Bộ Tài nguyên và Môi trờng
Viện nghiên cứu Địa chất và Khoáng sản
Báo cáo
Nghiên cứu đặc điểm phân bố, điều kiện thành
tạo của đá quý vùng Châu Bình - Bản Ngọc
làm cơ sở xác lập các diện tích có triển vọng
phục vụ cho tìm kiếm, thăm dò đá quý
ở Quỳ Châu - Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An
Thuyết minh ,; 6617
27/10/2007 Hà Nội - 2003 Hà Nội - 2003
(1)
Hội Địa chất Việt Nam;
(2)
Tổng Công ty Đá quý và Vàng Việt Nam
2
Mục lục
Trang
- Quyết định phê duyệt báo cáo 5
- Quyết định của Viện trởng Viện Nghiên cứu Địa chất và Khoáng sản về việc
thành lập Hội đồng xét duyệt báo cáo 6
- Biên bản Hội nghị xét duyệt báo cáo 9
- Bản thẩm định cáo cáo 11
- Các nhận xét báo cáo 15
- Quyết định phê duyệt đề án 28
- Quyết định giao chủ nhiệm đề án 29
- Đăng ký Nhà nớc hoạt động điều tra cơ bản địa chất 30
Mở đầu 32
Chơng I. Đặc điểm địa lý tự nhiên, kinh tế nhân văn, lịch sử nghiên cứu
và các phơng pháp đã tiến hành 35
I.1. Đặc điểm địa lý tự nhiên, kinh tế - nhân văn 35
I.2. Lịch sử nghiên cứu 39
I.3. Các phơng pháp đã tiến hành 41
IV.3.3. Tuổi thành tạo 167
Chơng V. Quy luật phân bố và dự báo những diện tích có triển vọng đá
quý ở Quỳ Châu - Quỳ Hợp, Nghệ An 168
V.1. Nguyên tắc thành lập bản đồ quy luật phân bố và dự báo những diện
tích có triển vọng đá quý vùng Quỳ Châu - Quỳ Hợp, Nghệ An, tỷ
lệ 1:50.000 168
V.2. Những tiền đề và dấu hiệu tìm kiếm đá quý 169
V.2.1. Nhóm tiền đề khu vực (khống chế sinh khoáng đá quý) 169
V.2.2. Nhóm tiền đề và dấu hiệu địa phơng (khống chế sự tập trung
đá quý) 170
V.3. Dự báo những diện tích có triển vọng đá quý và hớng nghiên cứu
tiếp theo 172
V.3.1. Phơng pháp dự báo 172
V.3.2. Kết quả dự báo 173
Kết luận 177
- Tài liệu tham khảo 180
- Danh mục bản vẽ kèm theo báo cáo 182
- Danh mục phụ lục kèm theo báo cáo 183
- Danh mục tài liệu nguyên thuỷ giao nộp kho lu trữ tại Viện Nghiên cứu
Địa chất và Khoáng sản 184 4
Mở đầu
Vùng mỏ đá qúy Quỳ Châu - Quỳ Hợp, Nghệ An đợc biết đến từ năm 1996,
đến nay đã có nhiều công ty khai thác khoáng sản của Nhà nớc, các công ty liên
doanh với nớc ngoài và các nhà khoa học nghiên cứu, thăm dò và khai thác đá quý.
Hầu hết các tác giả của các công trình nghiên cứu chuyên sâu đều đánh giá tiềm
năng đá quý ở đới nâng Bù Khạng là rất lớn, có giá trị thơng phẩm cao, có nhiều
5
Phơng án đợc hội đồng khoa học Viện Nghiên cứu Địa chất và Khoáng sản
thông qua ngày 28 tháng 9 năm 2001, Bộ trởng Bộ Công nghiệp đã ký quyết định
phê duyệt số 3102 QĐ - CNCL ngày 26 tháng 12 năm 2001.
