.2. Thuế môi trường…………………………………………………… 19
1.6.3. Phí và lệ phí………………………………………………………… 20
1.6.4. Ký quỹ bảo vệ môi trường…………………………………………. 23
1.6.5. Trợ cấp môi trường………………………………………………… 24
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU ……………………………………………………………………… 25
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu …………………………………… 25
2.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ……………………………………… 25
2.3 Nội dung nghiên cứu ………………………………………………… 25
2.4. Phương pháp nghiên cứu …………………………………………… 25
2.4.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp ………………………………. 25
2.4.2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp ……………………………… 26
Chương 3: KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC …………………………………… 27
3.1. Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội của thành phố Thái Nguyên …… 27
3.1.1. Điều kiện tự nhiên …………………………………… 27
3.1.1.1. Vị trí địa lý ……………………………………………………… 27
3.1.1.2. Địa hình địa mạo …………………………………………………. 28
3.1.1.3. Khí hậu …………………………………………………………… 28
3.1.1.4. Thủy văn ……………………………………………………… 29
3.1.1.5. Các nguồn tài nguyên………………………………………… 30
3.1.1.6. Thực trạng môi trường ………………………………………… 31
3.1.2. Thực trạng phát triển kinh tế, xã hội …………………… 32
3.1.2.1. Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ……… 32
3.1.2.2. Kết quả thực hiện trên từng lĩnh vực cụ thể …………… 34
3.1.2.3. Dân số, lao động, việc làm và thu nhập ………………. 43
3.2.Thực trạng áp dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường trên địa
bàn thành phố Thái Nguyên …………………………………………… 44
3.2.1. Thuế môi trường ………………………………………………… 44
3.2.2. Các loại phí ……………………………………………………… 45
cũng đã được áp dụng một các rộng rãi, đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế
thị trường.
Việt nam hiện nay đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, do đó phải đối mặt
với những thách thức lớn về bảo vệ môi trường. Quá trình đô thị hóa diễn ra
mạnh mẽ kéo theo đó là những tồn tại về môi trường. Các chất thải ngày càng
tăng lên cả về khối lượng và mức độ nguy hại. Tình trạng này ở các thành phố
lại càng đáng báo động. Nồng độ các chất độc hại có trong đất, nước, không
khí vượt quá tiêu chuẩn cho phép gây ảnh hưởng tới sức khỏe người dân.
Thành phố Thái Nguyên với vị thế là trung tâm của sự phát triển của tỉnh cũng
không tránh được những hệ quả về suy thoái môi trường do các hoạt động
sinh sống, hoạt động sản xuất công nghiệp Do đó cần thiết phải tiến hành
quản lý môi trường bằng các biện pháp kinh tế, bởi các công cụ kinh tế tiếp
cận môi trường một cách linh hoạt, hiệu quả và kinh tế, nó cho phép các
doanh nghiệp lựa chọn phương án tối ưu đáp ứng các yêu cầu về môi trường.
Hiện tại, thành phố Thái Nguyên đã bước đầu áp dụng các công cụ kinh tế và
thu được những kết quả nhất định. Để đánh giá công tác áp dụng các biện
pháp kinh tế vào trong quản lý môi trường nên em đã lựa chọn đề tài “Đánh
giá tình hình thực hiện các công cụ kinh tế trong quản lý nhà nước về môi
trường theo luật bảo vệ môi trường năm 2005 tại thành phố Thái Nguyên –
tỉnh Thái Nguyên”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích thực trạng áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi
trường vào thực tế, cụ thể trên địa bàn thành phố Thái Nguyên.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng công cụ
kinh tế trong quản lý môi trường.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: áp dụng các công cụ kinh tế trong công tác
quản lý môi trường. Đời sống kinh tế của các hộ dân tại thành phố Thái
Nguyên.
- Phạm vi nghiên cứu: địa bàn thành phố Thái Nguyên.
- Chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến
năm 2020.
- Tiêu chuẩn việt nam TCVN 5502:2003 nước cấp sinh hoạt- yêu cầu
chất lượng.
- Căn cứ Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 được Quốc hội nước
CHXHCN Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21/6/2012.
- Căn cứ Quyết định số 45/QĐ-TTg ngày 20/8/2013 về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Căn cứ Quyết định sô 13/QĐ-XPHC ngày 18/4/2013 về xử phạt vi
phạm hành chính trong BVMT.
