HỘI CHỨNG CHÈN ÉP TỦY
BÁC SĨ LÊ TỰ PHƯƠNG THẢO
MỤC TIÊU
Nắm được các triệu chứng chủ yếu của hội chứng chèn ép tủy.
Định vị được hội chứng chèn ép tủy trên lâm sàng.
I. ĐẠI CƯƠNG
Tủy sống nằm trong ống sống được túi màng cứng bao quanh. Túi này xuất phát từ lỗ
chẩm đến tận cùng đốt sống cùng thứ hai (S2)
Ngược với màng cứng ở sọ não, màng cứng cột sống không dính chắc vào xương, có một
khoảng ngoài màng cứng chứa mỡ và có những tĩnh mạch. Khoảng này có thể là nơi xuất
phát những tổn thương xâm lấn.
Do sự phát triển không đồng bộ giữa tủysống và những phần bao quanh, tủy sống chỉ
chiếm một phần ống sống và một phần của túi màng cứng mà thôi: mức thấp nhất của tủy
sống, còn gọi là chóp cùng không vượt quá bờ dưới của L1, dưới mức này túi màng cứng
chứa các rễ tạo nên chùm đuôi ngựa và dây cùng (filum terminal). Dây cùng, có bản chất
xuất phát từ màng nuôi, phần trên của nó là phần nối dài của ống nội tủy đi từ chóp cùng
của tủy sống đến tận xương cụt.
II. CHÈN ÉP TỦY VÀ CHÙM ĐUÔI NGỰA KHÔNG DO CHẤN
THƯƠNG
Tủy nằm trong ống sống không thể giãn ra được , vì vậy tủy rất nhạy với những quá trình
bệnh lý gây ra hẹp đường kính ống sống. Chèn ép tủy diễn tiến từ từ có thể gây nên (1)
chèn ép cơ học trực tiếp hoặc (2) qua trung gian của rối loạn tuần hoàn tại chỗ hoặc của
hiện tượng thiếu máu cục bộ. Lúc đầu chèn ép tủy sẽ có những thay đổi về mặt chức
năng ở ngang mức bị chèn ép, kế đến tủy bị tổn thương thực sự và ngày càng ít có khả
năng hồi phục lại được. Hậu quả là là có hội chứng tủy xảy ra ngày càng nặng dần, diễn
tiến đến cuối cùng là bệnh cảnh cắt ngang tủy. Trong một số trường hợp, trong một giai
đoạn nào đó của bênh (có thể xảy ra rất sớm), diễn tiến nặng dần này bị thay thế bằng
hiện tượng nặng lên đột ngột biểu hiện hội chứng cắt ngang tủy gần như hoàn toàn. Kiểu
diễn tiến này là do hiện tượng nhũn tủy, liên quan đến chèn ép một thân động mạch quan
trọng: động mạch tủy sống trước, động mạch rễ tủy (artère radiculo-médullaire). Vì vậy
chẩn đoán và điều trị hội chứng chèn ép tủy gần như là khẩn cấp, phải điều trị trước
cuối cùng là đi không được nữa.
Tổn thương vận động lúc đầu kín đáo tập trung chủ yếu ở hai chi dưới, đặc biệt là ở
những cơ gấp, sau đó diễn tiến nặng dần, tùy theo mức tổn thương mà chúng ta có
yếu liệt chi dưới hoặc yếu liệt tứ chi theo kiểu tháp: tăng trương lực cơ theo kiểu tháp,
tăng phản xạ gân cơ, phản xạ lan tỏa, đa động, dấu Babinski (+) hai bên. Có hiện
tượng giải phóng các phản xạ bảo vệ tủy như dấu Babinski, hiện tượng gấp mặt mu
bàn chân, phản xạ ba co: kích thích ngoài lòng bàn chân, tăng phản xạ gân cơ gần đến
mức tổn thương
2.2 Tổn thương cảm giác
Đau kiểu bị bó chặt, bị kẹp. Các biểu hiện dị cảm theo những kiểu khác nhau xuất hiện ở
dưới mức tổn thương tùy tổn thương theo bó gai đồi thị hay theo cột sau. Tổn thương cột
sau gây ra rối loạn định vị cảm giác, rối loạn sự nhận biết tên, vị trí ngón. Còn tổn thương
theo bó gai đồi thị biểu hiện dưới dạng đau, dị cảm nhưng không có định vị rõ, không có
yếu tố khởi phát đau rõ, cần phải phân biệt với kiểu đau theo rễ.
