Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường ở Việt Nam potx - Pdf 15

Các công cụ kinh tế trong quản lý môi
trường ở Việt Nam Quan điểm về áp dụng công cụ kinh tế (CCKT) trong quản lý môi trường đã được
nhấn mạnh trong các văn kiện của Đảng và thể chế hóa trong Luật Bảo vệ môi trường
và các văn bản dưới luật. Đặc biệt là, ngày 02 tháng 12 năm 2009, Ban cán sự Đảng
Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Nghị quyết số 27/NQ-BCSĐBTNMT về việc
tăng cường chủ trương kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường. Bài viết này điểm
lại tình hình áp dụng một số CCKT trong quản lý môi trường tại Việt Nam và đề xuất
kiến nghị nhằm tăng cường áp dụng các công cụ kinh tế trong thời gian tới.
1. Đặt vấn đề
Tại Việt Nam, quan điểm về áp dụng CCKT trong quản lý môi trường đã được đề cập
trong Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác
bảo vệ môi trường (BVMT) trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
Nghị quyết của Bộ Chính trị số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 và gần đây nhất là nghị
quyết số 27/BCSĐBTNMT ngày 2/12/2009 của Ban cán sự Đảng Bộ TN&MT về việc
tăng cường chủ trương kinh tế hóa ngành TN&MT.
Bài viết này điểm lại một số CCKT đã áp dụng trong quản lý môi trường tại Việt Nam
và đề xuất kiến nghị nhằm tăng cường áp dụng CCKT trong thời gian tới. Xét theo
lĩnh vực quản lý, có thể chia CCKT thành hai nhóm: CCKT trong quản lý ô nhiễm và
trong bảo tồn đa dạng sinh học.
2. CÁC CCKT TRONG QUẢN LÝ Ô NHIỄM
Thuế và phí môi trường
Thuật ngữ thuế và phí môi trường thường được sử dụng để chỉ khoản thu với hai mục
đích: Tạo động lực giảm phát thải ô nhiễm và tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.
Có hai loại thuế/phí môi trường chính: Thuế đánh vào đơn vị ô nhiễm xả thải ra môi
trường (thuế Pigovian), và thuế nguyên liệu/sản phẩm (hay còn gọi là thuế gián tiếp).
Hiện tại ở Việt Nam, loại thuế/phí đánh vào đơn vị ô nhiễm xả thải ra môi trường
đang được áp dụng dưới hình thức phí BVMT đối với nước thải, đối với chất thải rắn
và khai thác khoáng sản.

này có tác dụng nhiều trong việc hạn chế ô nhiễm (thông qua hạn chế tiêu dùng/sản
xuất) nhưng với hàng hóa thiết yếu thì loại thuế này ít có tác dụng giảm ô nhiễm.
Một số công cụ kinh tế khác
Ký quỹ trong hoạt động khai thác khoáng sản theo Quyết định số 71/2008/QĐ-TTg
ngày 29/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ. Ký quỹ môi trường đã đem lại những kết
quả bước đầu đáng khích lệ trong công tác kiểm soát ô nhiễm đối với các hoạt động
khai thác khoáng sản. Tuy nhiên, việc áp dụng công cụ này trên thực tế chỉ mới dừng
lại các dự án quy mô nhỏ hoặc còn ở giai đoạn thử nghiệm do công thức dự toán chi
phí cải tạo, phục hồi môi trường, chưa cụ thể, khó thực hiện.
Cơ chế hỗ trợ tài chính cho các các hoạt động BVMT được thực hiện theo quy định tại
Nghị định số 04/2009/NĐ-CP ngày 14/1/2009. Ngoài ra, thuế xuất nhập khẩu, thuế
thu nhập doanh nghiệp cũng có những điều khoản ưu đãi về thuế cho các doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ, thiết bị và công nghệ môi trường.
Mặc dù đã có cơ chế hỗ trợ tài chính song chưa có nhiều doanh nghiệp tham gia các
hoạt động này vì nhu cầu đầu tư cho môi trường chưa cao. Nói cách khác, "cầu" cho
hoạt động BVMT chưa đủ cao để kích thích các hoạt động "cung".
Một cơ chế khác là Quỹ Môi trường đã được hình thành nhằm hỗ trợ vốn cho các
doanh nghiệp đầu tư BVMT như: Quỹ Môi trường cấp quốc gia (Quỹ BVMT Việt
Nam, Quỹ Bảo tồn Việt Nam), Quỹ BVMT các tỉnh/TP, Quỹ Môi trường ngành. Sau
một thời gian hoạt động, các quỹ môi trường đã góp phần đưa nguồn vốn của Nhà
nước để thực hiện dự án môi trường hiệu quả; bước đầu huy động được một phần
nguồn lực từ trong và ngoài nước cho các hoạt động BVMT. Tuy nhiên các quỹ này
chưa phát huy hết hiệu quả do nguồn vốn chưa đủ, các doanh nghiệp chưa có nhiều
thông tin về các thủ tục vay cũng như chưa có áp lực cần vay vốn đầu tư BVMT.
Công cụ công khai hóa thông tin hoạt động môi trường của doanh nghiệp nhằm tạo áp
lực từ cộng đồng và người tiêu dùng đến việc doanh nghiệp tuân thủ các qui định môi
trường cũng đã được áp dụng nhưng mới chỉ ở quy mô nhỏ trong khuôn khổ một số
dự án thử nghiệm tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Bắc Ninh và Quảng Nam. Chương
trình cấp Nhãn sinh thái đã được Bộ TN&MT phê duyệt năm 2009 nhằm khuyến
khích các mẫu hình sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm thân thiện với môi trường. Đặt