- Căn cứ quyết định số 14/QĐ-XPHC ngày 25/4/2013 về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Căn cứ quyết định số 04/QĐ- VPHC ngày 25/01/2013 và Quyết định
số 35/QĐ –VPHC ngày 30/6/2013 về xử phạt vi phậm hành chính trong bảo
vệ môi trường.
- QCVN 24:2009/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải
công nghiệp.
1.1.2. Cơ sở thực tiễn
Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Việt Nam
phải giải quyết cùng một lúc hai vấn đề: nhằm đạt được mục tiêu phát triển
bền vững là kiểm soát được mức độ ô nhiễm ngày càng tăng do công nghiệp
hóa và đô thị hóa, đồng thời phải có được những chính sách giảm tối đa chi
phí cho bảo vệ môi trường cả từ phía doanh nghiệp lẫn Nhà nước trên cơ sở
công bằng xã hội. Để đáp ứng được các yêu cầu đó thì việc tìm kiếm các biện
pháp cũng như công cụ kinh tế cần áp dụng là cần thiết. Thực tế nghiên cứu
và áp dụng cho thấy một số công cụ có thể tạo ra rất hữu hiệu trong việc đảm
bảo được mục tiêu bảo vệ môi trường nhưng lại gây nhiều tốn kém cho doanh
nghiệp, ngược lại một số công cụ khác có thể giảm được chi phí nhưng chưa
chắc đã đảm bảo được tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường đã đặt ra. Một số công
cụ có thể có hiệu quả nhưng lại phụ thuộc quá nhiều vào khả năng của các cơ
tới môi trường, tăng cường ý thức trách nhiệm trước việc hủy hoại môi
trường.
Công cụ kinh tế sử dụng sức mạnh thị trường để ra các quyết định nhằm
đạt tới các mục tiêu môi trường, từ đó sẽ có cách ứng xử hiệu quả chi phí
cho BVMT.
Công cụ kinh tế đơn giản là con đường mà Chính phủ có thể thay đổi
hành vi ứng xử của mọi người thông qua việc lựa chọn những phương thức
kinh tế khác nhau hoặc giảm thiểu chi phí trên thị trường nhằm mục tiêu
môi trường.
Công cụ kinh tế là biện pháp cung cấp những tín hiệu thị trường để giúp
cho những người ra quyết định ghi nhận hậu quả môi trường trong việc lựa
chọn của họ.
Trong tất cả các định nghĩa trên ta có thể rút ra hai đặc điểm cơ bản để
làm sáng tỏ thêm nội dung của công cụ kinh tế của phương tiện chính sách:
Công cụ kinh tế hoạt động thông qua giá cả, chúng nâng giá của các
hành động làm tổn hại đến môi trường lên hoặc hạ giá hành động BVMT
xuống.
Công cụ kinh tế dành khả năng lựa chọn cho các công ty và cá nhân
hành động sao cho phù hợp với điều kiện của họ.
Như vậy, công cụ kinh tế tương phản thường xuyên với các quy định “
Mệnh lệnh và kiểm soát” ( CAC ). Đó là hai mặt của phương tiện chính
sách CAC được tiến hành thông qua cơ chế ra lệnh cho các hành động môi
trường hoặc xác đinh những hậu quả môi trường nếu không tuân thủ các
quy chế đã ban hành. Ngược lại, các công cụ kinh tế duy trì một tập hợp
tương đối rộng rãi các hành động môi trường mang tính pháp lý, nhưng có
xác định hậu quả khác nhau đối với những sự lựa chọn khác nhau. Chúng
vẫn cần bắt buộc phục tùng với hậu quả xảy ra.
Ví dụ, có một tiêu chuẩn phát thải nào đó nằm trong một quy định điều
hành và kiểm sát. Quy định pháp lý yêu cầu người gây ô nhiễm phải đáp
ứng tiêu chuẩn phát thải. Nếu những người gây ô nhiễm không tuân thủ
đó cũng như nhiều nước trên thế giới, nhà nước ta đã áp dụng các công cụ hữu
hiệu, trong đó công cụ kinh tế đóng vai trò quan trọng.
