BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BÀI THẢO LUẬN
Học Phần Kinh Tế Môi Trường
Đề tài:
Các công cụ kinh tế, kinh nghiệm của một số
nước trên thế giới về quản lý chất thải rắn. Liên
hệ với Việt Nam qua một doanh nghiệp hoặc
một địa phương trong việc áp dụng các công cụ
kinh tế trên.
Nhóm 8
Lớp học phần: 1406
Giáo viên hướng dẫn:Nguyễn Nguyệt Nga
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
[Type the document title]
LỜI MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT
Việt Nam qua hơn 20 năm đổi mới đã đạt được những thành công lớn nhưng bên
cạnh đó cũng còn rất nhiều vấn đề cần phải giải quyết, trong đó có vấn đề về
môi trường sống. Các ngành kinh tế càng phát triển thì vấn đề về giải quyết ô
nhiễm môi trường càng trở nên cấp bách. Môi trường không chỉ quan trọng với
một ngành, một nghề, không chỉ đối với một quốc gia mà còn là vấn đề của toàn
nhân loại. Hiện tượng Trái Đất ngày càng nóng lên, băng ở hai đầu cực tan dần,
lỗ thủng tầng Ozon ngày càng to ra đang là mối lo ngại đối với sự tồn tại của
loài người. Nguyên lý phát triển trong thời đại hiện nay là phải gắn phát triển
với bảo vệ môi trường, nó là nền tảng của sự tồn tại.
Bảo vệ môi trường ngày nay đã trở thành một trong những chính sách quan
trọng của Đảng và Nhà nước ta. Bằng những biện pháp và chính sách khác nhau,
Nhà nước ta đang can thiệp mạnh mẽ vào các hoạt động của cá nhân, tổ chức
trong xã hội để bảo vệ các yếu tố của môi trường, ngăn chặn việc gây ô nhiễm,
suy thái và sự cố môi trường. Trong những biện pháp ấy thì pháp luật đóng vai
Nguồn phát sinh
Tồn trữ, phân loại tại nguồn
3
[Type the document title]
Thu gom
Bãi chôn lấp
Trung chuyển và vận chuyển
Tái sử dụng, tái chế và xử lý
Trên đây là một mô hình về hệ thống quản lý kỹ thuật chất thải rắn đô thị
đang được áp dụng. Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả của công tác QLCTR,
ngoài biện pháp quản lý kỹ thuật như trên, những nhà quản lý, những nhà hoạch
định chính sách còn đề xuất sử dụng nhiều biện pháp quản lý khác. Một trong
những cách đang được áp dụng phổ biến hiện nay là sử dụng các công cụ kinh
tế.
3. KẾT CẤU CỦA BÀI THẢO LUẬN
Ngoài phần mở đầu và kết luận bài thảo luận có kết cấu gồm 3 chương tương
úng với 3 vấn đề chính của đề tài thảo luận như sau:
Chương 1: Các văn bản pháp luật quy định các công cụ kinh tế trong quản lý
chất thải rắn
4
[Type the document title]
Chương 2: Kinh nghiệm Thế Giới về việc sử dụng các công cụ kinh tế trong
quản lý chất thải rắn
Chương 3: Công ty cổ phần Nicotex Thanh Thái vi phạm công cụ kinh tế trong
quản lý chất thải rắn: Thuốc trừ sâu
CHƯƠNG 1
CÁC VĂN BẢN QUY ĐỊNH CÁC CÔNG CỤ KINH
TẾ TRONG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
1.1. TÌM HIỂU CHUNG VỀ CHẤT THẢI RẮN
xây dựng, y tế
1.1.2.3. Theo tính chất nguy hại
- Chất thải rắn nguy hại: là chất thải dễ gây phản ứng, dễ cháy nổ, ăn
mòn, nhiễm khuẩn độc hại, chứa chất phóng xạ, các kim loại nặng. Chất thải này
tiềm ẩn nhiều khả năng gây rủi ro, nhiễm độc, gây hại sức khỏe cho con người
và sự phát triển của thực vật và động vật.
