Chỉ đạo việc dạy học bồi dưỡng phân môn Tập làm văn
cho học sinh lớp 3,4,5
Chương I Đặt vấn đề.
1. Lý do chọn đề tài.
a. Cơ sở lí luận :
Trong bậc học tiểu học, bốn kĩ năng quan trọng mà bộ môn Tiếng Việt, môn học cơ
bản nhất của bậc học cần đạt là : nghe, đọc , nói, viết . Trong đó kĩ năng viết là kĩ năng quan
trọng nhất và cũng khó rèn luyện cho học sinh nhất. Để rèn kĩ năng viết cho học sinh, người
dạy phải dạy tốt các phân môn như chính tả , luyện từ và câu, tập viết và tập làm văn. Để viết
đẹp và viết đúng, người thầy phải chú trọng rèn kĩ năng cho học sinh khi dạy tập viết và
chính tả. Còn muốn dạy cho học sinh viết đúng và hay thì chúng ta phải đặc biệt chú ý dạy
tốt hai phân môn là luyện từ và câu và tập làm văn. Trong hai phân môn này, nhiều giáo viên
cho rằng tập làm văn là môn khó dạy nhất, khó rèn kĩ năng cho học sinh nhất vì đòi hỏi học
sinh phải có năng khiếu mới viết văn hay được. Nội dung bồi dưỡng làm văn nhằm trau dồi
vốn sống. vốn văn chương, nâng cao năng lực cảm nhận và diễn tả ở học sinh . Học sinh
luyện viết văn theo theo kiểu bài đã học. Các kiểu bài cơ bản ở tiểu học là kể chuyện, miêu
tả, viết thư . Trong các lần kiểm tra định kì hay hội thi học sinh giỏi cấp trường, thi học sinh
giỏi giải Nguyễn Hiền dành cho HS lớp 4 , học sinh giỏi bậc tiểu học cấp thành phố hằng
năm, phần tập làm văn luôn giữ một điểm số rất cao nhưng ít có học sinh đạt điểm tối đa về
bài làm văn, số học sinh đạt điểm giỏi bài văn viết khá ít, chỉ chiếm khoảng 10 % hội thi HS
giỏi các cấp , có khi còn thấp hơn. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của bản thân tôi, là một giáo
viên dạy văn hoá nhiều năm và đảm nhận công tác bồi dưỡng học sinh giỏi nhiều năm, thì
dạy tập làm văn cũng không quá khó hoặc chỉ có học sinh năng khiếu mới viết văn hay được.
Tất cả đều có thể rèn luyện được nếu chúng ta có biện pháp và cách thức giảng dạy phù
hợp. Sau khi đảm nhận chức vụ phó hiệu trưởng ở trường tiểu học Nguyễn Bá Ngọc , tôi đã
dùng những kinh nghiệm trong giảng dạy của mình để chỉ đạo giáo viên phụ trách mảng bồi
dưỡng học sinh giỏi cách dạy tập làm văn hiệu quả hơn.
b. Cơ sở thực tiễn
Trường tiểu học Nguyễn Bá Ngọc chỉ có 18 lớp với số học sinh khoảng 500 em, trong đó
học sinh khối 3,4,5 khoảng 340 em. Toàn trường tổ chức được 3 lớp học bồi dưỡng cho đối
được như mong muốn .
2.3. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng dạy học trên
Tôi có thể đánh giá các tồn tại nêu trên xuất phát từ những nguyên nhân sau đây :
a. Thời gian triển khai nội dung chương trình thay sách chưa lâu, đặc biệt là khối 4 và 5
nên giáo viên chưa nắm bắt hết các yêu cầu về kiến thức và kĩ năng cần đạt, đặc biệt
là ở phân môn tập làm văn.
b. Từ quan điểm biên soạn sách là tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh và
phương pháp giảng dạy chủ yếu là coi trọng phần thực hành, qua luyện tập thực hành,
học sinh rút ra kiến thức chủ yếu của bài học. Phần bài học không có định nghĩa,
không có quy tắc nên GV còn lúng túng khi nâng từ kiến thức cụ thể lên thành kiến
thức tổng quát.
c. Nội dung chương trình tập làm văn ở tiểu học được biên soạn theo kiểu kết hợp
giữa văn chương nghệ thuật và văn bản nhật dụng để học sinh học tập và thực hành.
Cứ vài tiết học về miêu tả hay kể chuyện thì có 1 tiết điền vào đơn từ, viết đơn, tranh
luận hay thuyết trình Việc đan xen giữa hai đơn vị kiến thức có mặt ưu nhưng cũng
có mặt hạn chế. Nhiều giáo viên chưa xâu chưỗi được kiến thức cho học sinh, học
sinh nhớ cái này , quên cái kia là điều thường thấy trong các bài văn nói và viết.
d. Mỗi tuần , giáo viên chỉ dạy cho học sinh khối 3,4,5 khoảng 2 tiết về các nội dung
nâng cao ở môn Tiếng Việt. Thời gian đó, giáo viên tập trung luyện chính tả , luyện từ
và câu, thời gian dành cho luyện tập làm văn rất ít. Do đó chất lượng học tập làm văn
không được nâng cao.