Các rối loạn cảm giác khách quan thường xảy ra muộn hơn so với các triệu chứng vận
động, nhưng lại có giá trị lớn trong chẩn đoán chèn ép tủy. Rối loạn cảm giác nhiệt và
cảm giác đau thường xảy ra sớm và nặng nề hơn so với rối loạn cảm giác vị trí ngón.
Các rối loạn cảm giác dưới mức tổn thương nặng lên từ từ cho đến mức nặng nhất là mất
cảm giác hoàn toàn ở vùng dưới nơi thương tổn. Một điều chắc chắn là: nếu như chúng
ta nhận biết được hội chứng cảm giác dưới nơi tổn thương, xác định mức cao nhất
của tình trạng rối loạn cảm giác này thì chúng ta đã thực hiện một bước quan trọng
trong chẩn đoán chèn ép tủy.
2.3 Rối loạn cơ vòng
Thường xuất hiện trễ và thường giới hạn trong thời gian dài dưới biểu hiện là đi tiểu
chậm hoặc đi tiểu gấp, hoặc tiểu nhiều lần
3. Hội chứng cột sống (hội chứng tại chỗ)
- Hiện tượng cứng một đoạn cột sống: hiện tượng này dễ thấy ở vùng cổ và
vùng lưng (những nơi linh động của cột sống) hơn là ở vùng ngực.
- Biến dạng cột sống do đau: vẹo cột sống.
- đau tại chỗ cột sống: xuất hiện đau khi ấn vào các mấu gai, cơ cạnh sống.
Chèn ép tủy lưng là chèn ép thường gặp nhất đau lưng, biểu hiện bằng đau thắt
ngang ngực -bụng kiểu dây nịt và yếu hai chi dưới. Mất phản xạ da bụng chọn lọc
có thể là dấu định vị cho tổn thương vùng này
Chèn ép tủy thắt lưng-cùng: do các khoanh tủy bị dẹt ở mức này, các đường đi
của rễ bọc quanh phần tận cùng của tủy, một chèn ép tủy dù không lớn lắm cũng
ảnh hưởng đến nhiều khoanh tủy và nhiều rễ. Hơn nữa, những triệu chứng ngoại
biên càng đi đến tận cùng của tủy lại càng làm lu mờ, giấu đi các triệu chứng của
tổn thương tủy thực sự.
Các rối loạn cơ vòng và rối loạn sinh dục thường xuất hiện và thường xảy ra
sớm.Chèn ép tủy thắt lưng được nghĩ đến khi thấy có liệt mềm cơ tứ đầu đùi, mất
phản xạ gối, tăng phản xạ gót và Babinski dương tính hai bên.
Chèn ép tủy cùng (chóp cùng): biểu hiện liệt mềm, mất phản xạ gân cơ hai chi
dưới kèm rối loạn cơ vòng nặng nề, gần giống với hội chứng chùm đuôi ngựa.
V. CẬN LÂM SÀNG
1. Chụp X-quang qui ước cột sống: chụp phim phải biết là có sự không tương ứng giữa
tủy sống và cột sống để tập trung vị trí cho chính xác. Đôi khi hình X-Q qui ước cho
những thông tin quan trọng ví dụ như tình trạng hủy xương, hiện tượng xơ xương
(ostéosclérose), xẹp một đốt sống do ung thư di căn, hoặc hình ảnh viêm thân sống đĩa
đệm
2. CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH: tập trung vào đoạn cột sống bị nghi ngờ, cho phép
nghiên cứu đốt sống, các đĩa đệm, nhưng không thấy rõ các cấu trúc trong lòng ống sống.
3. CỘNG HƯỞNG TỪ: là xét nghiệm cần thực hiện nếu như chúng ta có điều kiện thực
hiện đứng trước một trường hợp chèn ép tủy. Cho thấy thân sống, đĩa đệm và các thành
phần trong ống sống.
VI. NGUYÊN NHÂN
Nguyên nhân ngoài màng cứng:
Ung thư di căn cột sống và khoang ngoài màng cứng là nguyên nhân thường gặp nhất.
Nhiễm trùng: lao cột sống, viêm thân sống đĩa đệm.
Thoát vị đĩa đệm, thường gặp là thoát vị đĩa đệm vùng cổ.