PHòNG GIáO DụC- ĐàO TạO HUYệN ĐạI LộC
TRƯờNG TIểU HọC TRịNH THị LIềN
.
SáNG KIếN KINH NGHIệM
SáNG KIếN KINH NGHIệM
MộT Số BIệN PHáP GIúP
MộT Số BIệN PHáP GIúP
HọC SINH HọC TốT MÔN TậP LàM VĂN LớP
HọC SINH HọC TốT MÔN TậP LàM VĂN LớP 2
2
Đ
Đề tài:
ề tài:
nhiệm vụ giúp HS nắm vững các qui tắc và hình thành kĩ năng viết hoàn
chỉnh một câu. Ngoài ra, phân môn tập làm văn còn rèn cho HS một kĩ năng
sống,biết giao tiếp với ngời lớn,dùng ngôn ngữ đối xử với bạn bè.
- Rèn luyện cho học sinh các kỹ năng nói, viết, nghe, đọc, phục vụ cho học
tập giao tiếp cụ thể là giúp các em :
- Nắm đợc các nghi thức lời nói nh : chào hỏi, tự giới thiệu, cảm ơn, xin
lỗi, nhờ, cậy, yêu cầu, khẳng định, phủ định, tán thành, từ chối, chia vui,
chia buồn, Biết sử dụng chúng trong một số tình huống giao tiếp ở gia
đình, trong trờng học và nơi công cộng
- Nắm đợc một số kỹ năng phục vụ học tập và đời sống hàng ngày nh
khai bản tự thuật ngắn, viết những bức th để nhắn tin, chia vui hoặc chia
buồn, nhận và gọi điện thoại, đọc và lập danh sách học sinh, tra mục lục
sách, đọc thời khoá biểu, đọc và lập thời gian biểu
- Kể một sự việc đơn giản, tả sơ lợc ngời, vật xung quanh theo gợi ý bằng
tranh, bằng câu hỏi.
- Nghe hiểu đợc ý kiến của bạn, có thể nêu ý kiến bổ sung nhận xét.
IV. CƠ Sở THựC TIễN :
2
Tình hình thực tế của lớp:
- Qua thực tế bài làm của học sinh tôi thấy chất lợng bài viết của học sinh
cha cao, một số em có chịu khó tìm tòi, suy nghĩ, chọn lọc để viết ra những
câu văn nhng cha có nhiều sáng tạo . Còn lại phần lớn bài làm của các em có
bố cục cha cân đối, mang tính liệt kê các chi tiết, bộ phận một cách đơn giản.
Trình tự cha hợp lí, chọn lọc chi tiết cha tiêu biểu, đặc sắc, thiếu từ ngữ , học
sinh thiếu sự tởng tợng, ít cảm xúc về đối tợng , cách diễn đạt cha mạch lạc.
Đa số học sinh còn lạm dụng quá nhiều vào bài văn mẫu, đặc biệt là học sinh
hiểu nhng lại không diễn đạt đợc . Nhiều học sinh khi làm bài văn cảm thấy
khó, thấy bí, thấy không biết viết gì, nói gì , một số em thờng ngại làm văn
hoặc chỉ làm cho xong mà không cần biết bài viết của mình đúng hay sai,
thiếu hay đủ.
nhút nhát nói ra những điều mà các em suy nghĩ trong đầu. Có thể là
sắm vai, có thể là trò chơi hay thi đua cùng nhau mỗi em có một suy
nghĩ khác nên lời nói cũng khác, giáo viên cứ để các em tự do bộc lộ
nhng giáo viên cũng nên thống nhất những điểm chung sau :
Đại từ xng hô với đối tợng của bản thân mình phải phù hợp.
Thái độ , cử chỉ, lời nói phải phù hợp với tình huống.
Lịch sự, tự nhiên khi nói cũng nh khi viết .
a/ Chào hỏi, tự giới thiệu, xin lỗi, mời nhờ, yêu cầu, đề nghị, chia buồn,
khen ngợi, chia vui
- Đây là những câu nói thờng ngày các em giao tiếp. Đa số các em đã
biết nói. Tuy vậy, để các em có thể nói rõ ràng, rành mạch hơn giáo
viên nên cho các em nhập vai bằng cách giao cho học sinh những tình
huống cụ thể
- Ngoài ra, giáo viên nên lu ý thái độ của học sinh khi nói với từng đối
tợng là lớn hơn mình, bằng mình hay nhỏ hơn mình thì có những đại
từ xng hô khác nhau và những cử chỉ thể hiện cũng khác tùy tình
huống vui hay buồn.
