MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 2
DANH MỤC BẢNG 3
DANH MỤC BIỂU ĐỒ 4
LỜI MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN VỐN HỖ TRỢ
CHÍNH THỨC (ODA) VÀ GIẢI NGÂN VỐN ODA 1
1.1.Lý luận cơ bản về ODA 1
1.1.1.Khái niệm và đặc điểm vốn ODA 1
1.1.2.Phân loại vốn ODA 3
1.1.3.Vai trò của vốn ODA đối với các nước đang phát triển 5
1.2.Sự cần thiết phải tăng cường thu hút và đẩy nhanh tiến độ giải ngân
vốn ODA ở Việt Nam 6
1.3. Kinh nghiệm của một số nước trong việc sử dụng nguồn vốn ODA 8
1.3.1. Kinh nghiệm của một số nước thành công: 8
1.3.2. Kinh nghiệm của một số nước không thành công: 9
CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH GIẢI NGÂN
NGUỒN VỐN ODA TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1993-2012 11
2.1.Đánh giá chung về tình hình giải ngân vốn ODA 11
2.1.1.Tình hình giải ngân chung qua các năm 11
2.1.2.Tình hình giải ngân theo ngành, lĩnh vực: 16
2.1.3.Tình hình giải ngân phân theo vùng, miền, thành phố 21
2.1.4.Tình hình giải ngân theo nhà tài trợ: 24
2.2.Đánh giá chung việc giải ngân nguồn vốn ODA trong thời gian qua 26
2.2.1.Những thành tựu đạt được 26
2.2.2.Những tồn tại trong việc giải ngân và nguyên nhân: 27
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP ĐẨY NHANH TIẾN ĐỘ GIẢI NGÂN VỐN
ODA 34
1.Mở rộng diện thụ hưởng vốn ODA đối với các khu vực ngoài nhà nước.
34
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Tình hình cam kết, ký kết, giải ngân ODA giai đoạn 1993-2012 13
Biểu đồ 2.2. Tỷ lệ ODA vùng so với cả nước 22
LỜI MỞ ĐẦU
Để đáp ứng nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế xã hội, Việt Nam khuyến
khích cả hình thức đầu tư trực tiếp và hình thức đầu tư gián tiếp. Trong thời gian
qua vốn đầu tư gián tiếp chủ yếu là các nguồn ODA. Nguồn ngoại tệ này đã góp
phần quan trọng để khắc phục tình trạng thiếu vốn và cơ sở hạ tầng, khoa học kĩ
thuật thấp kém ở nước ta. Trong quá trình thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA
thời gian qua, mức giải ngân thấp luôn luôn là chủ đề thảo luận với nhiều nhà tài
trợ song phương và đa phương nhằm tìm ra những nguyên nhân và giải pháp để
khắc phục. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có sự tiến bộ đáng kể mà còn xuất
hiện xu hướng tốc độ giải ngân chậm lại trong thời gian gần đây. Giải ngân thấp
thể hiện sự không hiệu quả trong việc sử dụng nguồn vốn ODA và là một sự lãng
phí lớn, trong điều kiện nhu cầu về vốn cho phát triển kinh tế còn rất lớn như
hiện nay. Xuất phát từ lý do đó, em đã chọn đề tài : “Những giải pháp nhằm đẩy
nhanh tiến độ giải ngân nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tại Việt
Nam” để tìm hiểu, nghiên cứu.
Mục tiêu của đề tài: Phân tích thực trạng giải ngân ODA ở Việt Nam trong
những năm qua để tìm ra những tồn tại, nguyên nhân và đề xuất các giải pháp
nhằm thúc đẩy tốc độ giải ngân ODA, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn
này.
Nội dung của đề tài:
- Chương I : Cơ sở lý luận chung về nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
(ODA) và giải ngân vốn ODA.
- Chương II : Đánh giá tổng quan về tình hình giải ngân nguồn vốn ODA tại
Việt Nam giai đoạn 1993-2012.