Tổ chức thực hiện:
Viện Nghiên cứu Địa chất và Khoáng sản đã ra quyết định
số 65QĐ/ TC giao cho TS. Phạm Hòe làm chủ nhiệm đề án. Lực lợng chính tham
gia thực hiện là các tiến sỹ, kỹ s, kỹ thuật viên thuộc Trung tâm Công nghệ, Dịch
vụ và T vấn Địa chất -Khoáng sản, kỹ s, kỹ thuật viên thuộc Tổng Công ty Đá quý
và Vàng Việt Nam và các cộng tác viên khoa học thuộc Viện Nghiên cứu Địa chất
và Khoáng sản, thuộc hội Địa chất Việt Nam và Trờng Đại học Khoa học Tự nhiên.
Đặc biệt đề án đã phối hợp chặt chẽ cùng Tổng Công ty, thu thập xử lý nguồn tài
liệu đã có từ trớc đến nay của Tổng Công ty, cùng tiến hành khảo sát, bố trí các
công trình hào kiểm tra và Tổng công ty trực tiếp thi công các công trình hào và đãi
rửa mẫu đánh giá kết quả.
Sau gần 2 năm thực hiện nhiệm vụ (kể cả bớc lập đề cơng), kết quả thực
hiện của toàn đề án đợc tổng hợp trong bảng IV.1 của phụ lục báo cáo kinh tế - kế
hoạch. Trong bảng, mỗi hạng mục công việc thực hiện đợc đem so sánh với đề án
đợc phê duyệt và tổng hợp dự toán đợc duyệt hàng năm theo tỷ lệ %. Một số kết
quả so sánh với đề án đợc duyệt cho thấy đa phần các hạng mục công việc đều thực
hiện 100% so với đề án. Một số hạng mục tăng hay giảm vì lý do sau:
- Tháng công tiền lơng cơ bản tăng 19%, nguyên nhân đề án đợc kéo dài
thêm 3 tháng tổng kết và can in nộp lu trữ (can in nộp lu trữ từ tháng 6/2003 nay
tới tháng 9/2003).
- Tháng công khảo sát thực địa chỉ bằng 52% khi xây dựng đề án dự kiến sẽ
tiến hành khảo sát 5 tháng/ ngời. Song năm 2002 vốn cấp chỉ có thể tiến hành khảo
sát 3 tháng/ ngời, mặt khác, năm 2003 Hội đồng nghiệm thu Viện xét thấy không
nên tiếp tục triển khai thực địa vì thời gian không cho phép, sợ ảnh hởng đến tiến
độ tổng kết báo cáo.
7
Chơng I
Đặc điểm địa lý tự nhiên, kinh tế - nhân
văn, lịch sử nghiên cứu và các phơng
pháp đ tiến hành
I.1. Đặc điểm địa lý tự nhiên, kinh tế - nhân văn
I.1.1. Vị trí địa lý
Diện tích nghiên cứu bao gồm 167km
2
xã Châu Bình - Quỳ Châu thuộc cánh
đông bắc khối nâng Bù Khạng và 133km
2
vùng Bản Ngọc - Quỳ Hợp thuộc cánh tây
nam khối nâng cùng tên (hình I.1).