- Chất thải rắn không gây nguy hại: là các chất thải không chứa các chất
và hợp chất có tính chất gây nguy hại thường là các chất được thải ra trong sinh
hoạt gia đình, đô thị…
1.1.2.4. Theo đặc tính tự nhiên
- Chất thải rắn vô cơ: gồm các loại phế thải thủy tinh, sành sứ, kim loại,
cao su, nhựa, vải, đồ điện, đồ chơi, vật liệu xây dựng nói chung,…
- Chất thải rắn hữu cơ: gồm cây cỏ, lá rụng, rau quả hư hỏng, đồ ăn thừa,
rác nhà bếp, giấy, xác súc vật, phân gia súc, gia cầm.
- Chất thải rắn độc hại: là phế thải gây độc hại cho con người và môi
trường như: pin, bình ắc quy, hóa chất, chai lọ đựng thuốc trừ sâu,…
1.2. CÁC CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
1.2.1. Khái niệm
Công cụ quản lý nhà nước về kinh tế là tổng thể những phương tiện hữu
hình và vô hình mà nhà nước sử dụng để tác động lên mọi chủ thể kinh tế trong
xã hội nhằm thực hiện mục tiêu quản lý kinh tế quốc dân.
7
[Type the document title]
1.2.2. Các loại công cụ kinh tế trong quản lý môi trường.
Chính sách thuế: Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh một
số loại sản phẩm gây tác động xấu lâu dài đến môi trường và sức khỏe
con người thì phải nộp thuế môi trường.
Phí môi trường: Tổ chức, cá nhân xả rác thải ra môi trường hoặc có hoạt
động làm phát sinh nguồn tác động xấu đối với môi trường phải nộp phí
bảo vệ môi trường để sử dụng cho hoạt động đầu tư bảo vệ môi trường.
1. Đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn quy định tại Nghị
định này là chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại được thải ra từ
quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác (trừ chất thải
rắn thông thường phát thải trong sinh hoạt của cá nhân, hộ gia đình).
2. Chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại quy định tại khoản 1
Điều này được xác định và phân loại theo quy định tại Nghị định số
59/2007/NĐ-CP ngày 09 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về quản lý chất thải
rắn.
Theo chương 2 của Nghị định 174/2007/NĐ- CP quy định mức thu, chế
độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí bảo vệ môi trường đối với chất thải
rắn:
Điều 5.
Mức thu phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn được quy định như sau:
1. Đối với chất thải rắn thông thường phát thải từ hoạt động của cơ quan, cơ sở
kinh doanh, dịch vụ, cơ sở sản xuất công nghiệp, làng nghề: không quá 40.000
đồng/tấn.
2. Đối với chất thải rắn nguy hại: không quá 6.000.000 đồng/tấn.
Điều 6.
9
[Type the document title]
Căn cứ quy định về mức thu phí tại Điều 5 Nghị định này và điều kiện
thực tế về xử lý, tiêu huỷ chất thải rắn ở địa phương, Hội đồng nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương quyết định cụ thể mức thu phí bảo vệ môi
trường áp dụng đối với từng loại chất thải rắn, ở từng địa bàn và từng loại đối
tượng nộp phí tại địa phương.
Điều 7.
Phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn là khoản thu ngân sách nhà
nước, được quản lý, sử dụng như sau:
1. Để lại một phần số phí thu được cho cơ quan, đơn vị trực tiếp thu phí để trang
trải chi phí cho việc thu phí theo quy định tại Điều 11, Điều 12 Nghị định số
sinh hoạt hàng ngày.
b) Tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng nộp phí nhưng tự xử lý hoặc ký hợp
đồng dịch vụ xử lý chất thải rắn đảm bảo tiêu chuẩn môi trường theo quy định
tại khoản 4 mục I Thông tư số 39/2008/TT-BTC ngày 19 tháng 5 năm 2008 của
Bộ trưởng Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 174/2007/NĐ-CP
ngày 29 tháng 11 năm 2007 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với
chất thải rắn.