- Chương III : Những giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ giải ngân ODA
giai đoạn tới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
nước (thường là các nước đang phát triển) nhằm phát triển kinh tế-xã hội.
Năm 1972, tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển đã đưa ra định nghĩa như
sau: "ODA là một giao dịch chính thức được thiết lập với mục đích thúc đẩy sự
phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển. Điều kiện tài chính của
giao dịch này có tính chất ưu đãi và thành tố viện trợ không hoàn lại chiếm ít
nhất 25%".
Nghị định 131/2006/NĐ-CP ngày 9/11/2006 về việc ban hành Quy chế quản
lý và sử dụng nguồn viện trợ phát triển chính thức của chính phủ Việt Nam ghi
rõ: “Viện trợ phát triển chính thức (ODA) là hoạt động hợp tác phát triển giữa
Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Nhà
1
tài trợ là Chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức
liên quốc gia hoặc liên chính phủ”. Như vậy vốn ODA phản ánh mối quan hệ
giữa 2 bên: bên tài trợ gồm các tổ chức quốc tế, Chính phủ các nước phát triển
và bên nhận tài trợ là Chính phủ một nước (thường là một nước đang phát triển)
với mục đích giúp đỡ nước này phát triển kinh tế-xã hội. Bộ phận chính của
nguồn vốn ODA là vốn vay ưu đãi, Chính phủ nước nhận tài trợ (vay nợ) phải
thực hiện nghĩa vụ hoàn trả nợ trong tương lai.
1.1.1.2. Đặc điểm vốn ODA.
- ODA là một giao dịch quốc tế, thể hiện ở chỗ hai bên tham gia giao dịch
này không có cùng quốc tịch. Bên cung cấp thường là các nước phát triển hay
các tổ chức phi chính phủ. Bên tiếp nhận thường là các nước đang phát triển hay
các nước gặp khó khăn về nguồn lực trong việc giải quyết các vấn đề xã hội,
kinh tế hay môi trường.
- ODA thường được thực hiện qua hai kênh giao dịch là kênh song phương
và kênh đa phương. Kênh song phương, quốc gia tài trợ cung cấp ODA trực tiếp
cho chính phủ quốc gia được tài trợ. Kênh đa phương, các tổ chức quốc tế hoạt
động nhờ các khoản đóng góp của nhiều nước thành viên cung cấp ODA cho
quốc gia được viện trợ. Đối với các nước thành viên thì đây là cách cung cấp
ODA gián tiếp.
không tính lãi hoặc nước đi vay được tính một mức lãi suất đặc biệt. Loại ODA
này thường được nước tiếp nhận đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng xã hội như
xây dựng đường xá, cầu cảng, nhà máy Muốn được nhà tài trợ đồng ý cung cấp,
nước sở tại phải đệ trình các văn bản dự án lên các cơ quan có thẩm quyền của
chính phủ nước tài trợ. Sau khi xem xét khả thi và tính hiệu quả của dự án, cơ
quan này sẽ đệ trình lên chính phủ để phê duyệt. Loại ODA này chiếm phần lớn
khối lượng ODA trên thế giới hiện nay.
- Hình thức hỗn hợp: ODA theo hình thức này bao gồm một phần là ODA
không hoàn lại và một phần là ODA vốn vay ưu đãi. Đây là loại ODA được áp
dụng phổ biến trong thời gian gần đây. Loại ODA này được áp dụng nhằm mục
đích nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn này.
3
1.1.2.2. Phân loại theo mục đích.
- Hỗ trợ cơ bản: là những nguồn lực được cung cấp để đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng kinh tế - xã hội và môi trường. đây thường là những khoản cho vay ưu
đãi.
- Hỗ trợ kỹ thuật: là những nguồn lực dành cho chuyển giao tri thức, công
nghệ, xây dựng năng lực, tiến hành nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu tiền đầu
tư phát triển thể chế và nguồn nhân lực Loại hỗ trợ này chủ yếu là viện trợ
không hoàn lại.