- Vùng Châu Bình, huyện Quỳ Châu với diện tích 167km
2
đợc giới hạn bởi
toạ độ:
X (m) Y (m) X (m) Y (m)
A 2.159.400 506.400 D 2.144.950 532.250
B 2.159.400 520.000 E 2.149.950 526.200
c
o
n
I
18
105 18'52"
36
19
18'37"
30
5
48
thị trấn Quỳ Hợp
Đờng ô tô
Diện tích vùng nghiên cứu
Đờng ranh giới địa chính huyện
10
18 24
Chỉ dẫn
19
32'10"
105 18'52"
30
5
E
C
D
H
x Châu Lộc
54
c
h
â
u
x Châu Bình
tỷ lệ 1:250.000
1cm bằng 2.500m thực địa
5
kilometers
42
42
48
54
21
36
21
0
12
5
Sông, suối
19
18'37"
105 03'25"
G
H
I
K
Hình I.1: Sơ đồ diện tích vùng nghiên cứu
vùng Châu Bình - Bản Ngọc (Quỳ Châu - Quỳ Hợp, nghệ an)
1
bk
1
), granit biotit dạng gneis, granit biotit và pegmatit, granit pegmatit thuộc
phức hệ Bản Chiềng. Trên dạng địa hình này phát triển các thung lũng hẹp hình lòng
chảo, tơng đối thoải, phát triển các thềm bậc thang và bị chia cắt bởi mạng sông
suối hiện đại. Đây là các thung lũng chứa đá quý, đợc hình thành do quá trình bóc
mòn - tích tụ.
- Địa hình karst
Dạng địa hình này phát triển hạn chế, chúng tập trung ở phần phía bắc trong
các trầm tích carbonat hệ tầng Mờng Lống (C-Pml) thuộc diện tích 133km
2
vùng
Bản Ngọc - Quỳ Hợp.
Địa hình karst thuộc loại địa hình núi cao trung bình, vách dựng đứng, lởm
chởm dạng tai mèo với nhiều thung lũng karst kín, nửa kín và các hang karst. Trong
các thung lũng karst hiện đang bị dân khai thác thiếc, trong các máng đãi thiếc thỉnh
thoảng gặp ruby, saphir kích thớc nhỏ, chất lợng kém, tuy nhiên đã đôi lần dân
đãi đợc viên ruby thơng phẩm có giá trị.
10
I.1.3. Mạng lới sông suối
Trong vùng công tác có 2 sông lớn là Sông Hiếu nằm ở phía bắc và Sông Con
nằm ở phía nam, các sông đều nằm ở giáp biên diện tích nghiên cứu. Hệ sông suối
trên diện tích 167km
2
Châu Bình đều bắt nguồn từ phía đông nam chảy theo hớng
bắc và đổ ra Sông Hiếu , đây là dòng chảy thờng xuyên, độ dốc không lớn, song về
mùa ma lũ (tháng 7 - 8 - 9) nớc dâng lên nhanh và chảy xiết, thờng gây nên úng
I.2. Lịch sử nghiên cứu
Quỳ Châu - Quỳ Hợp là vùng đã đợc nhiều nhà địa chất quan tâm nghiên
cứu địa chất - khoáng sản nói chung và đá quý nói riêng.
Giai đoạn trớc năm 1945, vùng này đã đợc các nhà địa chất Pháp nh
Jacop, Fromaget nghiên cứu và đợc thể hiện trên bản đồ địa chất Đông Dơng, tỷ
lệ 1:2.000.000. Từ năm 1960 đến nay bản đồ địa chất các tỷ lệ 1:500.000, 1:200.000
và 1:50.000 đợc các nhà địa chất Việt Nam và Liên Xô cũ thành lập trong đó đều
xếp vùng Quỳ Châu - Quỳ Hợp vào khối nâng trung tâm Phu Hoạt với móng kết tinh
là các đá biến chất có tuổi tiền Cambri.
