SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“TÌM HIỂU MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÔT MÔN TẬP
ĐỌC Ở LỚP 3”
LỜI NÓI ĐẦU
Thực hiện nhiệm vụ năm học 2010-2011, năm học tiếp tục “Đổi mới quản lí
và nâng cao chất lượng giáo dục”, năm học tiếp tục thực hiện cuộc vận động “Hai không
với bốn nội dung” cùng với phong trào “Xây dựng trường học thân thiện học sinh tích
cực” nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở Tiểu học.
Trẻ từ khi bắt đầu đi học, các em đã được tiếp xúc với kiến thức đơn giản của môn
tập đọc rồi từ đó mở rộng ra, nâng cao dần, ngày càng phong phú và đa dạng hơn, cao
hơn, hay hơn. Qua đó dạy học tốt phân môn tập đọc ở tiểu học nói chung, ở lớp ba nói
riêng là vô cùng quan trọng trong hệ thống các môn học. Dạy tốt phân môn tập đọc có thể
bồi dưỡng cho học sinh nhiều mặt vì nó có tính chất khởi đầu cho người đi học. Vì vậy
phân môn tập đọc ở tiểu học đang đặt ra rất nhiều vấn đề cần giải quyết. Nhiều nhà
nghiên cứu và các giáo viên có nhiệt huyết đã bỏ nhiều công sức đi sâu nghiên cứu, tổng
kết những kinh nghiệm để giải quyết vấn đề đang được quan tâm này.
Là một giáo viên tiểu học, tôi thấy mình phải tự tìm tòi, nghiên cứu để tìm ra những
phương pháp và cách dạy tốt nhất với môn tập đọc giúp các em học tốt môn học này,
đồng thời từ đó các em học tốt các môn học khác. Để có phương pháp dạy tốt môn tập
đọc ở lớp ba với địa bàn miền núi, vùng cao khi học sinh còn chậm hiểu cả tiếng phổ
thông này, đòi hỏi giáo viên phải làm thế nào giúp học sinh hiểu, yêu thích và hứng thú
trong giờ học tập đọc. Chính vì những lý do trên, tôi nghiên cứu viết đề tài này mong
muốn đem lại những kinh nghiệm, tôi đã thực hiện trong những năm dạy học, đặc biệt là
trong phương pháp dạy phân môn tập đọc ở lớp ba để góp phần nâng cao chất lượng dạy
phân môn này nói riêng và môn Tiếng việt nói chung. Đến với hội thi Giáo viên dạy giỏi
cấp tỉnh đợt này tôi mạnh dạn báo cáo kết quả nghiên cứu “Sáng kiến kinh nghiêm: Tìm
hiểu một số phương pháp dạy học tôt môn tập đọc ở lớp 3”.
Đây là môt sáng kiến mà tôi đã dày công nghiên cứu từ năm học 2008- 2009 và đã
được áp dụng cho các đồng nghiệp giảng dạy tại trường đạt được kết quả tốt. Song trong
quả trình nghiên cứu vẫn còn nhiều hạn chế tôi rất mong được sự giúp đỡ của Hội đồng
thể. Làm giàu và tích cực hóa vốn từ, vốn diễn đạt. Bồi dưỡng vốn văn học ban đầu, mở
rộng hiểu biết về cuộc sống cung cấp mẫu để hình thành một số kĩ năng để phục vụ cho
đời sống và việc học tập của bản thân như điền vào các tờ khai ( đơn giản), làm đơn, viết
thư, phát biểu trong cuộc họp, giới thiệu hoạt động của lớp.
- Phát triển một số tư duy cơ bản như: phân tích, tổng hợp, phán đoán…
- Bồi dưỡng tư duy, tình cảm và tâm hồn lành mạnh, trong sáng, tình yêu cái đẹp,
cái thiện thái độ ứng xử đúng mức trong cuộc sống, hứng thú đọc sách và yêu thích Tiếng
việt, cụ thể:
+ Bồi dưỡng trẻ yêu quý, kính trọng, biết ơn và trách nhiệm đối với ông bà cha mẹ,
thầy cô, yêu trường yêu lớp, đoàn kết, giúp đỡ bạn bè ,vị tha nhân hậu.