1.1.2.3. Phân loại theo điều kiện
- ODA không ràng buộc: Là việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràng buộc
bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng.
- ODA có ràng buộc:
+ Ràng buộc bởi nguồn sử dụng: Có nghĩa là nguồn ODA được cung cấp
dành để mua sắm hàng hoá, trang thiết bị hay dịch vụ chỉ giới hạn cho một số
công ty do nước tài trợ sở hữu hoặc kiểm soát (đối với viện trợ song phương),
hoặc công ty của các nước thành viên (đối với viện trợ đa phương).
+ Ràng buộc bởi mục đích sử dụng: Nghĩa là nước nhận viện trợ chỉ được
cung cấp nguồn vốn ODA với điều kiện là phải sử dụng nguồn vốn này cho
nước đang phát triển phải tìm mọi cách nâng cao hiệu quả, tính cạnh tranh của
nền kinh tế và vấn đề thiếu vốn đang là trở ngại lớn nhất trên con đường tìm
kiếm sự phát triển của các nước này. Hàng năm, với tinh thần nhân đạo cao cả,
các nước phát triển đã cung cấp một khối lượng ODA đáng kể trị giá hàng trăm
tỷ USD cho các quốc gia đang phát triển. Khối lượng ODA đó có vai trò rất quan
trọng đối với các nước này, nó cho phép họ có một khoản tiền để giải quyết một
số vấn đề cấp thiết, và đầu tư vào hạ tầng cơ sở, các công trình công cộng.
5
Hiện nay, xu hướng chung của các nước đang phát triển là tìm cách thu hút
nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI và ODA), bổ sung cho nguồn vốn eo hẹp
trong nước. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), có ưu điểm là khối
lượng vốn đầu tư lớn và nước tiếp nhận không phải chịu gánh nặng nợ nần.
Nhưng nếu muốn thu hút được nhiều nguồn vốn FDI thì đòi hỏi các nước đang
phát triển phải có một hệ thống cơ sở hạ tầng tốt, một môi trường kinh doanh
thuận lợi. Đây là những yếu tố mà các nước đang phát triển còn thiếu. Nếu chỉ
thu hút riêng vốn FDI thì không đủ nhu cầu ngày càng cao về vốn cho phát triển
kinh tế - xã hội. Vì vậy, phải thu hút nguồn vốn ODA để bổ sung nhu cầu về
vốn. ODA có ưu điểm là nước tiếp nhận được chủ động trong việc sử dụng
nguồn vốn này vào những lĩnh vực mà mình quan tâm. Ngoài việc sử dụng vốn
ODA để giải quyết các vấn đề khác của đất nước thì ODA có thể tập trung cho
việc xây dựng cơ sở hạ tầng, làm cho môi trường kinh doanh thuận lợi hơn. Điều
này sẽ góp phần tích cực tăng khả năng thu hút nguồn vốn FDI của các nước
đang phát triển.
1.2. Sự cần thiết phải tăng cường thu hút và đẩy nhanh tiến độ giải
ngân vốn ODA ở Việt Nam.
Đi lên từ một nền kinh tế nông nghiệp, đất nước ta còn nghèo nàn và lạc
hậu, hiện nay chúng ta chưa có đủ các tiền đề cần thiết cho một sự phát triển bền
vững. Để phát triển nền kinh tế với tốc độ nhanh trong khi nền kinh tế nhỏ bé
đang thiếu vốn nghiêm trọng và tiết kiệm trong nước còn quá thấp thì cần phải
bổ sung vốn đầu tư bằng khối lượng lớn nguồn vốn nước ngoài. Huy động vốn
cam kết dành cho Việt Nam trong giai đoạn 1993-2012. Tuy nhiên, muốn có
được số vốn này để đầu tư vào các chương trình, dự án thì còn là một quá trình
từ xác định dự án, chuẩn bị dự án, thẩm định dự án, đàm phán vay vốn và phê
duyệt khoản vay cho tới thực hiện dự án. Có thể hiểu, để đưa những đồng vốn
ODA mà các nhà tài trợ đã cam kết vào thực hiện các chương trình, dự án chính
là quá trình giải ngân vốn ODA. Như vậy, muốn tận dụng tốt nguồn vốn ODA,
biến những cam kết của các nhà tài trợ thành hiện thực, chúng ta phải giải quyết
triệt để những yếu tố gây cản trở quá trình giải ngân nguồn vốn này. Có tăng
được tỷ lệ giải ngân thì việc thu hút nguồn vốn ODA mới thực sự có tác dụng.