Việc nghiên cứu, điều tra, tìm kiếm, thăm dò đá quý vùng Quỳ Châu - Quỳ
Hợp đợc bắt đầu từ năm 1980 với đề tài Đánh giá biểu hiện mỏ đá quý - nửa quý ở
Việt Nam thuộc chơng trình cấp nhà nớc (44.03.04.10) (1980-1985) do Lê Đình
Hữu, Nguyễn Văn Ngọc làm chủ biên, đã đề cập đến ruby, saphir sa khoáng phân bố
trong các thung lũng vùng Bù Khạng. Báo cáo kết quả tìm kiếm đá màu tây Nghệ
An (Nguyễn Văn Hơng, Đỗ Đức Quang, 1992) đã phân chia diện tích triển vọng đá
màu mức A, B, C thuộc xã Châu Bình (Quỳ Châu) và Yên Hợp (Quỳ Hợp) với diện
tích chung là 32km
2
. Ngoài ra còn xác định thung lũng Bản Hạt xã Châu Tiến rất
triển vọng đá quý. Trong quá trình nghiên cứu và thu thập tài liệu từ năm 1987, đặc
biệt trong 2 năm (1992 - 1993), Phan Trờng Thị đã xác lập những tiền đề cơ bản
sinh khoáng ruby ở Quỳ Châu là:
- Diện lộ các đá biến chất cao, giàu nhôm (chứa silimanit, cordierit, granat )
tuổi tiền Cambri.
- Những thấu kính đá vôi (bị biến chất thành đá hoa).
- Xuyên qua hai thành tạo trên là granitoid dới dạng các thể xâm nhập nhỏ
hay dạng tiêm nhập kiểu granit hoá, kèm theo những hoạt động trao đổi biến chất
giữa granit và đá vôi.
Với những tiền đề đó, ruby gốc ở Quỳ Châu gặp không những trong granitoid
(cụ thể là các thể pegmatit màu trắng, hạt thô), mà còn trong đá hoa. Ruby sa
phiến thạch anh - mica - silimanit - disten - staurolit, plagiogneis, chứa các thể
granit sáng màu (micmatit, granitogneis cao nhôm và pegmatit).
Trong báo cáo địa chất kết quả tìm kiếm đá quý vùng Quế Phong, Nghĩa
Đàn, Nghệ An, tỷ lệ 1:50.000 (Nguyễn Đình Bình và nnk, 1995) khoanh định triển
vọng ruby, saphir sa khoáng. Triển vọng đá quý mức A thuộc khu vực Đồng Cộng
xã Châu Bình, Quỳ Châu. Ruby, saphir ở đây nằm trong lớp hạt thô, dày 0,4 - 2,4m,
trong đó hàm lợng ruby, saphir: 0,01 - 16,55g/m
3
. Triển vọng đá quý mức B thuộc
khu vực Châu Hạnh - Quỳ Châu. Ruby, saphir ở đây cũng nằm trong lớp hạt thô,
dày trung bình 1,8m, hàm lợng 0,3 - 4,25g/m
3
. Trong những khu vực triển vọng đã
tiến hành tìm kiếm đá quý chi tiết tỷ lệ 1: 25.000 và 1:10.000 (Đỗ Đức Quang,
1997; Đào Hồng Quang, 1998 và Hoàng Xuân Nhật, 1999). ở đây đã tiến hành
nhiều công trình nh hào, giếng, khoan, nghiên cứu tích tụ đá quý trong đá gốc ở
Đồi Bà Trạc, Cổ Cò, Bản Đung và trong vỏ phong hoá, trong deluvi, aluvi.
Nghiên cứu tiêu hình đá quý (ruby, saphir) ở Việt Nam (Phạm Văn Long và
nnk, 2001 thuộc Trung tâm Nghiên cứu Kiểm định Đá Quỳ - Tổng Công ty Đá quý
và Vàng Việt Nam) đã làm rõ hình thái tinh thể, thành phần hoá học, màu sắc tổ hợp
13
cộng sinh khoáng vật, các dạng bao thể tồn tại bên trong ruby, saphir vùng Quỳ
Châu, từ đó luận giải điều kiện môi trờng sinh thành đá quý ở đây.
Việc khai thác đá quý ở Quỳ Châu bắt đầu từ năm 1986 đến nay. Các công
ty, xí nghiệp khai thác đá quý tập trung vào các thành tạo eluvi của vỏ phong hoá
chứa đá quý (Xí nghiệp I và II ở Đồi Tỷ) và cả trong bồi tích chứa đá quý (Đồi Triệu
và các thung lũng hiện đại). Ngoài ra việc đào bới, khai thác đá quý tự phát của
ngời dân là rất phổ biến trong vùng. Diện tích đất trên mặt do dân đào bới, khai
thác để lấy đá quý gấp nhiều lần do các công ty, xí nghiệp của nhà nớc và địa
quý.
