Văn bản quy định của Pháp luật quy định các công cụ kinh tế về quản lý xử lí nước thải.Phân tích một doanh nghiệp hoặc địa phương vi phạm - Pdf 27

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
• Tìm một văn bản quy định của Pháp luật quy định các công cụ kinh tế về
quản lý xử lí nước thải
• Phân tích một doanh nghiệp hoặc địa phương vi phạm
LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đang từng bước tiến sau vào nền kinh tế thế giới, quá
trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước không ngừng phát triển, đương
nhiên theo sau đó là những hệ luỵ về môi trường. Mặt khác, bảo về môi trường là
một trong những hoạt động cần được tiến hành đồng thời với quá trình phát triển
kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn các ngành công
nghiệp đang phát triển rất mạnh.
Một môi trường thành phần rất cần thiết đối với con người đó là môi trường
nước. Vấn đề bảo vệ và cung cấp nước sạch cho muôn loài và nhất là cho con
người là vô cùng quan trọng. Song song với việc bảo vệ và cung cấp nguồn nước
sạch thì cũng cần quan tâm đến vấn đề nước thải, vốn là một thành phần có ảnh
hưởng rất lớn đến chất lượng môi trường nước.
Mặt khác nước ta lại đang trong thời kỳ hội nhập nền kinh tế thế giới nên việc
xây dựng phát triển các khu công nghiệp là rất cần thiết. Nhưng việc các nhà máy
sản xuất, các khu công nghiệp mọc lên một cách ồ ạt và thải ra môi trường một
lượng lớn chất thải đã làm cho môi trường bị ô nhiễm nặng nề và không còn khả
năng tự làm sạch nữa, làm ảnh hưởng đến môi trường sống và sức khoẻ của người
1
dân. Chính vì thế mà hiện nay, việc quản lý nguồn nước thải là một vấn đề đáng
quan tâm của các nhà quản lý môi trường trên thế giới và cả ở Việt Nam.
2
I. QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG BẰNG CÔNG CỤ KINH TẾ
1. Khái niệm công cụ quản lý kinh tế
Công cụ quản lý về môi trường là các phương thức hay biện pháp hành động
thức hiện công tác quản lý môi trường của Nhà nước, các tổ chức khoa học và sản
xuất. Công cụ quản lý môi trường rất đa dạng, mỗi một công cụ có một chức năng
và phạm vi tác dụng nhất định, liên kết và hỗ trợ lẫn nhau.

- Khuyến khích nhiều hơn cho việc đổi mới : tác động đến hoạt động kinh tế
một cách tích cực để phát triển và lựa chọn chi phí kiểm soát hiệu quả mà không
theo quy ước nào.
- Khả năng tiếp nhận và xử lí thông tin tốt hơn : công cụ kinh tế cơ bản dựa
vào thị trường, bản thân chúng sẽ phát hiện ra chiến lược hiệu quả chi phí, cho
phép gặp gỡ các mục tiêu môi trường cần đạt thông qua việc chi phí hiệu quả nhất.
- Tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường : do chi phí thấp khi
sử dụng công cụ kinh tế, mặt khác chúng tác động đến quyền lợi kinh tế của các cá
nhân hay doanh nghiệp, do vậy người ta phải tính đến việc sử dụng nguồn tài
nguyên như thế nào cho tiết kiệm và hiệu quả nhất mà không ảnh hưởng đến
doanh thu và lợi nhuận.
3. Một số công cụ kinh tế được sử dụng trong quản lý môi trường
a) THUẾ TÀI NGUYÊN
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, một số doanh nghiệp đơn
thuần chỉ sử dụng thành phần môi trường thì chủ yếu các doanh nghiệp vừa sử
dụng thành phần môi trường vừa khai thác sử dụng tài nguyên. Như vậy thông qua
các cơ cấu kinh tế, chinh sách thuế được chia làm hai loại : Thuế tài nguyên và
thuế môi trường.
4
*) Thuế tài nguyên : Là loại thuế gián thu, thu từ các hoạt động khai thác tài
nguyên, do người sử dụng tài nguyên đóng góp. Mục đích của thuế tài nguyên là :
- Hạn chế các nhu cầu không cấp thiết trong sử dụng tài nguyên.
- Hạn chế các tổn thất tài nguyên trong quá trình khai thác và sử dụng
- Tạo nguồn thu cho Ngân sách và điều hoà quyền lợi của các tầng lớp dân cư
về việc sử dụng tài nguyên.
Thuế tài nguyên phải được sử dụng từng bước để tránh làm mất cân bằng kinh
tế, phải hợp lý điều chỉnh có lợi cho kinh tế xã hội. Cơ cấu tính thuế tài nguyên
phải được thay đổi phù hợp với khả năng công nghệ của doanh nghiệp, phương
thức quản lý của Nhà nước và điều kiện địa chất kỹ thuật của khu vực khai thác tài
nguyên để bảo đảm có sự phân biệt đối với các doanh nghiệp hoặc hoạt động gây