+ Xây dựng và năng lực thể hiện những phép xã giao tối thiểu.
+ Từ những mẩu chuyện, bài văn, bài thơ hấp dẫn trong sách giáo khoa, hình thành
phát triển ham muốn đọc sách, khả năng cảm thụ văn bản, văn học, cảm thụ vể đẹp của
Tiếng việt.
Tất cả những lý do trên theo tôi nghĩ không phải là một vấn đề hoàn toàn đơn giản
của môn tập đọc nói riêng và môn tiếng việt nói chung, mà nó là cả một qúa trình tích
hợp theo chiều ngang giữa kiến thức tiếng việt, với các mảng kiến thức về văn học, về
thiên nhiên, con người và xã hội. Xây dựng các đơn vị kiến thức kỹ năng theo nguyên
tắc đồng tâm. Kiến thức và kỹ năng của bài học sau ở lớp trên bao hàm kiền thức, kỹ
năng của bài học trước của lớp dưới, nhưng được phát triển sâu rộng hơn. Xét về đặc
điểm tâm lý, mỗi học sinh tiểu học là một chỉnh thể nhận thức của các em mang tính tổng
hợp và thiên về cảm tính. Khả năng phân tích và nhận thức lý tính chưa cao, việc tiếp thu
kiến thức, hình thành kỹ năng, thái độ đối với lứa tuối các em cần được diễn ra trong một
mối liên hệ tương tác, trọn vẹn và liên tục bằng những hành động cụ thể và sống động.
Do vậy môn Tiếng việt ở tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực ngôn ngữ cho
học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện trong bốn dạng hoạt động tương
ứng. Tương ứng với chúng là bốn kỹ năng “nghe, nói, đọc, viết” là một dạng hoạt động
ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng từ hình thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và
thông hiểu nó ( ứng với hình thức đọc thành tiếng). Là quá trình chuyển trực tiếp từ hình
thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh ( ứng với đọc thầm ).
Tôi chọn học sinh lớp 3 trường tiểu học Phú Thượng II là lớp tôi chủ nhiệm và trực
tiếp giảng dạy năm học 2008- 2009 với:
Tổng số học sinh: 18 em. Trong đó:
Nam: 12; Nữ: 6; Dân tộc: 17; Khuyết tật: 4.
* Kết quả khảo sát môn Tiếng việt đầu năm như sau:
Tổng số HS Giỏi Khá Trung bình Yếu
18 5 ( 27,78 %) 5 ( 27,78%) 4 ( 22,22%) 4 ( KT3 )
( 22,22%)
4. Phương pháp nghiên cứu.
Để đạt được mục được mục đích nghiên cứu, tôi đã sử dụng một số phương pháp
sau:
- Thu thập các tài liệu như: sách tham khảo, các tập san báo giáo dục thời đại, giờ
dạy mẫu trên Ti vi, sách giáo viên, sách hướng dẫn giảng dạy tiếng việt lớp 3.
- Phân tích tài liệu dạy học sách giáo khoa lớp 3 mới và sách hướng dẫn về nội
dung và cấu trúc.
- Phương pháp trao đổi với giáo viên và gia đình học sinh.
- Phương pháp dạy thực nghiệm, tổ chức giờ học sôi nổi và phương pháp kiểm tra
đánh giá.
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN
I. Mục đích tác dụng của phương pháp dạy học môn tiếng việt ở lớp 3 nói chung
và phương pháp giảng dạy môn tập đọc ở lớp 3 nói riêng.
Mục đích dạy môn tập đọc:
Môn tiếng việt ở tiểu học chia làm nhiều phân môn, trong đó tập đọc là phân môn
thực hành bằng lời nói, nếu dạy tốt môn tập đọc sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các môn
học khác.