Đẩy nhanh tiến độ giải ngân mới làm cho đồng vốn ODA thực sự đi vào cuộc
sống góp phần tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam.
7
Trong những năm qua, vốn ODA thực hiện đã góp phần quan trọng vào việc
phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, trong đó có nhiều dự án đã hoàn thành
và có tác động tích cực, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Biến Việt Nam từ một
nước nghèo có mức thu nhập GDP theo đầu người chỉ với 140 USD/người/năm
vào năm 1992 nay đã trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình, với mức thu
nhập GDP bình quân đầu người đạt 1.600 USD vào năm 2012. Bên cạnh những
kết quả tích cực, chúng ta cũng thấy rằng, quá trình quản lý, sử dụng ODA ở
Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế. Ðó là năng lực hấp thu viện trợ
quốc gia chưa cao, tiến độ thực hiện và giải ngân vốn ODA còn chậm so với kế
hoạch, thủ tục trong nước vẫn còn phức tạp, khác biệt với quy định của các nhà
tài trợ quốc tế Nhận thức rõ việc thực hiện các chương trình, dự án ODA có ý
nghĩa quan trọng, dưới sự chỉ đạo quyết liệt, sát sao của Chính phủ, các bộ,
ngành, địa phương đã có nhiều nỗ lực trong việc cải thiện tình hình giải ngân
vốn ODA.
Chính vì vậy chủ trương của Việt Nam tiếp tục: "Tranh thủ thu hút nguồn
tài trợ phát triển chính thức (ODA) đa phương và song phương, tập trung chủ
yếu cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, nâng cao trình độ khoa
học công nghệ và quản lý đồng thời dành một phần vốn tín dụng đầu tư cho các
án như trường hợp Tanzania (ODA dành cho xây dưng giao thông vận tải nhưng
giao thông vận tải của nước này chưa hề được cải thiện).
Thứ hai, chất lượng nguồn vốn bên ngoài nói chung và vốn ODA vẫn chưa
đủ mức cần thiết để nền kinh tế kém phát triển giữ nhịp độ tăng trưởng. Thiếu dự
trù trước, dự trù dài hạn các luồng vốn và đảm bảo tính liên tục của chúng.
Thứ ba, sự dựa dẫm thụ động vào viện trợ đã dẫn đến những tình trạng như
sử dụng vượt mức, phân bổ không hiệu quả, quản lý yếu kém, thiếu sự cam kết
của bên tiếp nhận như trường hợp của Zambia.
9
Thứ tư, thiếu động lực và năng lực quản lý trong khu vực Nhà nước như
trường hợp của Senegal trong giai đoạn từ 1986-1993.
Từ kinh nghiệm của các nước có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm có
thể vận dụng vào Việt Nam như sau:
Thứ nhất, tính chủ động của bên nhận viện trợ là yếu tố quan trọng có tính
quyết định đến thành công của việc thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn ODA.
Tính chủ động thể hiện qua việc chủ động hoạch định chiến lược chủ động quy
hoạch dự án và tiếp cận, phối hợp, điều phối các nhà tài trợ.