Chương III Giải quyết vấn đề
3.1. Một số biện pháp chỉ đạo giúp giáo viên dạy bồi dưỡng nâng cao chất lượng học tập
phân môn tập làm văn khối 3,4,5.
3.1.1. Dựa vào các bài thơ để giúp học sinh rèn luyện kĩ năng kể chuyện.
Văn kể chuyện , ở tiểu học, được giảng dạy từ lớp 3 nhưng trọng tâm của thể loại này được
học ở lớp 4. Kiểu bài kể chuyện được xây dựng với những đề bài cụ thể và những kĩ năng thực
hành đặt ra cho từng đề bài cụ thể đó. Ở các tiết học chính khoá, GV đã dạy cho học sinh một số kĩ
Bài tập 2: Dựa vào bài thơ, hãy kể lại cuộc nói chuyện của Vua Hùng với các quan và dân xóm Núi
bàn về việc làng giã gạo nuôi quân.
Bài tập 3: Dựa vào bài thơ , hãy tả nội tâm nhân vật Vua Hùng khi được dân chúng tiếp đón nồng
nhiệt.
Bài tập 4 : Dựa vào bài thơ , em hãy tả cảnh các cô gái xóm núi say sưa giã gạo nuôi quân.
Sau các bài tập nhỏ trên, giáo viên mới yêu cầu học sinh về nhà làm lại cả bài. Có như thế,
các em mới áp dụng được các kĩ năng đã học vào bài làm văn viết.
Ví dụ 2: Dựa vào bài thơ Gọi bạn , em hãy kể lại câu chuyện về tình bạn thật xúc động của Bê
Vàng và Dê Trắng.
Nội dung bài thơ là : Gọi bạn.
Tự xa xưa thuở nào
Trong rừng xanh sâu thẳm
Đôi bạn sống bên nhau
Bê Vàng và Dê Trắng
Một năm trời hạn hán
Suối cạn , cỏ héo khô
Lấy gì nuôi đôi bạn
Chờ mưa đến bao giờ
Bê Vàng đi tìm cỏ
Lang thang quên đường về
Dê Trắng thương bạn quá.
Chạy khắp nẻo tìm Bê
Đến bây giờ Dê Trắng
Vẫn gọi hoài : Bê ! Bê !
Để học sinh làm tốt đề bài luyện tập này, giáo viên nên chẻ nhỏ các yêu cầu ra để học sinh
thực hành. Cụ thể là :
Bài tập 1: Dựa vào bài thơ, hãy tả ngoại hình 2 nhân vật Bê Vàng Và Dê Trắng trong câu chuyện.
Bài tập 2: Dựa vào bài thơ, hãy kể lại cuộc chia tay của Bê Vàng Và Dê Trắng trước khi Bê Vàng đi
tìm cỏ.
Bài tập 3: Dựa vào bài thơ , hãy tả nội tâm nhân vật Dê Trắng khi chờ mãi không thấy Bê Vàng trở
nếu giáo viên có định hướng câu chủ đề tốt sẽ giúp cho học sinh viết bài văn tả đúng trọng tâm hơn.
Ví dụ 1: Ở kiểu bài tả cảnh với đề bài cụ thể là :
Em hãy tả vẻ đẹp của vườn hoa trong một buổi sáng mùa xuân.
Trong phần thân bài, giáo viên có thể nêu 2 câu chủ đề như sau, yêu cầu học sinh phát triển
thành 2 đoạn văn tả cảnh.
a/ Buổi sáng, vườn hoa rực rỡ sắc màu và ngào ngạt hương thơm.
b/ Vườn hoa nhộn nhịp, tươi vui với biết bao ong bướm rập rờn và tiếng chim ca hát.
Ví dụ 2: Ở kiểu bài tả đồ vật với dề bài cụ thể là :
Hãy tả một đồ dùng học tập của em.
Trong phần thân bài, giáo viên có thể nêu 2 câu chủ đề như sau, yêu cầu học sinh phát triển
thành 2 đoạn văn tả đồ vật.
a/ Cái cặp của em mới đẹp làm sao.
b/ Cặp của em đã đẹp lại còn tiện lợi biết bao!
Ví dụ 3: Ở kiểu bài tả người với đề bài cụ thể là :
Hãy tả người mà em yêu quý nhất.
Trong phần thân bài, giáo viên có thể nêu 3 câu chủ đề như sau, yêu cầu học sinh phát triển
thành 3 đoạn văn tả người.
a/ Mẹ em không đẹp nhưng rất dễ nhìn.
b/ Chẳng có ai vừa giỏi giang lại vừa thông minh như mẹ của em.
c/ Mẹ yêu em không sao kể hết .