tư, khắc phục cải thiện môi trường (thu gom xử lí phế thải, nước thải, hỗ trợ các
nạn nhân của ô nhiễm). Phí môi trường được coi là một công cụ kinh tế để góp
phần bảo vệ môi trường bởi vì nó được áp dụng với 2 mục đích : một là để chi cho
các hoạt động cải thiện môi trường sinh thái, hai là khuyến khích người gây ô
nhiễm giảm lượng chất ô nhiễm thải ra môi trường. Thực hiện nguyên tắc “người
sử dụng phải trả tiền” nhiều nước quy định thu phí và lệ phí tuỳ theo mục đích sử
dụng và hoàn cảnh như : phí vệ sinh thành phố, phí nuôi và giết mổ gia súc trong
các đô thị, phí cung cấp nước cho sinh hoạt và tưới tiêu trên đồng ruộng, lệ phí
đường phố, lệ phí sử dụng bờ biển, danh lam, thắng cảnh Phạm vi áp dụng của
các loại phí môi trường gồm :
*) Phí đánh vào nguồn ô nhiễm : Là loại phí đánh vào các chất gây ô nhiễm
được thải ra môi trường nước (BOD, COD, TSS, kim loại nặng…), khí quyển
(SO2, cacbon, CFCs), đất (rác thải, phân bón) hoặc gây tiếng ồn, ảnh hưởng tới
môi trường xung quanh. Biện pháp này có tác dụng khuyến khích các tác nhân gây
ô nhiễm giảm lượng chất ô nhiễm thải ra môi trường và tăng thêm nguồn thu cho
Chính phủ để sử dụng vào việc cải thiện chất lượng môi trường. Tuy nhiên việc áp
dụng loại phí này đối với chất gây ô nhiễm không khí có phần phức tạp do rất khó
kiểm soát lượng ô nhiễm thải ra để tính mức thu phí.
6
*) Phí đánh vào người sử dụng : Là tiền phải trả do được sử dụng các hệ thống
công cộng xử lí và cải thiện chất lượng môi trường. Loại phí này chủ yếu được áp
dụng đối với các loại chất thải có thể kiểm soát. Mục đích chính của phí này chủ
yếu là nhằm tăng nguồn thu cho Chính phủ và đối tượng thu là những cá nhân hay
đơn vị trực tiếp sử dụng hệ thống dịch vụ công cộng. Phí đánh vào người sử dụng
còn nhằm mục đích hạn chế việc sử dụng quá mức các dịch vụ môi trường.
*) Phí đánh vào sản phẩm : Là loại phí được áp dụng đối với những loại sản
phẩm gây tác hại tới môi trường một khi chúng được sử dụng trong các quá trình
sản xuất, tiêu dùng hay loại bỏ chúng. Loại phí này được áp dụng với những sản
phẩm chứa chất độc hại và với một khối lượng nhất định chúng sẽ gây tác hại tới
môi trường. Phí đánh vào sản phẩm có thể được sử dụng thay cho phí gây ô nhiễm