ngành tiêu biểu gồm, lâm sản xuất khẩu và thủy sản.
Hiện cả nước có 450 doanh nghiệp chuyên sản xuất xuất khẩu, trong đó có khoảng
20% các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm gỗ đang tham gia Mạng lưới kinh doanh
Lâm sản Việt Nam, một thành viên thuộc Mạng lưới kinh doanh Lâm sản toàn cầu.
Mục đích của mạng lưới này là hỗ trợ kinh doanh sản phẩm gỗ theo phương thức phù
hợp với việc bảo vệ rừng, thông qua "Chứng chỉ rừng" của Hội đồng Quản trị rừng thế
giới. "Chứng chỉ rừng" bảo đảm với người tiêu dùng và tất cả những ai quan tâm đến
bảo vệ rừng và môi trường rằng, sản phẩm gỗ có chứng chỉ được sản xuất trên cơ sở
rừng được tái tạo lâu dài, không làm giảm tính ĐDSH của rừng và ảnh hưởng đến môi
trường.
Về thủy sản, đã có 48 doanh nghiệp chế biến thủy sản được cấp nhãn Tiêu chuẩn quản
lý thực hành (BMP), 25 doanh nghiệp được cấp chứng chỉ đạt tiêu chuẩn ISO 14.000
về hệ thống quản lý môi trường doanh nghiệp, 25 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn
HACCP về kiểm soát môi trường điểm tới hạn. Có thể nói, nhãn sinh thái, một CCKT
được doanh nghiệp tự nguyện áp dụng sẽ tiếp tục phát triển trong thời gian do yêu cầu
của thị trường.
4. Một số công cụ có thể áp dụng trong thời gian tới.
Ngoài việc tiếp tục rà soát, chỉnh sửa nhằm nâng cao hiệu quả của các CCKT đã áp
dụng như phân tích ở trên, trong thời gian tới có thể nghiên cứu áp dụng một số
CCKT khác sau đây.
Lĩnh vực quản lý ô nhiễm
Giấy phép phát thải có thể chuyển nhượng (tradable permits): kiểm soát mức độ phát
thải qua việc xác định tổng số giấy phép hoặc hạn ngạch thích ứng với khả năng tiêu
huỷ chất thải của môi trường. Các chủ nguồn thải có thể trao đổi hạn ngạch phát thải
sao cho chi phí phát thải ở mức thấp nhất. Công cụ này có tiềm năng áp dụng cho
những khu vực các nguồn ô nhiễm và phạm vi tác động tương đối dễ xác định, ví dụ
như các khu công nghiệp.
Phí BVMT với khí thải: tương tự như phí BVMT đối với nước thải, loại phí này đánh
vào các đơn vị gây ô nhiễm trong khí thải như bụi, NOx, SOx, vì vậy tạo động lực làm
giảm phát thải các chất ô nhiễm vào không khí. Cần lưu ý là loại phí này sẽ tương đối

được đặt ra cho một khu vực hoặc toàn cầu. Nếu quốc gia nào muốn phát triển kinh tế
quá hạn mức này sẽ phải mua lại quyền của các quốc gia khác. Thông qua việc tạo lập
thị trường này, ĐDSH sẽ được gắn một “giá cả” như một loại hàng hóa và nhờ vậy sẽ
được gìn giữ và bảo tồn tốt hơn. Khái niệm này gần giống với Quyền phát triển có thể
mua bán trao đổi song khác ở chỗ phạm vi áp dụng ở quy mô rộng hơn: khu vực và
toàn cầu.
5. Kết luận
Áp dụng CCKT trong quản lý môi trường là cách tiếp cận đúng đắn nhằm hạn chế ô
nhiễm và suy thoái môi trường tại Việt Nam. Việc áp dụng CCKT trong quản lý môi
trường đã được Chính phủ quan tâm. Một số CCKT đã được triển khai áp dụng ở các
quy mô khác nhau. Bước đầu, các công cụ kinh tế đã có tác dụng tích cực giúp hạn
chế ô nhiễm, suy thoái môi trường. Tuy nhiên, do chưa có nghiên cứu đầy đủ về các
CCKT trước khi ban hành nên quá trình triển khai các công cụ này còn gặp nhiều khó
khăn và hiệu quả thực thi chưa cao. Ngoài ra, năng lực nghiên cứu và thực thi các
CCKT còn hạn chế. Còn nhiều CCKT chưa được áp dụng, đặc biệt là trong lĩnh vực
như bảo tồn ĐDSH. Một điểm cần lưu ý là để CCKT phát huy tác dụng thì cần thực
hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm cũng như tuyên tuyền giáo dục
nhằm tạo động lực tuân thủ các qui định về môi trường, trong đó có các quy định về
CCKT.
Trong thời gian tới, để tăng cường áp dụng CCKT trong quản lý môi trường theo tinh
thần Nghị quyết 27-NQ/BCSĐTNMT, xin kiến nghị Tổng cục Môi trường chỉ đạo
thực hiện các hoạt động sau: Nâng cao năng lực nghiên cứu về áp dụng CCKT thông
qua đào tạo và hợp tác quốc tế; Rà soát các CCKT đang áp dụng để điều chỉnh, bổ
sung những vướng mắc, bất cập; Nghiên cứu và triển khai áp dụng một số các CCKT
mới. Nên áp dụng các công cụ này trong phạm vi thí điểm nhằm học hỏi kinh nghiệm
trước khi mở rộng áp dụng ở qui mô lớn. Đặc biệt là các CCKT nên được thiết kế theo
hướng đơn giản, dễ áp dụng để phù hợp với bối cảnh thực tiễn hiện nay; Tiếp tục đẩy
mạnh thanh kiểm tra, tuyên tuyền, giáo dục nhằm tạo tiền đề cho CCKT phát huy hiệu
quả.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status