Đọc là tiếp thu những thành tựu của học vần đạt được, nâng cao lên ở mức đầy đủ
và hoàn chỉnh hơn, đồng thời tạo nên bốn khả năng đã nêu: đọc đúng, đọc nhanh, đọc
hiểu, đọc diễn cảm.
và tiết kiệm thời gian học tập cho người học. có thể thực hiện tích hợp theo chiều ngang
và chiều dọc. Tích hợp theo chiều ngang là tích hợp tiếng việt với các mảng kiến thức về
văn học, thiên nhiên, con người và xã hội theo nguyên tắc đồng quy. Hướng tích hợp này
được sách giáo khoa tiếng việt lớp 3 thực hiện thông qua các chủ điểm học tập. Theo
quan điểm tích hợp, các phân môn tập đọc, kể chuyện, chính tả, tập viết, luyện từ và câu,
tập làm văn trước đây ít gắn bó với nhau, nay được tập hợp lại xoay quanh trục chủ điểm
và các bài đọc, các nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn luyện kỹ năng cũng gắn bó chặt
chẽ với nhau hơn trước.
Tích hợp theo chiều dọc là tích hợp ở một đơn vị kiến thức và kỹ năng đã học
trước đó theo nguyên tắc đồng tâm đồng trục hay vòng tròn xoáy trôn ốc, cụ thể là kiến
thức và kỹ năng của lớp trên, bậc học trên bao hàm kiến thức và kỹ năng của lớp dưới,
bậc học dưới nhưng cao hơn, sâu hơn kiến thức và kỹ năng ở lớp dưới.
Dĩ nhiên trong tích hợp vẫn có điểm nhấn, không nắm được điểm nhấn này giáo
viên hiểu lệch yêu cầu tích hợp, dẫn tới sa đà. Ví dụ: bây giờ tập đọc thành giờ dạy đạo
đức hay luyện từ và câu…Để nắm vững trọng tâm của mỗi tiết học, bài học, giáo viên
cần đọc kỹ phần mục đích, yêu cầu của mỗi tiết học, mỗi bài học nêu trong sách giáo
viên.
* Quan điểm tích cực hóa trong hoạt động học tập của học sinh.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong đổi mới chương trình và sách giáo
khoa lần này là đổi mới phương pháp dạy và học. Chuyển từ phương pháp truyền thụ
sang phương pháp tích cực hóa hoạt động của người học, trong đó thầy cô đóng vai trò
người tổ chức hoạt động của học sinh, mỗi học sinh đều được hoạt động, mỗi học sinh
đều được bộc lộ mình và được phát triển.
Để theo phương pháp tích cực hóa các hoạt động của học sinh, sách giáo khoa
Tiếng việt không trình bày kiến thức như là những kết quả sẵn có mà xây dựng hệ thống
câu hỏi, bài tập hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động nhằm chiếm lĩnh kiến thức
và phát triển kỹ năng sử dụng tiếng việt, sách giáo khoa Tiếng việt 3 hướng dẫn giáo viên
cách thức cụ thể tổ chức các hoạt động này.
2. Nội dung sách giáo khoa Tiếng việt 3.
a. Các đơn vị học.
Nội dung tập đọc lớp 3 sát với thực tế, nội dung logic phù hợp với trình độ của
học sinh. sách giáo khoa đã đáp ứng tính thực hành trong dạy và học, cấu trúc rõ ràng
nhằm tạo ra mối liên hệ mật thiết giữa các phân môn trong tiếng việt, tạo ra tính tổng
hợp, tính thống nhất của các phân môn. Nội dung sách giáo khoa cũng thể hiện được yêu
cầu nhận thức của học sinh từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp theo một hệ thống,
học sinh dễ hiểu, dễ nhớ, điều đó thể hiện rất rõ tính khoa học của sách.