đúng cách sẽ gây nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe
cho con người.
d) GIẤY PHÉP MÔI TRƯỜNG CÓ THỂ CHUYỂN NHƯỢNG
Giấy phép môi trường chuyển nhượng (hay còn gọi là quota ô nhiễm) là loại
giấy phép xả thải mà người sử dụng được cấp có quyền chuyển nhượng số lượng,
chất lượng xả thải của cơ sở mình cho người khác (đơn vị cần giấy phép được xả
thải). Loại giấy này cho phép được đổ phế thải hay sử dụng một nguồn tài nguyên
đến một mức định trước do pháp luật quy định và được chuyển nhượng bằng cách
đấu thầu hoặc trên cơ sở quyền sử dụng đã có sẵn. Giấy phép môi trường thường
được áp dụng cho các tài nguyên môi trường khó có thể quy định quyền sở hữu và
vì thế thường bị sử dụng bừa bãi như không khí, đại dương. Công cụ này được áp
dụng ở một số nước, ví dụ giấy phép khai thác cá ngừ và sử dụng nước ở
Australia, giấy phép ô nhiễm không khí ở Mỹ, Anh và một số nước thành viên của
OECD như Canađa, Đức, Thuỵ Điển. Nguyên lý cơ bản của thị trường giấy phép
thải (hay thị trường môi trường) là việc đặt ra giới hạn tối đa về lượng khí thải
hoặc nước thải nào đó ở mức thống nhất với chi tiêu môi trường tại một vùng hay
khu vực cụ thể. Một khi tổng lượng thải cho phép thấp hơn lượng thải mà các đơn
vị hoạt động trong vùng muốn thải thì sẽ tạo nên sự khan hiếm về quyền được thải
và làm cho nó có giá ở thị trường.
8
Những giấy phép chuyển nhượng này ưu việt hơn thuế trong trường hợp cần
xác lập một mức độ tối đa số rác thải hoặc định mức sử dụng tài nguyên. Giấy
phép chuyển nhượng sẽ không có hiệu lực khi những phế thải bị hạn chế đến một
tỉ lệ rất nhỏ so với toàn bộ chi phí sản phẩm, lúc đó sẽ không còn tác dụng khuyến
khích sự tham gia nữa. Nói chung, nó được coi là một biện pháp tạm thời trong khi
chờ đợi đạt được tiêu chuẩn chính xác hơn.
e) KÝ QUỸ MÔI TRƯỜNG
Ký quỹ môi trường là công cụ kinh tế áp dụng cho các hoạt động kinh tế có
tiềm năng gây ô nhiễm và tổn thất môi trường. Nguyên lý hoạt động của hệ thống
ký quỹ môi trường cũng tương tự như của hệ thông đặt cọc - hoàn trả. Nội dung

Chức năng chính của trợ cấp môi trường là giúp đỡ các ngành công – nông
nghiệp và các ngành khác khắc phục ô nhiễm môi trường trong điều kiện khi tình
trạng ô nhiễn môi trường quá nặng nề hoặc khả năng tài chính của doanh nghiệp
không chịu đựng được đối với việc xử lí ô nhiễm. Trợ cấp cũng nhằm khuyến
khích các cơ quan nghiên cứu và triển khai các công nghệ sản xuất có lợi cho môi
trường hoặc các công nghệ xử lí ô nhiễm.
Tuy nhiên, trợ cấp có thể gây ra sự không hiệu quả. Các nhà sản xuất có thể
đầu tư quá mức vào kiểm soát và xử lí ô nhiễm (làm giảm ô nhiễm nhiều hơn so
với mức tối ưu cũng là không hiệu quả). Trường hợp ngược lại, trợ cấp không
được hạch toán toàn bộ vào chi phí giảm ô nhiễm mà một phần được dùng để hạ
thấp chi phí sản xuất cá nhân, làm tăng lợi nhuận.
Trợ cấp môi trường chỉ là biện pháp tạm thời, nếu vận dụng không thích hợp
hoặc kéo dài sẽ dẫn đến phí hiệu quá kinh tế vì trợ cấp đi ngược với nguyên tắc
“người gây ô nhiễm phải trả tiền”, nó tạo ra sự thay đổi số công ty (vào - ra tự do
đối với ngành công nghiệp), thay đổi mức hoạt động của ngành công nghiệp mà
mục đích giảm ô nhiễm lại không đạt được. Vì vậy, trợ cấp môi trường chỉ có thể
thực hiện trong một thời gian cố định với một chương trình có hoạch định và kiểm
soát rõ ràng, thường xuyên.
10
g) NHÃN SINH THÁI
Theo tổ chức thương mại thế giới WTO và Ngân hàng thế giới WB thì : Nhãn
sinh thái là một loại nhãn được cấp cho những sản phẩm thoả mãn một số tiêu chí
nhất định do một cơ quan chính phủ hoặc một tổ chức được chính phủ uỷ nhiệm
đề ra. Các tiêu chí này tương đối toàn diện nhằm đánh giá tác động đối với môi
trường trong những giai đoạn khác nhau của chu kỳ sản phẩm : từ giai đoạn sơ
chế, chế biến, gia công, đóng gói, phân phối, sử dụng cho đến khi bị vứt bỏ. Cũng
có trường hợp người ta chỉ quan tâm đến một tiêu chí nhất định đặc trưng cho sản
phảm, ví dụ mức độ khí thải phát sinh, khả năng tái chế, v.v
Các tiêu chuẩn để đánh giá khía cạnh môi trường của sản phẩm của Nhãn sinh
thái được quy định trong các hệ thống tiêu chuẩn ISO 14024:1999, ISO