Xét cả về lý luận và thực tiễn, bất kỳ nền kinh tế nào cũng cần có vai
trò quản lý của nhà nước. Nền kinh tế thị trường với sự đa dạng về các chủ
thể, các quan hệ kinh tế nhất là từ khi nhà nước ta mở cửa nền kinh tế thì các
nhà đầu tư nước ngoài đã ồ ạt đầu tư và Việt Nam. Điều này đã làm cho sự đa
dạng về chủ thể cần quản lý cũng như bảo vệ và quản lý môi trường của nhà
nước đối với các chủ thể này. Sự đa dạng về phương thức kinh tế, hình thức
pháp lý… cùng với xu hướng tìm kiếm tối đa lợi nhuận đã ảnh hưởng không
nhỏ đến nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Để thực hiện được chức
năng của mình trong quản lý và bảo vệ môi trường, cũng như các lĩnh vực
khác Nhà nước không thể không sử dụng công cụ hữu hiệu nhất của mình đó
là pháp luật hay cụ thể hơn đó là pháp luật về môi trường. Với tư cách là một
hệ thống các quy phạm điều chỉnh hành vi xử sự của con người, pháp luật môi
trường đóng vai trò lớn trong việc quản lý và bảo vệ môi trường. Pháp luật
quy định các quy tắc xử sự và buộc mọi người phải tuân theo khi khai thác sử
dụng các thành phần môi trường. Ngoài ra pháp luật môi trường còn có những
quy định cấm tác động đến một số thành phần môi trường… Nó thể hiện quan
điểm của Nhà nước trong việc khuyến khích các chủ thể tham gia quản lý và
BVMT. Pháp luật môi trường cũng quy định những chức năng quyền hạn của
các cơ quan quản lý và bảo vệ môi trường. Pháp luật môi trường muốn thực
thi và đạt hiệu quả cao thì không thể thiếu các công cụ kinh tế tác động đến.
Bởi vì pháp luật môi trường đơn thuần là các “mệnh lệnh – kiểm tra” mà thôi.
Pháp luật quy định các quy tắc xử sự và buộc họ phải tuân theo, đồng thời nếu
đơn thuần chỉ dựa vào công cụ pháp luật thì cơ quan quản lý và BVMT cũng
chỉ đến mức kiểm tra và khi các tổ chức, cá nhân có hành vi sai phạm cũng chỉ
chịu trách nhiệm hành chính hoặc hình sự hoặc các hình thức khác. Như vậy
thì hậu quả môi trường đã xảy ra rồi, công cụ kinh tế chính là biện pháp phòng
ngừa việc gây ô nhiễm môi trường cũng như suy thoái môi trường. Hơn nữa
điều này nó buộc đối với các doanh nghiệp, các doanh nghiệp buộc phải tuân
dựa và nguồn tài nguyên nhiên nhiên thì việc đánh giá các nguồn tài
nguyên môi trường là một công cụ chủ chốt cho phát triển bền vững.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, vai trò của các công cụ kinh tế trong
quản lý và bảo vệ môi trường ở Việt Nam có khác nhau trong mỗi giai đoạn
phát triển nền kinh tế đất nước. Nhìn chung tác dụng của công cụ kinh tế được
thể hiện rõ rệt từ khi Việt Nam áp dụng nền kinh tế thị trường và trong quá
trình hội nhập nền kinh tế hiện nay.
1.4. Các nguyên tắc cơ bản trong việc sử dụng các công cụ kinh tế
Công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường được áp dụng dựa trên hai
nguyên tắc cơ bản đã được quốc tế thừa nhận đó là: “Người gây ô nhiễm phải
trả tiền” và “người hưởng thụ phải trả tiền”.
1.4.1. Nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền - PPP”
Bắt nguồn từ các sáng kiến do Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển
(OCED) đề xuất hợp tác vào năm 1972 và 1974. Nguyên tắc này xuất phát từ
những luận điểm của Pigon về nền kinh tế phúc lợi. Trong đó, nội dung quan
trọng nhất là một nền kinh tế lý tưởng là giá cả các loại hàng hóa và dịch vụ
có thể phản ánh đầy đủ các chi phí xã hội, kể cả chi phí môi trường (bao gồm
các chi phí chống ô nhiễm, khai thác tài nguyên cũng như dạng ảnh hưởng
khác tới môi trường). Giá cả phải “nói lên sự thật” về những chi phí sản xuất
và tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ. Nếu không, sẽ dẫn đến việc sử dụng bừa bãi
các nguồn tài nguyên, làm cho ô nhiễm trở nên trầm trọng hơn so với mức tối
ưu đối với xã hội.