* Hạn chế của sách giáo khoa:
Một số kiến thức còn trìu tượng, tranh ảnh trong sách phục vụ bài còn sơ sài. Phần
hướng dẫn tìm hiểu bài ở sách giáo khoa là những câu hỏi, mà câu hỏi lại mang tính khái
quát trìu tượng, làm cho học sinh khó hiểu ngay. Đồng thời câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh
dùng một phương thức hành động duy nhất là “ dùng lời”. Điều này có những hạn chế số
lượng học sinh làm việc trên lớp còn ít, tại vì tại thời điểm đó chỉ có một em trả lời câu
hỏi, các em khác chỉ được nghe, giáo viên hầu như không kiểm soát được hết lớp, các em
đã nghe và hiểu nội dung như câu hỏi các em đã trả lời. Chính vì thế giờ dạy tập đọc chưa
thực sự tích cực hóa được hoạt động học tập của học sinh. Tất cả những điếu đó đều tác
động vào làm hạn chế trong giờ dạy tập đọc, chất lượng thấp hơn giờ toán.
* Khắc phục hạn chế này:
- Một số kiến thức trìu tượng này theo tôi, giáo viên nên cho tất cả học sinh đều
được hoạt động tự khám phá bằng cách giáo viên gợi mở cho học sinh hoạt động theo
nhóm để hiểu được hình thức trìu tượng đó.
- Với phần câu hỏi trìu tượng, giáo viên chia câu hỏi ra thành nhiều câu hỏi nhỏ và
cũng cho học sinh hoạt động theo nhóm, rồi giáo viên chốt ý bằng câu hỏi trìu tượng
trong sách.
III. Phương pháp dạy học môn tiếng việt nói chung và phương pháp dạy môn tập
đọc lớp 3 mới nói riêng.
1. Phương pháp dạy học môn tiếng việt ở lớp 3 mới:
Nội dung và phương pháp dạy học bao giờ cũng gắn bó với nhau. Mỗi nội dung
đòi hỏi một phương pháp thích hợp các kỹ năng giao tiếp không thể được hình thành và
phát triển bằng con đường truyền giảng thụ động. Muốn phát triển kỹ năng này, học sinh
phải được hoạt động trong môi trường giao tiếp dưới sự hướng dẫn của người thầy. Các
- Tổ chức báo cáo kết quả làm việc:
Các hình thức báo cáo đó là: báo cáo trực tiếp với giáo viên, báo cáo trong nhóm,
báo cáo trước lớp.
Các biện pháp báo cáo: bằng miệng, bằng bảng con, bằng bảng trên lớp, bằng
phiếu học, bằng giấy… hoặc thi đua giữa các nhóm và trình bày cá nhân.
- Tổ chức đánh giá.
Các hình thức đánh giá:
+ Tự đánh giá.
+ Đánh giá nhóm.
+ Đánh giá trên lớp.
Các biện pháp đánh giá như: khen, chê định tính, cho điểm định hướng.
2. Phương pháp dạy phân môn tập đọc ở lớp 3 mới.
* Nội dung dạy học:
- Rèn luyện kỹ năng đọc: Rèn luyện năng đọc thành tiếng và đọc thầm thông qua
93 bài tập đọc thuộc các loại văn bản khác nhau: văn bản nghệ thuật, văn bản hành chính,
văn bản báo chí vv… Trong đó có 30 bài thơ từ 4 - 5 đến 7 tiếng, thơ lục bát, thơ tự do,
63 bài văn xuôi, chuyện, văn miêu tả, văn bản khoa học, nghị luận và văn bản thông
thường.
Rèn kĩ đọc hiểu văn bản thông qua phần hướng dẫn văn bản sư phạm cuối bài tập
đọc chú thích và giải nghĩa từ, câu hỏi và bài tập tìm hiểu bài, giúp học sinh nắm được ý
chính của đoạn, tập nhận xét về một số hình ảnh, nhân vật, chi tiết trong bài tập đọc.
Kết hợp rèn kỹ năng nghe, nói.