- Khi nói và viết lu ý học sinh nên thêm những từ chỉ tình cảm để câu
văn thể hiện sự lễ phép, lịch sự nh : nhé, nha, a
b/ Đáp lời chào, đáp lời cảm ơn, xin lỗi, từ chối, chia vui
- Tất cả những lời đáp trên rất hay gặp trong đời sống nhng các em lại
rất ít nói, có em chẳng hề nói nên các em thấy hơi xa lạ. Thế nên, giáo
viên không chỉ dạy thực hành trong tiết học mà còn phải giáo dục các
em mọi lúc mọi nơi với một thời gian dài.
- Đối với lời đáp này các em thờng ngại ngần không muốn nói nên giáo
viên cần cho các em sắm vai. Quan trọng hơn nữa là giáo viên cần cho
các em nắm rõ tình huống vì khi viết các em hay lầm lẫn giữa lời đáp
và lời nói.
Ví dụ: Em nói thế nào khi bạn xin lỗi em vì đã làm dơ áo em. Các em
có thể bị lầm và nói là : - Xin lỗi bạn vì tớ lỡ làm bẩn áo bạn.
thân. Lúc này cũng rất cần sự quan tâm của phụ huynh thì học sinh
mới làm bài tốt đợc. Đặc biệt, giáo viên cần nhắc nhở thờng xuyên về
việc các em cần viết hoa các từ cần thiết nh : tên riêng, tên địa phơng,
có những em cha nắm đợc cách viết hoa chữ cái, có những em viết sai
chính tả tên địa ph ơng. Vì bài này nằm ở đầu chơng trình nên học
sinh còn cha có thói quen.
e/ Viết tin nhắn, bu thiếp
- Khi gặp dạng bài này các em rất ham thích. Giáo viên nên tận dụng
điều này để giúp học sinh nắm bố cục của bài là đầu tiên phải có thời
gian, địa điểm, có nội dung tin nhắn và cuối cùng là ký tên Ngoài ra,
giáo viên có thể cung cấp thêm một số hình ảnh để ngời đọc tin nhắn
thêm vui vẻ.
Ví dụ: Khi nhắn tin cho ba mẹ là con đi học nhóm, các em có thể vẽ
thêm một cây bút, một quyển vở
5
g/ Nhận và gọi điện thoại
- Trong thời đại ngày nay, việc nhận và gọi điện thoại là quá quen thuộc
với học sinh. Do đó, các em nói rất dễ dàng. Tuy nhiên khi viết các em
gặp nhiều trở ngại vì các em cha nắm đợc khi nào là bản thân mình
nói, khi nào là ngời đầu dây bên kia nói. Bởi vậy, khi các em viết ra sẽ
nhầm lẫn và sai sót. Nên giáo viên phải giúp các em xác định nhân vật
. Có thể giúp các em hứng thú hơn bằng cách các em chuẩn bị những
chiến điện thoại, cho các em sắm vai, đọc kỹ đề và tởng tợng mình là
nhân vật. Có thế khi các em viết mới không bị nhầm lẫn.
2/ Viết đoạn văn
- Đây là dạng bài nòng cốt trong môn tập làm văn. Nó đòi hỏi ở ngời
học sinh vốn sống hàng ngày, vốn từ phong phú, đôi mắt quan sát tinh
tờng, óc tởng tợng sáng tạo nghệ thuật. Bởi vậy, khi dạy dạng bài này
giáo viên cần nắm rõ tâm lý tuổi học sinh. ở lứa tuổi này học sinh
nhìn nhận sự vật thế nào? Tính tình của từng học sinh ra sao? Có em
chơi trò chơi, thi đua tìm từ ngữ tả về chú cá. Các em sẽ rất hứng thú
và tìm đợc rất nhiều từ.