mới đang ở giai đoạn nghiên cứu đế áp dụng thử. Chính vì thế trong thiết kế các
chính sách, chiến lược về môi trường, vấn đề cơ bản sẽ không phải là chọn công
cụ kinh tế hay công cụ pháp lý mà là làm thế nào để lựa chọn được sự phối hợp tối
ưu giữa các loại hình công cụ này, xuất phát từ thực tiễn kinh tế, chính trị và khả
năng thực tế.
II. QUẢN LÝ XỬ LÍ NƯỚC THẢI BẰNG CÔNG CỤ KINH TẾ
Chọn Nghị định số 25/2013/NĐ-CP “Về phí bảo vệ môi trường đối với nước
thải”.
12
13
CHÍNH PHỦ
Số: 25/2013/NĐ-CP
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 29 tháng 03 năm 2013
NGHỊ ĐỊNH
Về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
_____________________
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Bảo vệ môi trường ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Luật Tài nguyên nước ngày 21 tháng 6 năm 2012;
Căn cứ Pháp lệnh Phí và lệ phí ngày 28 tháng 8 năm 2001;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính;
Chính phủ ban hành Nghị định quy định về phí bảo vệ môi trường đối với nước
thải,
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Nghị định này quy định về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải; chế độ thu,
nộp, quản lý và sử dụng phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.

III. VÍ DỤ MINH HOẠ VỀ DOANH NGHIỆP VI PHẠM
Công ty Cổ phần giấy An Hoà (thành viên Tập đoàn Geleximco) trên địa bàn
xã Cấp Tiến, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
• Lượng ô nhiễm : Gần trưa 10/7/2013, đoàn thanh tra môi trường của Bộ Tài
nguyên và Môi trường đã tiến hành kiểm tra đột xuất và bắt quả tang công ty này
đã xả ra sông Lô một khối lượng nước thải khoảng 5500m
3
/ngày đêm chưa qua xử
lý. Công ty cổ phần giấy An Hoà sản xuất với quy mô lớn, nước thải của công ty
là 7.500 m
3
/ngày
• Mức độ ô nhiễm : Tại Công ty cổ phần Giấy An Hoà, qua kiểm tra đã phát
hiện nước thải của nhà máy chưa được xử lý triệt để, một số chỉ tiêu ô nhiễm trong
nước thải như BOD, COD, Coliform vượt quy chuẩn cho phép từ 1,06 đến 2,3
lần.
• Hệ thống xử lý nước thải : Trong khi nhà máy chưa đáp ứng được các yêu
cầu về đảm bảo môi trường thì chủ đầu tư luôn công bố nhà máy sử dụng công
nghệ sản xuất tiên tiến không sử dụng nguyên tố Clo, các thiết bị chính được nhập
khẩu từ Thụy Điển và Phần Lan.
• Công ty giấy An Hoà vẫn tiếp tục tái phạm
+ Tháng 8/2014, Theo lãnh đạo Nhà máy Bột giấy và Giấy An Hoà, hệ thống xử
lý nước thải đã được Công ty cổ phần Giấy An Hoà ký hợp đồng với nhà thầu
Higard Malaysia để cải tạo, nâng cấp và đang trong giai đoạn thi công xây dựng.
Cũng tại đây Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường còn phát hiện một số sai
14
phạm, như : Nhà máy chưa thực hiện bơm toàn bộ nước thải tại 3 hồ tự nhiên vào
hệ thống xử lý nước thải để xử lý; chưa cải tạo, nạo vét lòng hồ, chống thấm đáy
các hồ chứa nước thải đảm bảo nước thải không ảnh hưởng đến môi trường đất,
nước ngầm; chưa lắp đặt hệ thống đo lưu lượng và quan trắc liên tục, tự động các