I.3.2. Lộ trình địa chất bổ sung
Quỹ thời gian thực địa thi công đề án rất ngắn trong năm 2002, với 2 đợt thực
địa.
Đợt 1 từ tháng 5 đến tháng 6, đợt 2 từ tháng 11 đến tháng 12, ngoài những
hành trình khảo sát dọc theo hệ thống sông suối trên diện tích 300km
2
nhằm làm rõ
thêm về địa tầng, magma, kiến tạo, đặc biệt phát hiện các điểm đá gốc chứa ruby,
saphir (vùng Bản Ngọc, Bản Hạt, Bản Cút). Trên các diện tích có triển vọng đá quý
đã tiến hành khảo sát chi tiết theo mặt cắt bằng phơng pháp địa bàn, thớc dây
(Đồi Tỷ - Mồ Côi, Đồi Sắn, Cổ Cò - Kẻ Nâm), mạng lới quan sát theo tuyến 50 x
5m, có nơi cắt qua thân đá quý là 10 x1m - Trên đó đã thu thập và lấy đồng bộ các
loại mẫu thạch học, thạch học định hớng, giã đãi eluvi Kết quả khảo sát và phân
tích mẫu đợc thể hiện trên các sơ đồ thạch học - cấu trúc tỷ lệ 1:2000 (bản vẽ số 7,
9, 11).
I.3.3. Phơng pháp trọng sa
Phơng pháp trọng sa nhằm phát hiện các tổ hợp cộng sinh khoáng vật bền
vững chỉ thị cho đá quý, là những dấu hiệu trực tiếp để phát hiện các diện tích có
khả năng tồn tại đá quý, vì vậy trong quá trình thi công đây là phơng pháp đợc đề
án đặc biệt quan tâm.
Phơng pháp đợc chia làm hai giai đoạn.
- Giai đoạn 1:
Lấy mẫu trọng sa thiên nhiên theo đờng lộ trình, vị trí lấy
mẫu là những nơi mà tài liệu trọng sa trớc đó có kết quả khả quan về đá quý. Lấy
mẫu trọng sa trong eluvi của các đá liên quan đến nguồn gốc của đá quý trong
calcyphir, đá biến chất trao đổi giàu mica, đá hoa, pegmatit, granit biotit.
- Giai đoạn 2: Chủ yếu tập trung lấy mẫu trong tầng eluvi tại các điểm lộ tự
nhiên trên các tuyến khảo sát mặt cắt chi tiết, rửa đãi mẫu trọng sa tại các công trình
khai đào.
ợc hiệu quả nh mong đợi,
nguyên nhân chủ yếu là do lớp phủ dày và đã bị đào bới, xáo trộn mạnh.
Vì vậy, ngày 12/6/2002 theo kết luận của đoàn kiểm tra thực địa do
PGS.TSKH. Dơng Đức Kiêm làm trởng đoàn đã đề nghị dừng thi công các
phơng pháp địa vật lý (khối lợng công tác địa vật lý chỉ thực hiện 49% giá trị so
với đề án). 16
I.3.5. Phơng pháp lấy và phân tích các loại mẫu
a. Phơng pháp lấy mẫu
Việc lấy các loại mẫu đợc thực hiện theo đúng quy trình đã đợc Cục Địa chất
và Khoáng sản Việt Nam ban hành. Mẫu lấy đảm bảo tơi và mang tính đại diện. Mẫu
giã đãi lấy theo rãnh cắt vuông góc với thân đá quý và trọng lợng 8-10kg. Riêng các
mẫu lấy tại các công trình hào trọng lợng đãi rửa là 50kg. Các mẫu lấy đợc đem
gửi phân tích tại Phòng Phân tích Khoáng thạch - Viện Nghiên cứu Địa chất và
Khoáng sản.
b. Phơng pháp phân tích mẫu
- Mẫu thạch học, khoáng tớng, khoáng vật, bao thể, microsond đợc phân
tích tại Viện Nghiên cứu Địa chất và Khoáng sản.