Khoản3. Mức thu phí
a) Chất thải rắn thông thường: 30.000 đồng/tấn (áp dụng thống nhất toàn
tỉnh).
b) Chất thải rắn nguy hại: 5.000.000 đồng/tấn (áp dụng thống nhất toàn
tỉnh). Danh mục chất thải rắn nguy hại được quy định tại Thông tư số
12/2011/TT-BTNMT ngày 14/4/2011 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi
trường quy định về quản lý chất thải nguy hại. Trường hợp cần thiết, tùy tính
chất, đặc điểm của từng loại chất thải rắn, từng địa bàn và từng loại đối tượng
nộp phí, đơn vị thu phí được quy đổi mức thu phí tính theo đơn vị mét khối (m
3
)
11
[Type the document title]
nhưng phải đảm bảo mức thu cụ thể của từng loại chất thải rắn không vượt quá
mức thu nêu tại điểm a và điểm b khoản này. Giá trị quy đổi được áp dụng theo
quy định hiện hành.
Nghị định số 67/2011/NĐ-CP của chính phủ
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Nghị định này quy định về đối tượng chịu thuế, căn cứ tính thuế, khai thuế, tính
thuế, nộp thuế và hoàn thuế bảo vệ môi trường.
Khoản 3 điều 2
Áp dụng đối với túi ni lông thuộc diện chịu thuế (túi nhựa) quy định tại khoản 4
Điều 3 của Luật Thuế bảo vệ môi trường là loại túi, bao bì nhựa mỏng làm từ
Quy định về thu phí vệ sinh và phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn thông
thường trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
1.3.2. Hiệu quả và hạn chế của các công cụ kinh tế trong việc quản lý chất
thải rắn
1.3.2.1. Thành công khi áp dụng các công cụ kinh tế.
Trong nhiều năm qua, thực tế cho thấy rằng việc áp dụng các công cụ kinh tế
nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường ở nước ta đã phát huy hiệu quả. Phần lớn
những công cụ này đã kích thích những người gây ô nhiễm có khả năng hoàn
thành các mục tiêu môi trường bằng những phương tiện có hiệu quả, chi phí
hiệu quả nhất. Với những mức độ khác nhau, chúng sử dụng những nguyên tắc
“người gây ô nhiễm phải trả tiền” và “người hưởng lợi phải trả tiền”.
Nhờ việc áp dụng thu thuế bảo vệ môi trường và thu phí bảo vệ môi trường mà
người dân có ý thức trong việc phân loại rác thải, việc vứt rác bừa bãi đã được
hạn chế. Mọi người đã có ý thức sử dụng những túi vải thân thiện với môi
trường thay cho túi nilon.
1.3.2.2. Hạn chế khi áp dụng các công cụ kinh tế.
Nhìn chung công cụ kinh tế chưa phát huy hiệu quả
Việc rà soát, hoàn thiện hệ thống các văn bản, quy định liên quan đến công cụ
kinh tế trong quản lý môi trường như thuế, phí bước đầu đã được quan tâm, chú
trọng. Tuy nhiên, việc áp dụng các công cụ này trên thực tế còn chưa hiệu quả
do sự thiếu hợp lý trong các quy định pháp luật.
13
[Type the document title]
*Quy định về thuế thiếu rõ ràng
- Thuế Bảo vệ môi trường (BVMT) được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên
thế giới, góp phần tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Điều 112 Luật BVMT
2005 xác định, các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình kinh doanh một số loại sản
phẩm gây tác động xấu lâu dài đến môi trường và sức khỏe con người phải nộp
thuế môi trường. Song, việc áp dụng công cụ kinh tế này thời gian qua đã bộc lộ
nhiều vướng mắc.
mức phí cố định rồi xả thải bao nhiêu thì nộp bấy nhiêu. Chi phí cố định này là
chi phí cơ bản để duy trì quản lý hành chính” - một chuyên gia nói.