thì không biết. Hiện tại chị Trang (Trưởng phòng Môi trường Công ty An Hoà -
PV) đang đi vắng, nếu anh đi hỏi Tổng công ty chủ quản là Geleximco thì họ cũng
không nắm được gì cả vì công ty chúng tôi hoạt động độc lập”, ông Sơn nói. Biểu
hiện ở họ là lảng tránh, đá đưa sự việc và chây ì trách nhiệm.
- Ảnh hưởng đến môi trường nước :
+ Nước bốc mùi hôi thối như phân lợn. Kể cả khu vực cách vài cây số cũng ngửi
thấy mùi. Miệng cống nước bốc hơi ngùn ngụt, hắc như axit. Đặc biệt, vào ban
đêm hay những ngày mưa gió, nước xả còn kinh hơn. Nước xả ra sông Lô khi thì
màu xanh lét, khi đen như nước bùn.
+ Mới đây, sau đợt xả thải của công ty An Hoà cá bống, chép bỗng dưng lờ đờ, nổi
trắng khúc sông.
+ Nước từ con sông Lô lại được bơm vào đồng ruộng, tưới tắm cho hoa màu.
Không biết mức độ ô nhiễm tới đâu, nhưng nhiều mảnh ruộng, nước tưới vào tới
đâu, lúa héo tới đó. Một người dân bức xúc, 3 sào lúa nhà chị đang mơn mởn, sau
khi lấy nước từ sông Lô vào bỗng dưng đỏ quạch rồi chết. Giặm đi giặm lại lúa
mới sống, nhưng phát triển rất chậm. Đổ vào bao nhiêu phân bón mà lúa vẫn còi
cọc. Năng suất lúa, một sào cũng chỉ đạt vài chục kg.
- Ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân :
+ Anh Đỗ Thành Chung, thôn Phú Lương, xã Cấp Tiến cho biết, gia đình anh đã
phải hít cái mùi khủng khiếp này vài năm nay. Đây là “sản phẩm” của Công ty An
Hoà, nằm cách khu dân cư chừng 200m. Mùi khét nồng nặc khắp nơi, hàng trăm
người dân các thôn gần Công ty An Hoà phải chịu trận gần như 24/24h trong
ngày. Hai đứa nhỏ nhà anh Chung, đứa nào cũng bị ho hen. Các bệnh về phổi đeo
bám những đứa trẻ nơi đây dai dẳng qua nhiều năm.
+ Anh Đ, cùng thôn Phú Lương cho biết, ban đêm anh hay đi soi cua bắt ếch nên
biết rất rõ việc Công ty An Hoà xả nước ra sông Lô. “Công ty này xả nước thải
không theo lịch trình nào cả. Có lúc thì ban ngày, nhưng chủ yếu là vào ban đêm
và rạng sáng. Tôi đi soi ếch đêm, mỗi lần đi qua đoạn này là phải bịt mũi, bịt
mồm. Nước xả không chỉ thối mà còn bốc khói mù mịt”, anh Đ kể.
+ Người dân kéo cá chết trên sông ra vớt được 20kg cá các loại nhưng không dám

Số tiền phạt công ty giấy An Hoà đã lên đến hàng tỷ đồng, tuy nhiên quá trình
khắc phục ô nhiễm chỉ được thực hiện một cách khiên cưỡng, qua loa. Không biết
rắng hồi kết về việc xử lý công ty giấy An Hoà sẽ diễn biến ra sao nhưng những
tác động trực tiếp đến nguồn nước sông Lô là điều không thể bàn cãi, ảnh hưởng
nghiêm trọng đến sức khỏe và đời sống lao động của người dân Sở TN &Mt
17
Tuyên Quang khẳng định “ Hiện Công ty An Hoà đang báo cáo Sở về việc dừng
nhà máy để bảo dưỡng. Trong khi đó, cảnh sát môi trường đã kiểm tra nhiều lần,
chỉ riêng năm 2014, UBND tỉnh Tuyên Quang cũng đã xử phạt công ty này 500
triệu, cảnh sát môi trường cũng phạt đến 400 triệu và Sở phạt 50 triệu. Hiện Công
ty An Hoà đang có hợp đồng với đối tác phía Malaysia để xử lý vấn đề môi
trường, tới đây Sở sẽ tăng cường kiểm tra, mỗi tháng từ 1- 2 lần, nếu trong một
thời hạn nhất định, việc khắc phục không được triệt để, Sở sẽ kiến nghị biện pháp
xử lý cứng rắn đối với Công ty An Hoà”. Mong rằng sự vào cuộc kịp thời và cứng
rắn của chính quyền sẽ khắc phục được môi trường, trả lại sự trong sạch cho
nguồn nước sông Lô giúp bà con yên tâm lao động sản xuất !
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status