- Mẫu hoá carbonat, silicat, plasma đợc phân tích tại Trung tâm Phân tích
Thí nghiệm Địa chất - Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam.
- Mẫu huỳnh quang tia X, kích hoạt nơtron đợc phân tích tại Trung tâm
Nghiên cứu Năng lợng và Nguyên tử Quốc Gia - Đà Lạt.
- Mẫu phổ raman, giác kế do Trung tâm Kiểm định Đá quý thuộc Tổng Công
ty Khoáng sản Việt Nam thực hiện.
17
Chơng II
Địa chất vùng nghiên cứu
. Chiều dày của tập tại khu vực nghiên cứu biến thiên
trong khoảng 1000 - 2000m. Đá thờng có cấu tạo dải, gneis hoặc phân phiến. Các
đá của tập này bị các thể granit biotit hạt nhỏ đến lớn, granit biotit dạng gneis và các
thân pegmatit biotit hạt lớn, granit pegmatit thuộc phức hệ Bản Chiềng (GP
G
/E
bc
)
xuyên cắt. Tại ranh giới tiếp xúc giữa đá trầm tích biến chất giàu carbonat với granit
biotit và pegmatit biotit xuất hiện đới biến chất tiếp xúc trao đổi đợc đặc trng bởi
các đá skarn Mg-Ca chứa corindon có nơi là ruby, saphir. Đây là một trong những
tiền đề tìm kiếm đá quý trong khu vực nghiên cứu.
Sau đây mô tả sơ lợc đặc điểm của một số đá chủ yếu:
1. Đá phiến thạch anh - mica - plagioclas có silimanit.
Trong tập 1 loại đá
này chiếm u thế. Đá hạt mịn màu xám tối giàu biotit với những vảy khá lớn, ít hơn
còn gặp muscovit mặt phân phiến phù hợp với mặt phân lớp nguyên thuỷ, đá bị vò
18
nhầu tạo thành những nếp uốn nhỏ. Thành phần khoáng vật chính: thạch anh 60-
70%, biotit 15-20%, plagioclas 10%, khoáng vật thứ yếu orthoclas và silimanit.
Khoáng vật phụ có granat, zircon, apatit Các đá này đôi nơi bị micmatit hoá.
2. Plagiogneis:
Tạo thành những lớp có chiều dày vài mét đến hàng chục
mét, nằm xen trong đá phiến thạch anh - mica, cấu tạo dải điển hình. Đá có màu
xám sáng hạt trung - thô, mặt phân dải trùng với mặt phân lớp, các ban tinh
plagioclas có dạng bầu dục, kích thớc có khi tới 0,6 1,0 cm, chúng thờng bị
granit pegmatit tiêm nhập dạng micmatit (ảnh II.2). Thành phần khoáng vật chính:
đến 50
o
, ở vùng Bản Ngọc -
Bản Kèn cắm về tây nam. Chiều dày của tập khoảng 800m. Thành phần chính đất đá
của tập là: đá phiến thạch anh mica chứa staurolit, disten, đá phiến thạch anh - mica
- plagioclas - granat xen quarzit biotit.