Các câu chủ đề phải gói gọn 1 nội dung chính của bài văn. Giaó viên có thể sử dụng nhiều
câu chủ đề khác để hướng dẫn học sinh luyện tập, không nhất thiết phải cứ áp dụng một ý chung
nhất. Ở đối tượng học sinh năng khiếu, giáo viên cũng nên khuyến khích các em phá bỏ những cách
diễn đạt thông thường để có những bài viết có cách diễn đạt bức phá , thực sự hấp dẫn người đọc
mà không theo khuôn mẫu nào.
3.1.4. Dựa vào nội dung cốt chuyện hoặc dàn ý của bài kể chuyện để tả ngoại hình, tả nội
tâm, tả hoạt động nhân vật .
Đối với văn kể chuyện, xây dựng cốt chuyện, dàn bài là quan trọng nhưng nếu học sinh không
biết vận dụng các yêu cầu về tả ngoại hình, tả nội tâm , tả hoạt động.v v vào kể chuyện thì câu
chuyện chẳng thể sinh động hấp dẫn mà chỉ là liệt kê các ý chính. Vì vậy, giáo viên phải hướng dẫn
ghi chép những từ ngữ miêu tả , gợi tả hợp lý với từng chủ đề , từng kiểu bài. Giaó viên nên hướng
dẫn học sinh ghi chép thành mảng, ví dụ : Nhóm từ tả hoạt động của người, của vật, nhóm từ tả
làn da, tả tính cách, tả đôi mắt, tả mái tóc; nhóm từ tả màu sắc, tả hương thơm Đó là những tư
liệu cần thiết để các em viết văn tránh sao lặp, tả gượng ép, ý nghèo, dùng từ không chính xác.
Ở nội dung luyện từ và câu lớp 5, học sinh đã bắt đầu học về các phép liên kết câu. Đây là
một trong những kĩ thuật viết văn quan trọng. Giáo viên phải luyện cho học sinh kĩ năng sử dụng
các phép liên kết đó trong diễn đạt để các em nắm được ngữ pháp văn bản, tạo tiền đề cho các em
học tốt Tiếng Việt ở cấp học trung học cơ sở tiếp theo.
3.2. Kết quả đạt được.
Sau khi đã chỉ đạo việc dạy học tập làm văn cho giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi khối 3,4 5,
tôi nhận thấy kết quả học tập phân môn này có chiều hướng phát triển. Qua các kiểm tra hằng
tháng, kết qủa về điểm của bài văn viết đã tiến bộ rõ rệt. Nhiều em đã vận dụng khá tốt những kiến
thức được học vào bài viết, bài nói của mình . Cụ thể như em Hồ Ngọc Quỳnh lớp 5/2, em Vương
Nguyễn Thuỳ Dương lớp 5/1, em Nguyễn Thị Thuỳ Duyên lớp 4./1, em Hồ Trúc Đào lớp 4/2, em
Nguyễn Thị Lệ Trinh lớp 3/3, Văn Thuỷ Tú lớp 3/1. Em. Ngọc Thanh lớp 5/2 còn biết dựa vào bài
thơ Một niềm vui bất ngờ của cô giáo Dương Khuê Anh để kể lại câu chuyện về Tấm gương đạo
đức của Bác Hồ có tựa đề là Chòm râu Bác Hồ được giải A kể chuyện về Tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh cấp trường. Điểm khảo sát chất lượng của học sinh các lớp bồi dưỡng cũng tăng lên , cụ
thể như sau:
KHỐI BÀI KHẢO SÁT ĐẦU NĂM BÀI KHẢO SÁT THÁNG 1
3
Giỏi : 3/ 30 tỉ lệ 10 %
Khá: 21/30 tỉ lệ 70 %
T. bình 6/ 30 tỉ lệ 20 %
Giỏi : 9/ 30 tỉ lệ 30 %
Khá: 21/30 tỉ lệ 70 %
T. bình 0 / 30 tỉ lệ 0 %
tâm hồn, bồi dưỡng cho học sinh nền tảng đạo đức thông qua bài học, hướng các em đến điều
thiện, cái đẹp, góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo con người có đầy đủ, đức , trí , thể , mỹ.
Chương IV Kết luận
Dạy học là một nghề vừa lao tâm vừa lao lực . Đó là một nghề cao quý nhưng cũng đòi hỏi
cao phẩm chất đạo đức , kiến thức và kĩ năng ở mỗi người. Muốn thành công trong công tác giảng
dạy, người thầy phải luôn học hỏi không ngừng. Với tư cách một người làm công tác chuyên môn, tôi
nhận thấy rằng việc nghiên cứu nội dung chương trình, đề xuất những biện pháp chỉ đạo phù hợp là
nhiệm vụ quan trọng của mình để không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học ở trường tiểu học
theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, thể hiện tốt vai trò chủ đạo định hướng
của người dạy trong công cuộc thực hiện đổi mới sách giáo khoa hiện nay. Trên đây là một số kinh
nghiệm chỉ đạo của tôi trong công tác dạy và học. Mong các đồng chí lãnh đạo cấp trên góp ý, chỉ
đạo thêm để nhà trường rút kinh nghiệm tốt hơn trong công tác chỉ đạo chuyên môn ở cơ sở.