Thứ hai, nhìn nhận vốn ODA là quan trọng nhưng vốn đối ứng trong nước
có tính quyết định. Nếu sử dụng vốn ODA không hiệu quả thì không những
không có tác động tích cực vào tăng trưởng kinh tế, xoá đói và giảm nghèo mà
còn đẩy đất nước vào vòng nợ nước ngoài, nền kinh tế phụ thuộc vào nước ngoài
càng trầm trọng hơn.
Thứ ba, phải coi trọng hiệu quả sử dụng vốn ODA hơn là số lượng vốn
ODA. Mục tiêu cuối cùng là hiệu quả tích cực của vốn ODA đem lại, vốn ODA
cũng tuân theo qui luật lợi ích cận biên giảm dần, nên việc thu hút và sử dụng
vốn ODA phải vừa đảm bảo tính có trọng điểm và vừa đảm bảo tính đa dạng
theo chiều rộng.
Thứ tư, vốn ODA luôn đi kèm với các điều kiện về kinh tế, chính trị và mỗi
nhà tài trợ đều có hướng tập trung vào một số lĩnh vực nào đó. Vì vậy, khi đàm
phán, ký kết tiếp nhận vốn ODA phải tuân theo nguyên tắc độc lập dân chủ và
7,88 tỷ USD; còn trong giai đoạn 2006 - 2009 là 23,849 tỷ USD, 17,282 tỷ USD
và 10,3 tỷ USD, giai đoạn 2010-2012 là 23,354 tỷ USD, 14,368 tỷ USD và
12,470 tỷ USD. Con số này cũng cho ta thấy thực trạng hiện nay chúng ta chú
11
trọng nhiều đến công tác thu hút, vận động ODA tuy nhiên lại không quan tâm
thích đáng đến quá trình thực hiện, sử dụng nguồn vốn này.
Bảng 2.1.Tình hình cam kết, ký kết, giải ngân ODA giai đoạn 1993-2012.
ĐVT: Triệu USD
Năm Cam kết Ký kết
Giải
ngân
Tỷ lệ giải
ngân/cam
kết (%)
Tỷ lệ
giải
ngân/ký
kết (%)
Chênh
lệch vốn
giải ngân
ODA(+/-)
Tỷ lệ tăng
vốn giải
ngân
ODA (%)
1993 1860,8 816,68 413 22,19 50,57
1994 1958,7 2597,9 725 37,01 27,91 312 75,54
1995 2311,5 1443,5 737 31,88 51,06 12 1,66
1996
8063,78 6131,4 4105 50,91 66,95 1852 82,20
Tổng
22950 17100,4 10319 44,96 60,34
2010
7905 3172 3541 44,79 111,63 -564 -13,74
2011
7880 5477 3650 46,32 66,64 109 3,08
2012
7386 4919 5279 71,47 107,32 1629 44,63
Tổng
23171 13568 12470 53,82 91,91
Tổng
cộng
78686,7 55654 38688 49,17 69,52
12
Nguồn: Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư
Biểu đồ 2.1. Tình hình cam kết, ký kết, giải ngân ODA giai đoạn 1993-
2012.
Đvt: Triệu USD
Nguồn: Bộ Kế Hoạch và Đầu tư
Giai đoạn 1993-2000: Theo biểu đồ ta thấy giai đoạn 1993-2000 lượng vốn
giải ngân liên tục tăng, tình hình giải ngân nguồn ODA có sự tiến bộ dần qua các
năm, đạt hơn 8 tỷ USD chiếm hơn 45% vốn ODA đã cam kết. Có được kết quả
này là nhờ chiến lược và chính sách phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam đã
giành được sự đồng tình và ủng hộ của cộng đồng tài trợ quốc tế thông qua việc
cung cấp viện trợ phát triển cho Việt Nam. Nhưng từ năm 1997 đến 1999 mặc
dù có sự sụt giảm về lượng vốn cam kết do lúc này nền kinh tế thế giới đang rơi
vào cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997. Nhưng mức giải ngân vẫn
liên tục tăng thể hiện sự nỗ lực và cố gắng của Việt Nam và các nhà tài trợ dù
tình hình kinh tế đang trong giai đoạn khó khăn. Một số chương trình, dự án
hoàn thành một số dự án lớn về năng lượng trong giai đoạn 2000-2001 khiến cho
mức giải ngân 2001 giảm đáng kể. Sự suy giảm trong năm 2001 là sự suy giảm
đầu tiên kể từ năm 1993. Mức giải ngân giảm 9,09% sau 8 năm liên tục tăng.