Đặc điểm các đá nh sau:
Đá phiến thạch anh - mica chứa staurolit, disten:
Đây là loại đá chiếm số
lợng chủ yếu trong tập. Chúng lộ ra với chiều dày từ vài chục mét đến hàng trăm
mét nằm xen với các loại đá khác. Đá phân phiến mạnh, trên mặt phân phiến có
những nếp uốn nhỏ dạng gợn sóng. Trong đá phát triển nhiều các mạch và thấu kính
thạch anh theo lớp, có chiều dày từ vài cm đến vài dm. Trong đá phổ biến các hạt
granat, disten, staurolit kích thớc lớn. Thành phần khoáng vật chính gồm thạch
anh: 40-50%, mica (biotit, muscovit): 30-35%, orthoclas: 7-10%, disten, granat;
khoáng vật phụ gồm apatit, turmalin, zircon; khoáng vật thứ sinh có epidot. Đá có
kiến trúc hạt vẩy biến tinh, đôi khi là ban biến tinh.
q
q
q
fp
fp
fp
bt
bt
ảnh II.1: Gneis (thạch anh - felspat - biotit)
Lát mỏng ĐT.115; Nicon +; 15x
ảnh II.2: Granit pegmatit tiêm nhập dạng micmatit theo
mặt lớp trong đá gneis hệ tầng Bù Khạng (NP-\1bk)
Vết lộ La.72 - Đồi Cỏ May
1
). Trên diện tích 133km
2
vùng Bản Ngọc các đá của hệ tầng Sông Cả phân bố ở cánh tây nam vòm Bù Khạng
với diện tích khoảng 35km
2
, chúng tạo thành một dải kéo dài từ Bản Cút đến Bản
Poòng dài trên 15km, chiều rộng thay đổi từ 200m đến 300m (Bản Cút) đến 1,5 -
2km (vùng Bản Poòng). Dải đợc giới hạn bởi tiếp xúc kiến tạo với các đá biến chất
hệ tầng Bù Khạng ở phía bắc qua đứt gãy Bản Kén - Bản Ngoi (F
1
2
) và bị phủ bởi
các trầm tích trẻ hơn ở phía nam nh hệ tầng La Khê (C
1
lk
).
Thành phần đất đá của hệ tầng Sông Cả bao gồm: phần dới chủ yếu là đá
phiến thạch anh hai mica chứa granat hạt nhỏ xen những tập quarzit - mica, cát kết
dạng quarzit hạt mịn, phần trên gồm đá phiến thạch anh - biotit - sericit xen những
lớp mỏng quarzit mica hạt nhỏ. Trên cùng mặt cắt của hệ tầng thờng có các lớp
mỏng đá, cát kết chứa sericit và giàu vật chất than, chiều dày hệ tầng 800 - 1000m.
II.1.3. Hệ tầng La Khê (C
1
lk)
Trong cả 2 diện tích nghiên cứu Châu Bình và Bản Ngọc các trầm tích thuộc
hệ tầng La Khê chỉ lộ thành diện nhỏ men theo chân của các thung lũng đá hoa của
hệ tầng Mờng Lống (C-P
ml
thuộc Tổng Công ty Đá quý và Vàng Việt Nam đầu t nghiên cứu, tìm kiếm đánh
giá từ những năm 1990 đến năm 2000, vì đây là đối tợng chứa ruby và saphir
thơng phẩm. Theo các kết quả nghiên cứu trên, dựa vào đặc điểm địa mạo, đặc
điểm tớng trầm tích, vị trí tích tụ, các thành tạo Đệ Tứ đợc chia ra nh sau:
1. Các tích tụ thềm bậc III (aQ
1
1
)
Thềm bậc III chỉ còn những mảnh sét ở độ cao 10-15m thuộc khu vực Châu
Bình, phía đông nam diện tích nghiên cứu. Bề mặt thềm bị bào mòn rửa trôi mạnh
tạo thành dạng đồi thoải, thấp với những rãnh xâm thực nhỏ. Bậc thềm đợc cấu tạo
bởi 2 tầng trầm tích.