“Người gây ô nhiễm phải trả tiền” có nghĩa là buộc người gây ô nhiễm
(doanh nghiệp, cá nhân hay chính quyền) phải trả hoàn toàn các chi phí về sự
phá hoại môi trường do hoạt động của họ gây ra. Điều này sẽ khuyến khích
người ta giảm sự phá hoại đó, ít ra cũng ở mức mà chi phí biên của việc giảm
ô nhiễm bằng chi phí biên của sự tổn hại do ô nhiễm đó gây ra. Phương pháp
sử dụng các công cụ kinh tế nhấn mạnh lợi ích của các công cụ kinh tế được
dùng để thay đổi thái độ của con người thông qua cơ chế về giá cả.
Muốn vậy thì tổng chi phí ra một hàng hóa hay dịch vụ bao gồm chi phí
nhiễm.
Mặc dù ngay từ đầu thập kỷ 30, nhà kinh tế học theo trường phái cổ
điển Pigon đã đề cập đến ý tưởng và các tác động ngoại ứng và ảnh hưởng lan
tỏa của các hoạt động kinh tế. Đến giữa thập kỷ 60, khi ô nhiễm môi trường
đã trở thành mối đe dọa nghiêm trọng đối với đời sống phúc lợi của con người
thì ý tưởng này mới được các nhà kinh tế học đặc biệt chú ý nhằm nỗ lực tìm
kiếm các công cụ hữu hiệu để giảm bớt nạn ô nhiễm trong đó có công cụ kinh
tế.
Trên thế giới đã áp dụng thành công và có hiệu quả, Việt nam đã bắt
đầu áp dụng và dần được mở rộng đối với các loại công cụ kinh tế khác. Kinh
nghiệm cho thấy rằng một chính sách nếu không được xây dựng với sự cân
nhắc và tính toán đầy đủ sẽ có ít hiệu lực và không đem lại kết quả như mong
muốn. Nếu nóng vội muốn áp dụng ngay một hệ thống các công cụ kinh tế
hoàn chỉnh như một số nước trong khi bộ máy quản lý của của nước ta chưa
có đủ năng lực để điều tiết và kiểm soát thì rõ ràng là hệ thống công cụ kinh tế
này sẽ khó được thực hiện hết và có hiệu quả cao.
1.5. Thực trạng áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường
trên thế giới và kinh nghiệm áp dụng thực tiễn ở Việt Nam
Công cụ kinh tế là phương tiện chính sách có tác dụng làm thay đổi chi phí và
lợi ích của những hoạt động kinh tế thường xuyên tác động tới môi trường
nhằm mục đích tăng cường ý thức trách nhiệm trước việc gây ra sự hủy hoại
môi trường.
*- Thuế, phí và lệ phí môi trường
- Thuế môi trường: Là khoản thu vào ngân sách nhà nước, nhằm điều tiết các
hoạt động môi trường Quốc gia, bù đắp các chi phí mà xã hội bỏ ra để giải
quyết các vấn đề như: chi phí phục hồi môi trường, chi phí xử lý và ngăn ngừa
ô nhiễm.
Nguyên tắc tính thuế môi trường:
- Người gây ô nhiễm phải trả tiền.
Phân loại thuế môi trường:
Phí BVMT đối với chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại
được quy định trong Nghị định 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007. Ngoài ra
phí vệ sinh được áp dụng năm 2003 theo quy định tại Thông tư số
71/2003/TT-BTC ngày 30/7/2003 của Bộ tài chính. Tuy nhiên khoản thu từ
các khoản phí này không bù đắp chi phí thu gom, xử lý chất thải rắn. Ngoài ra
các văn bản hiện tại không quy định rõ trách nhiệm thu phí của các đơn vị, tổ
chức nên việc thu phí ở các địa phương còn gặp nhiều khó khăn.
Phí BVMT đối với khai thác khoáng sản được thực hiện theo Nghị định
số 63/2008/NĐ-CP ngày 13/5/2008 của Chính phủ. Tuy nhiên, việc thu phí
còn gặp nhiều khó khăn do đối tượng phải nộp phí chưa tự giác thực hiện
nghĩa vụ này. Còn tình trạng doanh nghiệp kê khai sản lượng khai thác thấp
hơn thực tế để giảm số phí phải nộp.