Rõ ràng, với mức phí thấp như hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất sẽ chấp nhận
đóng phí hơn là đầu tư các hệ thống xử lý chất thải. Như vậy, phí cũng tạo ra
khoản thu nhất định nhưng môi trường thì vẫn chưa được cải thiện đáng kể.
CHƯƠNG 2
KINH NGHIỆM THẾ GIỚI VỀ VIỆC SỬ DỤNG
CÁC CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG QUẢN LÝ
CHẤT THẢI RẮN
2.1. SINGAPORE
Sơ lược về đất nước Singapore
- Diện tích: 697,25km
2
- Dân số: 5,1 triệu người (2010)
- Thủ đô: Singapore
- Đơn vị tiền tệ: Đôla Singapore
2.1.1. Trong việc thuế ( bảo vệ môi trường)
2.1.1.1. Nhằm bảo đảm cho việc kiểm soát và bảo vệ môi trường ở
Singapore, một loạt các văn bản liên quan đến pháp luật về môi trường
15
[Type the document title]
được ban hành
- Đạo luật về môi trường và sức khoẻ cộng đồng: Đạo luật này bao hàm các vấn
đề về tiếng ồn, vệ sinh công cộng, chất thải rắn, chất thải độc hại và việc kiểm
soát kinh doanh thực phẩm, chôn cất, hoả táng cũng như quản lý các bể bơi. Để
thi hành Đạo luật này có 14 văn bản hướng dẫn thi hành.
- Đạo luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường: Đạo luật này điều chỉnh các vấn đề
liên quan đến việc kiểm soát ô nhiễm môi trường và các hoạt động có mục đích
liên quan đến việc kiểm soát ô nhiễm môi trường.
- Đạo luật về hệ thống cống tiêu thoát nước: Đạo luật này được ban hành nhằm
bị phạt đến 10.000$ với vi phạm lần đầu và nếu tái phạm sẽ bị phạt tới 20.000$.
Ngoài ra, các đạo luật về môi trường của Singapore cũng quy định phạt tiền một
cách rất linh hoạt đối với các vi phạm ít nghiêm trọng, đó là việc cho phép người
vi phạm trả một khoản tiền thích hợp cho Bộ Môi trường Singapore và vụ việc
sẽ tự kết thúc mà không phải đưa ra tòa.
+ Hình phạt tù
Đây là chế tài nghiêm khắc nhất nhằm trừng trị những người vi phạm ngoan cố,
khi mà các hành vi phạm tội có thể mang lại cho người phạm tội những khoản
lợi nhuận lớn nếu họ không bị phát hiện và hình phạt tiền vẫn không ngăn chặn
được các hành vi mà người đó gây ra. Ví dụ: theo Đạo luật về môi trường sức
khoẻ cộng đồng và Đạo luật kiểm soát ô nhiễm thì những người vi phạm lần đầu
bị buộc tội về hành vi đưa chất thải hoặc các chất độc hại vào nguồn nước ngầm
có thể bị phạt tù đến 12 tháng. Đối với những người tái phạm thì có thể bị phạt
tù với chế độ khắc nghiệt từ 1 đến 12 tháng.
+ Tạm giữ và tịch thu
Một số luật về môi trường quy định về việc tạm giữ và tịch thu các công cụ,
phương tiện được sử dụng vào việc phạm tội. Ngoài ra, nếu trường hợp thực
phẩm không phù hợp cho con người có thể bị tịch thu và tiêu huỷ theo Đạo luật
về môi trường và sức khoẻ cộng đồng và Đạo luật về mua bán thực phẩm.