Nguyên nhân là do một số dự án, chương trình do Nhật Bản tài trợ đã được hoàn
thành như Dự án nhà máy thủy điện Phú Mỹ, Phả Lại, Hàm Thuận-Đa Mi, cũng
như sáng kiến Miyazawa hỗ trợ phát triển khu vực tư nhân, cải cách doanh
nghiệp nhà nước và thương mại. Một số công trình quan trọng đã được hoàn
14
thành trong giai đoạn này là cầu Cần Thơ (370 triệu USD), dự án khôi phục 10
cầu đường sắt trên tuyến đường sắt Thông Nhất (1074 triệu USD), cầu Bãi Cháy
(180 triệu USD), dự án Đông Tây (9.700 triệu USD), dự án khôi phục quốc lộ 1
(615,6 triệu USD), dự án giáo dục đại học (108 triệu USD), dự án phát triển giáo
viên tiểu học (36 triệu USD), dự án đường xuyên Á (46 triệu USD), dự án nâng
cấp tỉnh lộ (121 triệu USD), dự án giáo dục kĩ thuật và dạy nghề (121 triệu
USD), dự án Đoàn tàu tốc hành giai đoạn 1 – CHLB Đức tài trợ (701 triệu USD)
…
Giai đoạn 2006-2009: Tình hình giải ngân vốn ODA có những cải thiện
nhất định với chiều hướng tích cực mức giải ngân kỷ lục lên tới 10,319 tỉ USD.
Năm 2009, giải ngân đạt mức khá cao là 4.105 triệu USD, tăng 82,2% so với
mức giải ngân năm 2008, nhưng trong đó có đến 1.843,5 triệu USD cung cấp
theo hình thức hỗ trợ ngân sách thông qua một số khoản vay của các nhà tài trợ
nhằm thực hiện các chính sách cải cách kinh tế, khắc phục hậu quả khủng hoảng
kinh tế và thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo. Như vậy, nếu không tính
các khoản hỗ trợ ngân sách này thì thực tế giải ngân vốn ODA năm 2009 chỉ
tăng 19% so với kế hoạch đề ra và tăng 0,38% so với năm 2008. Mức giải ngân
trong giai đoạn này vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra trong các kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội 5 năm và tỉ lệ giải ngân vẫn còn thấp hơn mức trung bình của thế
giới và khu vực theo đánh giá của các nhà tài trợ quốc tế. Tỉ lệ giải ngân trung
bình của khu vực trong thời điểm này là 20%, trong khi VN chỉ đạt 14%. Một số
dự án quan trọng được hoàn thành trong giai đoạn này là dự án cải tạo cảng Hải
số tiền trả nợ của Việt Nam nhiều lên, khoản vay đắt hơn. Thực tế này đặt ra cho
Việt Nam yêu cầu phải sử dụng vốn ODA với hiệu quả cao nhất, phải lựa chọn
mục tiêu và lĩnh vực ưu tiên đầu tư, đồng thời phải có các chính sách, giải pháp
về an toàn nợ nước ngoài.
Rõ ràng, ODA đang là nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức, đồng thời là
nguồn lực bổ sung cho đầu tư khi được sử dụng hiệu quả nhưng cũng tiềm ẩn
nhiều hậu quả bất lợi nếu không được sử dụng hiệu quả.