Qua việc hướng dẫn học sinh luyện đọc và tìm hiểu bài, giáo viên giúp các em có
cơ hội rèn luyện kỹ năng nghe nói, nghe giáo viên và các bạn đọc, nghe giáo viên hướng
dẫn bài học hoặc các bạn trả lời câu hỏi, nói trước lớp hoặc trao đổi với bạn bè về nội
dung bài học.
Cung cấp và mở rộng vốn sống.
Các bài tập đọc trong sách giáo khoa Tiếng việt lớp 3 phản ánh nhiều lĩnh vực
khác nhau là gia đình, nhà trường, quê hương, các vùng miền và các dân tộc anh em trên
đất nước ta đến hoạt động các văn hóa giáo dục, khoa học, thể thao và các vấn đề lớn của
- Trực quan bằng vật thực: Khi giảng giáo viên dùng vật thực để học sinh minh
họa theo bài.
- Trực quan bằng tranh ảnh: Giáo viên đưa tranh ảnh mẫu phù hợp với nội dung
bài.
- Trực quan bằng băng hình: Giáo viên cho học sinh nghe giọng đọc của học sinh
đọc, có thể cho học sinh luyện đọc theo.
3- Phương pháp luyện đọc thực hành:
Là phương pháp chủ yếu trong giờ tập đọc. Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học
sinh được rèn luyện kỹ năng, kỹ sảo về đọc, có thể đọc đồng thanh, đọc cá nhân, đọc
nhóm để phát hiện từ quan trọng, những hình ảnh tiêu biểu, làm các bài tập để xác định
cách đọc và trhông hiểu về nội dung, nắm ý chính. Thông qua đọc đoạn, nắm được mục
đích đọc chủ yếu, đọc cá nhân, trả lời câu hỏi để thấy được kết quả ngay tại lớp.
4- Phương pháp trò chơi:
Đây là một phương pháp mới giúp cho học sinh có hứng thú khi đọc bài. trong
cuối mỗi tiết tập đọc giáo viên tổ chức cho học sinh đọc dưới hình thức chơi trò chơi
bằng cách: thi đọc phân vai theo nhân vật; thi đọc diễn cảm một đoạn văn hoặc một đoạn
thơ. Trước khi học sinh tham gia trò chơi thi đọc giáo viên đưa ra tiêu chuẩn đánh giá để
giúp học sinh nắm được cách chơi, luật chơi, cách nhận xét đánh giá cho điểm để tạo cho
học sinh tham gia chơi một cách tích cực, vui vẻ, bổ xung cho giờ học đạt hiệu quả cao.
Tóm lại: Muốn để phân môn tập đọc đạt kết quả cao, thì người giáo viên phải kết
hợp một cách linh hoạt các phương pháp trên thì giờ dạy mới không ngắt quãng, gián
đoạn. Người giáo viên phải luôn biết lấy học sinh làm trung tâm. Vai trò của người giáo
viên trong tiết học chỉ là người hướng dẫn, tổ chức tiết học sao cho phù hợp với đối
tượng của học sinh mình, giúp học sinh tìm ra cách đọc tốt nhất, đọc hiểu nội dung trong
bài tập đọc trong giờ tập đọc.
II. CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN
* Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình viết đề tài.
1. Thực trạng nhà trường và địa phương.
Trường Tiểu học Phú Thượng II đóng tại địa bàn xóm Ba Nhất, xã Phú Thượng,
là một xã miền núi đặc biệt khó khăn, diện tích tương đối rộng, dân cư thưa thớt, toàn bộ
giới trong mục đích đào tạo con người. Nhu cầu đổi mới ấy được đặt ra rất cấp thiết trong
các nhà trường nói chung và trường tiểu học nói riêng. Trường tiểu học phải rèn luyện
tính cách cơ bản cho trẻ.Vì vậy đòi hỏi phải dạy học theo hướng tích cực hóa này, đó là
dạy tập trung vào người học. Vì nền kinh tế, văn hóa xã hội đang đổi mới từng giờ, từng
ngày, nên đòi con người phải năng động, sáng tạo, do đó mục tiêu đào tạo phải đồng thời
đổi mới về phương pháp giảng dạy.
- Việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh và
cũng là góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục có chất lượng ở tiểu học, điều đó cũng đòi
hỏi phải nâng cao trình độ của giáo viên.
2. Vấn đề nâng cao trình độ của giáo viên.
Trong thời kỳ giáo dục đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi giáo viên phải đạt
một trình độ chuẩn về nhận thức văn hóa và phương pháp thì mới có thể có những câu
hỏi xác đáng, dễ hiểu, phải kết hợp hài hòa giữa hỏi và giảng. Giáo viên cần hiểu rõ mục
đích của bài giảng thì mới có thể xây dựng được phương pháp đúng.
3. Biện pháp dạy học chủ yếu của phân môn tập đọc đã ứng dụng trong thực tế và
có hiệu quả.
- Đối với học sinh vùng miền núi, dân tộc ít người, biện pháp dạy tập trung cần
thực hiện yêu cầu tối thiểu, đó là đọc đúng, đọc rành mạch, tốc độ dọc từ 60-> 70 tiếng/
phút, nắm được ý cơ bản của bài học, để đạt được yêu cầu này giáo viên cần chú trọng
hình thức đọc cá nhân để rèn luyện, uốn nắn học sinh kết hợp hình thức đọc theo nhóm để
học sinh tham gia nhiều lần đọc trong một tiết học, xen kẽ đọc đồng thanh để tạo không
khí lôi cuốn học sinh yếu, học sinh còn rụt rè vào hoạt động học, đảm bảo toàn bộ học
sinh được tham gia luyện đọc và đọc được càng nhiều càng tốt, giáo viên hạn chế đọc
phân vai, đọc thầm.
Đối với phần tìm hiểu bài, cần chú ý giải nghĩa từ khó chưa gần gũi với học sinh
dân tộc. Tận dụng tối đa tranh minh họa và đồ dùng dạy học, giáo viên cần giải nghĩa một
cách cụ thể để học sinh dễ nhận biết, cũng vì vốn từ tiếng việt của các em còn hạn chế,
giáo viên cần phải chú ý ghi rõ lên bảng các từ khó khi phát âm để học sinh theo dõi một
số câu hỏi khó giáo viên chia nhỏ và gợi mở cho học sinh, dành nhiều thời gian vào đọc
rõ ràng, mạch lạc.
Giáo viên có thể nêu câu hỏi trực tiếp để định hướng cho học sinh đọc thầm và trả lời
đúng nội dung, đôi khi có thể kết hợp cho học sinh đọc thành tiếng, những học sinh khác
đọc thầm, sau đó trao đổi, thảo luận những vấn đề giáo viên nêu ra.
Bằng nhiều hình thức tổ chức khác nhau, giáo viên tạo điều kiện cho học sinh
luyện tập một cách tích cực như: tự cá nhân trả lời câu hỏi, trao đổi theo cặp để trả lời.
Trong quá trình trả lời câu hỏi, giáo viên cần nêu cho học sinh cách trả lời ngắn gọn, diễn
đạt lưu loát, sau đó giáo viên nhận xét, chốt lại ý chính.
3. Những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng học sinh cần đạt được khi học môn tập
đọc.
- Trau dồi về kiến thức văn học.
- Yêu cầu kĩ năng khi học môn tập đọc.
- Môn tập đọc là môn thực hành tiếng việt, do vậy khi dạy môn tập đọc cần rèn
cho học sinh 4 kỹ năng đọc như sau:
+ Đọc đúng.
+ Đọc nhanh.
+ Đọc thầm, đọc hiểu.
+ Đọc diễn cảm.
4. Các biện pháp thực hiện.
Để thực hiện được tốt 4 kỹ năng trên, người giáo viên cần phải có những biện
pháp thực hiện như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất. Mọi sự thành công trong tiết học
phụ thuộc rất nhiều vào việc thiết kế một bài dạy tùy từng nội dung của từng bài, từng tiết
học. Do đó giáo viên cần thiết kế giáo án cho phù hợp thì tiết học mới đạt hiệu quả cao.