+ Lao động cải tạo bắt buộc
17
[Type the document title]
Lao động cải tạo bắt buộc là biện pháp mà qua thực tiễn thực thi pháp luật về
môi trường ở Singapore cho thấy đây là một biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn
các vi phạm nhỏ, những người vi phạm đã bị áp dụng hình phạt lao động cải tạo
bắt buộc ít khi lặp lại hành vi đã vi phạm, đặc biệt rất ít người tái phạm. Cụ thể
tại Mục 21A quy định: “Người nào từ 16 tuổi trở lên bị kết án vì vi phạm một
trong các quy định tại mục 18 hoặc 20, và nếu trước khi anh ta bị kết tội, toà án
thấy rằng để cải tạo người vi phạm và để bảo vệ môi trường cũng như sức khoẻ
cộng đồng liên quan đến môi trường, người vi phạm cần phải thực hiện công
động có hại tới môi trường. Cụ thể là trước khi một hoạt động được phép tiến
hành, Bộ Môi trường phải đảm bảo là hoạt động đó sẽ không gây ra tác hại gì
cho môi trường. Ví dụ về Đạo luật kiểm soát ô nhiễm về môi trường, các hoạt
động công nghiệp có khả năng gây ô nhiễm không khí đều phải được phép của
Bộ Môi trường trước khi công việc được triển khai.
+ Thông báo và lệnh
Thông báo và lệnh được áp dụng trong trường hợp người chủ sở hữu hoặc quản
lý một tài sản không tuân thủ các quy định tiêu chuẩn hoặc điều kiện về môi
trường được quy định trong các đạo luật liên quan. Thông báo và lệnh này sẽ
yêu cầu chủ sở hữu hoặc quản lý tài sản phải tuân thủ các yêu cầu đặt ra trong
đó. Nếu không thực hiện các yêu cầu đó, chủ sở hữu hoặc quản lý phải chịu
trách nhiệm trước toà án và phải chịu hình phạt.
Trên đây là một số quy định về tổng quan pháp luật môi trường
Singapore. Từ một số vấn đề nêu trên cho ta thấy sở dĩ môi trường
Singapore trở nên sạch, đẹp và để có được một Singapore là “thành phố
của cây xanh” phải có rất nhiều yếu tố, nhưng chính pháp luật về môi
trường được quy định một cách toàn diện là công cụ hữu hiệu nhất để đảm
bảo sự sạch, đẹp cho môi trường Singapore.
2.1.2. S ingapore tổ chức chính quyền quản lý theo mô hình chính quyền 1
cấp.
19
[Type the document title]
Quản lý chất thải là một bộ phận trong hệ thống quản lý môi trường của quốc
gia.
Hệ thống quản lý xuyên suốt, chỉ chịu sự quản lý của Chính phủ.
- Bộ phận quản lý chất thải có chức năng lập kế hoạch, phát triển và quản lý chất
thải phát sinh.
Cấp giấy phép cho lực lượng thu gom chất thải, ban hành những quy định trong
việc thu gom chất thải hộ gia đình và chất thải thương mại trong 9 khu và xử lý
những hành vi vứt rác không đúng quy định.
+ Bộ môi trường qui định các khoản phí về thu gom rác và đổ rác với mức 6-15$
Singapore mỗi tháng tùy theo phương thức phục vụ (15$ đối với các dịch vụ thu
gom trực tiếp, 6$ đối với các hộ được thu gom gián tiếp qua thùng chứa rác
công cộng ở các chung cư).
+ Đối với các nguồn thải không phải là hộ gia đình, phí thu gom được tính tùy
vào khối lượng rác phát sinh có các mức 30-70-175-235$ Singapore mỗi tháng.
+ Các phí đổ rác được thu hàng tháng do ngân hàng PUB đại diện cho Bộ môi
trường thực hiện.
+ Thực hiện cơ chế thu nhận ý kiến đóng góp của người dân thông qua đường
dây điện thoại nóng cho từng đơn vị thu gom rác để đảm bảo phát hiện và xử lý
kịp thời tình trạng phát sinh rác và góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ.