*- Một số trường hợp đền bù về thiệt hại môi trường
Đền bù thiệt hại môi trường không được coi là một công cụ trong quản
lý môi trường, tuy nhiên tại Điều 7 Luật BVMT năm 2005 có quy đinh: “ tổ
chức, cá nhân gây tổn hại đến môi trường do hoạt động của mình phải bồi
thường thiệt hại theo quy định của pháp luật” và Nghị định 26/CP của Chính
phủ cũng quy định xử phạt hành chính các hành vi gây ô nhiễm môi trường.
Dưới đây là một số ví dụ về đền bù thiệt hại môi trường ở nước ta trong
giai đoạn gần đây:
- Bồi thường thiệt hại ô nhiễm môi trường do sản xuất gạch: xã Việt
Thống- huyện Quế Võ – tỉnh Bắc Ninh, có gần 100 lò gạch công
suất từ 3 vạn đến 5 vạn ở khu vực bãi bồi sông Cầu, khói từ các lò
gạch làm ảnh hưởng đến gần 100 mẫu ruộng của thôn Trung Đông
dẫn đến làm giảm sản lượng lúa. Sau khi tiến hành điều tra UBND
tỉnh đã quyết định chủ các lò gạch phải đền bù cho người dân là chủ
các ruộng bị thiệt hại lúa là 1,6 tỷ đồng.
- Công ty VEDAN đền bù thiệt hại do gây ô nhiễm môi trường sông
Thị Vải: công ty bột ngọt VEDAN do nước ngoài đầu tư xây dựng
từ năm 1995. Công ty có xây dựng hệ thống xử lý nước thải, tuy
là: hoạt động càng gây nhiều tổn thất tài nguyên và suy thoái môi trường thì
càng phải chịu mức thuế cao hơn.
Trong thực tế, người ta thường phân biệt thuế tài nguyên theo mức độ xác
định trữ lượng:
- Tài nguyên đã xác định trữ lượng: thuế được tính dựa trên trữ lượng địa
chất (hoặc trữ lượng công nghiệp) của loại tài nguyên mà doanh nghiệp được
phép khai thác.
- Tài nguyên chưa xác định được trữ lượng hoặc xác định chưa chính xác:
có thể sử dụng sản lượng khai thác làm cơ sở tính thuế trong khi chờ có thăm
dò địa chất về trữ lượng bổ sung.
Đánh giá:
Ưu điểm: áp dụng thuế tài nguyên có tác dụng lớn trong việc bổ sung cho
nguồn Ngân sách quốc gia, đồng thời thông qua việc đóng thuế tài nguyên
Nhà nước theo dõi và giám sát được việc khai thác và sử dụng tài nguyên
trong thực tế.
Nhược điểm: đối với các tài nguyên không có khả năng tái tạo, cách tính
thuế theo giá bán sản phẩm chưa phù hợp, không khuyến khích được doanh
nghiệp giảm sản lượng tài nguyên khai thác. Đồng thời điều kiện địa chất
khác nhau ở mỗi vùng do đó hiệu quả khai thác khác nhau, nếu tính cùng một
mức thuế như nhau giữa các vùng là không công bằng đối với chủ khai thác.
1.6.2. Thuế môi trường
Thuế môi trường là khoản thu của ngân sách nhà nước, nhằm điều tiết các
hoạt động bảo vệ môi trường quốc gia, bù đắp chi phí mà xã hội bỏ ra để giải
quyết các vấn đề như: chi phí y tế, chi phí mất ngày công lao động, chi phí
phục hồi môi trường, chi phí phục hồi tài nguyên, chi phí xử lý và ngăn ngừa
ô nhiễm,…
Nguyên tắc tính thuế môi trường là thuế phải lớn hơn chi phí để giải quyết
phế thải và khắc phục ô nhiễm.
Thuế môi trường là công cụ kinh tế nhằm đưa chi phí môi trường vào giá
thành sản phẩm theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”. Thuế môi
đánh thuế vào các hành vi gây ô nhiễm môi trường đòi hỏi chi phí lớn.
1.6.3. Phí và lệ phí