Chính vì vậy tôi mạnh dạn đưa ra một số suy nghĩ, những kinh nghiệm đã từng
vận dụng xen lẫn vào các tiết dạy.
a. Luyện đọc đúng.
Đọc đúng là sự tái hiện không đọc thừa, không xót từng âm, vần , tiếng, đọc đúng
phương pháp, thể hiện đúng hệ thống ngôn ngữ chuẩn, tức là đọc đúng chính âm. Nói
cách khác là không đọc theo cách phát âm địa phương lệch chuẩn. Đọc đúng bao gồm
đọc đúng, thanh, ngắt, nghỉ hơi đúng chỗ ( đọc đúng ngữ điệu). Luyện đọc đúng phải rèn
cho học sinh thể hiện chính xác các âm vị tiếng việt. Học sinh trường tôi thường khi đọc
có số tiếng cho trước và dự tính trong bao nhiêu phút, định tốc độ như thế nào còn phụ
thuộc vào độ khó của bài đọc.
c. Luyện đọc thầm, đọc hiểu.
Đây là kỹ năng được chuyển từ ngoài vào trong, từ đọc to đến đọc nhỏ, đọc mấy
máy môi đến đọc bằng mắt, không mấp máy môi. Giáo viên phải tổ chức quá trình từ
ngoài vào trong, cần kiểm soát quá trình đọc thầm của học sinh bằng cách xác định đọc
thầm cho học sinh từng đoạn, khi học sinh đọc thầm giáo viên cũng phải đọc thầm theo
để đề phòng hoặc phát hiện những học sinh không đọc thầm mà đã giơ tay ( nếu thấy học
sinh đọc quá nhanh, nhanh hơn cả cô), giáo viên đưa ra câu hỏi từ đoạn đó. Nếu thấy học
sinh lúng túng thì có nghĩa là em đó không đọc bàì.
Ví dụ: Bài “ Đôi bạn”, giáo viên đọc thầm một đoạn, thấy học sinh đọc quá nhanh
thì giáo viên đưa ra câu hỏi ở đoạn đó (Thành và Mến kết bạn vào dịp nào?).
Với những biện pháp như trên, bắt buộc học sinh phải đọc thầm để tìm hiểu nội
dung bài. Giờ tập đọc cũng kiểm tra như vậy, từ đó giúp các em tích cực tự giác học tập.
Đối với học sinh yếu, tôi luôn động viên, khuyến khích các em đó gây được phong trào
đọc thầm cho học sinh.
d. Luyện đọc diễn cảm.
- Đọc diễn cảm tức là biết làm chủ ngữ điệu để bộc lộ cảm xúc của bài đọc, đọc
diễn cảm không những đạt được yêu cầu đọc đúng mà còn kèm theo cử chỉ, lời nói để
góp phần diễn tả nội dung bài.
Qua thực tế giảng dạy trên lớp, tôi thấy để đọc được diễn cảm người giáo viên cần
chuẩn bị các bước sau:
+ Soạn bài chu đáo, nắm được nội dung bài, đọc kỹ bài để thể hiện được ngữ điệu
đọc, cường độ đọc bài đó ra sao? đọc cao giọng, nhấn giọng ở những từ nào? nét mặt vui,
buồn thể hiện ở những từ ngữ nào trong bài.
+ Yêu cầu học sinh đọc bài nhiều lần ở nhà, tập đọc theo ngữ điệu sao cho phù
hợp với nội dung bài đọc đó. Khi đến lớp giáo viên hướng dẫn học sinh có thể tiếp thu
nhanh cách đọc đúng và đọc diễn cảm.
Ví dụ: bài “Cuộc chạy đua trong rừng” ( tuần 28 – sách giáo khoa Tiếng việt lớp 3
tập 2). Đọc toàn bài chú ý giọng đọc của mỗi đoạn.
toàn bài. Khi đọc cá nhân hoặc đọc đồng thanh phải đọc nhịp nhàng, vừa phải, gây hứng
thú cho học sinh.