- Tạo cho các em thói quen làm văn phải có bố cục 3 phần : mở bài
(giới thiệu), thân bài (nội dung), kết luận (tình cảm) và lập sơ đồ trớc
khi làm tập làm văn. Tôi xin gợi ý một cách lập sơ đồ thông qua một
trò chơi em và chú gà nh sau . Ví dụ : Khi tả một chú gà, giáo viên
cho hai em lên sắm vai, một em là chú gà, một em là ngời tả. Cùng lúc
đó, giáo viên cho học sinh vẽ sơ đồ trên vở nháp.
Ngời tả sẽ nói một câu để giới thiệu chú gà nhà em có nuôi một
chú gà
Còn chú gà thì vừa nói vừa diễn tà : tôi có bộ lông nhiều màu sắc.
Tôi có cái màu trên đầu. Tôi gáy rất to
Ngời tả lúc này nói về tình cảm của mình đối với chú gà : Em th-
ờng rải thóc cho gà ăn
Hoặc có thể tinh giảm em ngời tả chỉ cần một em sắm vai chú gà.
- Sau khi nghe tả và quan sát xong các em thành lập ra một sơ đồ nh sau
:
7
Chỳ g nh em
Mo
Lụng nhiu mu
Gỏy to
n thúc
Em yờu mn chỳ g
Con g
- Từ đó các em đã nắm đợc đặc điểm của con vật cần tả mà phát triển
thành một đoạn văn. Hoặc ta có thể cho em hình thành một đoạn văn
qua trò chơi tiếp sức.
- Từ sơ đồ mạng đã thành lập ở trên, giáo viên yêu cầu học sinh tạo
thành câu, cứ thể nối tiếp nhau thành lập thành đoạn văn. Trong lúc
rộng thành mặt biển xanh ngắt và rộng mênh mông. Nối các câu
văn lại thành những từ ngữ liên kết nh : và, thì, nếu, vậy là .
8
- Lu ý học sinh trong đoạn văn tránh lặp lại từ nhiều lần mà phải thay
những từ ngữ lặp lại bằng từ có ý nghĩa tơng tự , ví dụ: Bác Hồ thành
Bác, Ngời thay những từ ngữ thông thờng thành những từ ngữ trau
chuốt hơn. Ví dụ: buổi sáng thành buổi sớm mai, buổi bình minh.
Ví dụ: Sau khi thành lập sơ đồ mạng, có thể các em sẽ thành lập một
đoạn văn nh sau : Nhà em có nuôi một chú gà . Nó có bộ lông màu
đỏ tía. Nó gáy rất to. Em rất yêu nó. Giáo viên có thể khuyến khích
học sinh là con làm đúng nhng cha hay. Từ những ý tởng ban đầu của
con, chúng ta sẽ hình thành một đoạn văn hay hơn nhé : Chú gà
trống nhà em trông mới oai vệ làm sao ! Toàn thân nó phủ một lớp
lông vũ màu đỏ tía. Sáng sáng, trống tía nhảy tót lên ụ rơm đầu hè
mà rớn cổ gáy vang ò ó o. Mỗi khi đi học về, em thờng rải cho nó
một ít thóc và vuốt ve cái đuôi dài, cong cong của nó. Khi đó, học
sinh sẽ thấy đợc vẫn là ý tởng cũ nhng đoạn văn đã đợc lột xác, thêm
thắt những từ ngữ trau chuốt hơn làm cho đoạn văn đẹp hơn, nghệ
thuật hơn.
- Giáo viên có thể su tầm những bài văn hay và đọc cho học sinh nghe
để học sinh học hỏi. Trng bày những bài văn hay của các bạn trong lớp
để các em noi gơng. Tập ghi chép những từ hay, ý đẹp khi bắt gặp ở
đâu đó vào một quyển từ điển riêng của mình. Từ đó, vốn từ của các
em sẽ ngày càng nhiều, càng phong phú.
VI/ KếT QUả NGHIÊN CứU
- Qua quá trình bồi dỡng các em đối với môn tập làm văn tôi thấy các em
học tập tích cực hơn, hứng thú hơn, tự giác hơn. Các em không còn thấy sợ
học tập làm văn nh trớc đây nữa.
- Môn tập làm văn vì thế mà ngày càng có tác dụng giáo dục quan trọng góp
phần rất hiệu quả vào việc nâng cao chất lợng dạy học trong nhà trờng.
cho học sinh làm văn tốt hơn. Tuy nhiên, với vốn kinh nghiệm còn hạn
chế nên không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong sự góp ý chân
thành của thầy cô và các bạn.
10