2.1.2. Tình hình giải ngân theo ngành, lĩnh vực:
Theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, việc thực hiện giải ngân vốn
ODA vẫn còn chưa đồng đều giữa các ngành, lĩnh vực và địa phương. Các dự án
sử dụng vốn chủ yếu tập trung vào lĩnh vực giao thông vận tải, năng lượng, xóa
16
đói giảm nghèo. Mức độ giải ngân khá chỉ tập trung ở các chương trình, dự án
thuộc lĩnh vực công nghiệp, năng lượng điện, giáo dục – đào tạo, nông nghiệp và
phát triển nông thôn.
Bảng 2.2. Tình hình, ký kết giải ngân ODA theo ngành, lĩnh vực:
ĐVT: triệu USD
Ngành, lĩnh vực Ký kết
Giải
ngân
Tỉ lệ giải ngân/ ký
kêt (%)
Giao thông vận tải - bưu chính
viễn thông
16473 8529,74 51,78
Công nghiệp - năng lượng 11502 9168,21 81,92
Nông nghiệp phát triển nông
thôn, xóa đói giảm nghèo
8850 7245 81,86
Môi trường- đô thị 7845 4934,7 61,99
giao thông là do thiếu vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam để thực hiện giải
phóng mặt bằng và tái định cư. Điều đáng nói, dự án càng chậm tiến độ lại càng
đội giá so với dự toán ban đầu, khiến giải ngân thêm khó khăn.
Lĩnh vực công nghiệp-năng lượng: Ngành năng lượng và công nghiệp có
tổng vốn ODA được ký kết trong thời kỳ 1993-2012 đạt 9.168,21 triệu USD,
trong đó viện trợ không hoàn lại không đáng kể, khoảng 0,1%. Tổng số nhà tài
trợ là 32, trong đó có 26 nhà tài trợ song phương và 6 nhà tài trợ đa
phương. Năng lượng và công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn thứ hai, với sự cải tạo,
nâng cấp, phát triển mới nhiều công trình, như các nhà máy nhiệt điện Phả Lại,
Phú Mỹ, Ô Môn,… các nhà máy thuỷ điện Hàm Thuận - Đa My, Đại Ninh,…;
cải tạo, phát triển mạng tuyền tải và phân phối điện quốc gia,…
Hiện nay, 81,92% số vốn ODA ký kết đã được giải ngân, chiếm tỷ trọng
23,71% mức giải ngân của cả nước. Riêng trong lĩnh vực năng lượng giải ngân
nguồn vốn ODA là 23,3%. Các dự án đang còn hiệu lực chủ yếu là các dự án
chuyển tiếp từ các năm trước. Nhật Bản vẫn là nhà tài trợ lớn nhất của ngành
công nghiệp.
18
Theo đánh giá của Bộ Công nghiệp, việc thực hiện các dự án từ nguồn
ODA đã có bước thuận lợi hơn, trong đó có công tác giải phóng mặt bằng, tạo
điều kiện đẩy nhanh tốc độ giải ngân.
Lĩnh vực nông nghiệp phát triển nông thôn, xóa đói giảm nghèo: Lĩnh
vực nông nghiệp và phát triển nông thôn kết hợp xóa đói giảm nghèo nhận được
nguồn vốn ODA đứng thứ ba với tổng trị giá ký kết khoảng 8.850 triệu USD
(ODA vốn vay: 7.430 triệu USD, ODA viện trợ không hoàn lại: 1.420 triệu
USD), giải ngân đạt 7.245 triệu USD, bằng 18,74% tổng giá trị vốn ODA giải
ngân của thời kỳ. Tỷ trọng ODA giải ngân so với ODA ký kết đạt 81,86%.Trong
đó lĩnh vực thủy lợi chiếm 45% tổng số vốn, tiếp theo là lĩnh vực nông nghiệp
(21%), phát triển nông thôn (15%), lâm nghiệp (15%) và thủy sản (4%).
Nông nghiệp và phát triển nông thôn, kết hợp xoá đói giảm nghèo chiếm tỷ
trọng lớn thứ ba, với các chương trình, dự án như giảm nghèo các tỉnh vùng núi