Tầng dới thuộc
tớng lòng sông bao gồm đá tảng, cuội, sỏi, cát pha sét có
độ gắn kết tốt, đôi nơi bị laterit hoá. Thành phần trầm tích theo quy luật hạt thô tăng
dần theo chiều sâu. Bề dày khoảng 0,5 - 10m. Hàm lợng các khoáng vật quặng
cũng nh đá quý nghèo.
Tầng trên thuộc tớng bãi bồi, hầu hết đã bị bào mòn, rửa trôi, đôi nơi còn sót
lại với bề dày mỏng 0,2 - 1m, không chứa đá quý.
2. Các tích tụ thềm bậc II (aQ
1
2
)
22
Các thành tạo này phân bố trong các thung lũng lớn (Bãi Bằng, Bản Hạt, Bản
Ngọc). Chiều dày thay đổi từ 1m đến 8m, trung bình 4m.
Tại Bãi Bằng - Châu Bình mặt cắt qua thung lũng thềm bậc II gồm 2 tầng:
khá cao và có thung lũng đạt độ sâu tơng đối của tầng chứa thiếc tới 20m. Ngoài
thiếc, trong máng đãi còn có ruby và saphir, tuy nhiên, mật độ đá quý ở đây tha và
kích thớc hạt bé, chất lợng xấu ít đợc dân chú ý tận thu.
23
II.2. Magma xâm nhập
ở
vùng Châu Bình - Bản Ngọc có các thành tạo xâm nhập thành phần bazơ và
acid.
Căn cứ vào thành phần thạch học, khoáng vật, thạch hoá, vị trí cấu trúc địa
chất và so sánh với các đá thuộc các phức hệ đã đợc xác định ở các khu vực khác
nhau, các thành tạo xâm nhập trong vùng nghiên cứu đợc chia ra các phức hệ sau:
- Phức hệ Đại Lộc (G/aD
1
đl
)
- Phức hệ Núi Chúa (Gb/aT
3
nc
)
- Phức hệ Bản Chiềng (GP
G
/E
bc
)
II.2.1. Phức hệ Đại Lộc (G/aD
24
theo phơng ép của đá. Biotit tạo thành các dải uốn lợn theo các mắt felspat.
ở
những nơi đá bị milomit hoá thì felspat và khoáng vật màu tạo thành những dải song
song nằm xen kẽ nhau.
Thành phần khoáng vật của đá (%): felspat kali (35-45), plagioclas (15-25),
thạch anh (25-35), biotit (5-10). Các khoáng vật phụ đặc trng là zircon, apatit,
granat, orthit
3. Đặc điểm khoáng vật
- Felspat kali là orthoclas: Dạng tấm, kéo dài với kích thớc 0,5 - 2mm theo
chiều ngang, sắp xếp định hớng theo phơng ép của đá; thỉnh thoảng gặp song tinh
theo luật carbard, thờng gặp pertit với hình dạng thô, kì dị, ngoài ra còn gặp các
bao thể thạch anh, plagioclas. Hiện tợng biến đổi chủ yếu là pelit hoá, sericit hoá
nhng mức độ thấp. Đá có cấu tạo gneis, kiến trúc hạt biến tinh. Những nơi bị
kataclazit hoá, milonit hoá các tấm felspat kali bị ép dẹt, bị vỡ vụn ở phần rìa tạo hạt
biến tinh.
- Plagioclas là oligoclas:
Dạng tấm nhỏ, đờng ranh giới rõ ràng hoặc đợc
bao quanh bởi tập hợp hạt nhỏ biến tinh. Tinh thể thờng bị ép dẹt, nằm định hớng
theo phơng ép của đá. Song tinh theo luật albit, góc tắt đối xứng cực đại 10-14
o
,
plagioclas thờng bị sericit hoá yếu. Nhiều nơi thấy kiến trúc myrmekit nằm ở ranh
giới giữa plagioclas và orthoclas. Đây là kết quả của quá trình trao đổi biến chất
kiềm.
- Thạch anh
có dạng méo mó tha hình, thờng bị dập vỡ tạo thành hạt biến