2.2. THỤY ĐIỂN
2.2.1. Sơ lược về Thụy Điển
- Diện tích: 449,964 km
2
- Dân số: 8,9 triệu người
- Thủ đô: Stockholm
- Ngôn ngữ chính: tiếng Thụy Điển
- Đơn vị tiền tệ: Sek ( 1 sek = 0,15$USD )
2.2.2. Kinh nghiệm áp dụng công cụ quản lý chất thải rắn
21
[Type the document title]
2.2.2.1. Thuế cho việc thu gom rác thải và phí môi trường (MAC) cho việc
tái chế CTR
Có 2 hệ thống khác nhau: hộ gia đình và ngành công nghiệp
• Thu gom từ các hộ gia đình là hình thức sử dụng 1 hệ thống được gọi là “
thu gom mang đi”
• Các công ty trong các ngành công nghiệp thường lựa chọn một trung tâm
tái chế tại thành phố của công ty đó để lưu chứa và tái chế chất thải
Năm 2003, mỗi hộ gia đình trả 130 euro/năm
Năm 2005, mỗi hộ gia đình trả 160 euro/năm
Tần suất 1 lần/ 2 tuần
- Trách nhiệm về chất thải bao bì và giấy thuộc về các nhà sản xuất, họ phải trả
phí môi trường để xử lý các loại chất thải mà họ phát sinh, số tiền họ phải trả dĩ
nhiên sẽ được thêm vào giá sản phẩm để vẫn đảm bảo lợi nhuận của doanh
nghiệp.
-Những thay đổi lớn trong luật, pháp lệnh, quy định của Thụy Điển về ngành
công nghiệp chất thải
+ Năm 1999, các luật môi trường có kết hợp các chỉ thị, quyết định
+ Năm 2000, dự thảo thuế sek 250/ tấn chất thải đến bãi chôn lấp
+ Năm 2001, 2002 thuế chất thải đến bãi chon lấp tăng đến 288/ tấn
+ Năm 2003, thuế chất thải đến bãi chôn lấp tăng lên 370/ tấn
2.2.2.2. Áp dụng chính sách “ không chất thải”
- “ Không chất thải” là một triết lý mà khuyến khích việc thiết kế lại của vòng
đời tài nguyên để tất cả các sản phẩm đều được tái sử dụng
23
[Type the document title]
- Hướng đến sự phát triển bề vững chất thải, chính sách “không chất thải” không
những giảm thiểu tối đa CTR trong sinh hoạt và sản xuất của con người mà còn
tiết kiệm nguồn tài nguyên sử dụng, giảm thiểu các tác động tới môi trường đem
lại một môi trường sống xanh sạch đẹp.
2.2.2.3. Sử dụng hệ thống phân cấp trong quản lý chất thải rắn
Hệ thống phân cấp trong quản lý CTR theo thứ tự ưu tiên như sau:
- Giảm thiểu chất thải
- Chất thải có thể tái sử dụng
- Chất thải có thể tái chế
- Chất thải phục hồi
- Xử lý chất thải
2.3. NHẬT BẢN VÀ BUNGARI
- Công ty Cổ phần Nicotex tiền thân là xí nghiệp thuốc trừ sâu Nicotex được
thành lập ngày 13/10/1990. Công ty Nicotex ra đời là sản phẩm của phong trào
thi đua lập thành tích kỷ niệm cách mạng tháng 8 và quốc khánh 2/9 và phong
trào thi đua lập thành tích kỷ niệm 100 năm ngày thành lập tỉnh Thái Bình.
- Ra đời trên quê lúa Thái Bình hơn ai hết người Nicotex hiểu rõ nỗi vất vả một
nắng hai sương của những người nông dân vì vậy ngay từ khi thành lập khẩu
hiệu mà người Nicotex đặt ra là “Hiệu quả của nhà nông, niềm mong muốn của
Nicotex” và khẩu hiệu đó là kim chỉ nam cho mọi hành động của cán bộ nhân
viên trong toàn công ty.
- Gần 23 năm hình thành và phát triển công ty Nicotex đã có được những
kết quả mà không phải công ty nào cũng có được: đó là vị thế trên thị trường
25