Phần ghi bảng: Nội dung ghi bảng nói chung cần ngắn gọn, xúc tích đảm bảo tính
khoa học và tính sư phạm, hình thức trình bày mang tính thẩm mỹ có tác dụng giáo dục
học sinh, Việc ghi bảng cần kết hợp nhịp nhàng với tiến trình của tiết dạy nhằm đem lại
hiệu quả trực quan cao nhất.
g. Tổ chức giờ học thân thiện - học sinh tích cực.
Theo tôi, đây là một biện pháp mới, rất có ý nghĩa trong các giờ học đối với vùng
miền núi, dân tộc ít người. Ở đây học sinh thường đi học theo cảm tính, thích đi thì đi,
không thích thì nghỉ, học sinh chưa thấy được mục đích và nhiệm vụ phải đi học đều,
đầy đủ, hơn nữa ở lứa tuổi này học sinh thường hiếu động, nếu giờ học chỉ đọc và trả lời
không thôi thì học sinh không hứng thú học tập, không khích lệ được học sinh yếu vươn
lên, không tạo được môi trường thân thiện để các em thích đến học . Chính vì vậy trong
giờ học giáo viên cần kết hợp cho học sinh tham gia các trò chơi học tập mang tính chất
hòa đồng thân thiện giữa thầy và trò, giữa trò và trò. Nếu là bài học có hội thoại thì giáo
viên cùng sắm vai với học sinh đọc theo nhân vật và đọc ngắn gọn. Còn đối với các thể
loại khác, giáo viên tổ chức trò chơi đọc truyền điệu. Giáo viên đọc câu 1, gọi một em
khác đọc tiếp, sau đó em đó lại chỉ bạn bên cạnh và đọc tiếp, cứ như vậy lần lượt đọc hết
bài. Với phương pháp này học sinh tham gia đọc được nhiều, các em lại chú ý vào bài
đọc một cách vui vẻ, nếu không chú ý không đọc được. Khi đọc truyền điệu của các em
rất chăm chú và trật tự, nên giờ học đạt kết quả cao, các em thoải mái học bài, mà không
gây áp lực, nên tạo được môi trường thân thiện, học sinh tích cực.
Phương pháp đọc trên có thể chia thành 2 tổ, các tổ thi nhau đọc hay, đọc lưu loát,
diễn cảm. Từ hình thức đọc trên tôi thấy các em trước đây đọc yếu, giờ đã đọc tốt hơn rất
nhiều và có ý thức vươn lên trong các môn học khác. Ngoài ra tôi còn tổ chức cho các em
học nhóm ở gia đình, giao nhiệm vụ cho em đọc tốt kèm cặp bạn đọc yếu ở tại địa
phương vào ngày nghỉ, giúp các em được giao lưu học hỏi nhiều hơn.
f. Kết hợp với chuyên môn nhà trường và học hỏi ở đồng nghiệp.
Ngoài những biện pháp mà tôi đã áp dụng ở trên, tôi đều tham gia và đề nghị
chuyên môn nhà trường tích cực tổ chức dự giờ thăm lớp để học hỏi và rút kinh nghiệm
2. Phương pháp ứng dụng.
Trong quá trình chuẩn bị lên lớp giáo viên phải là người phát hiện ra những giá trị
nội dung, giá trị nghệ thuật. Khi giảng giáo viên cần chú ý đến nội dung của bài tập đọc,
giáo viên phải phát âm chuẩn, đúng ngữ điệu, giọng đọc truyền cảm. Mặt khác giáo viên
phải tự tìm tòi, sáng tạo, có những biện pháp thích hợp, đồng thời phải là người gần gũi,
thân thiện với các em để các em lấy đó làm niềm tin trong giờ học, có như vậy kết quả
mới được nâng cao. Bản thân tôi luôn coi trọng những biện pháp như đã nêu ở trên. Nó
giúp cho tôi trong việc giảng dạy phân môn tập đọc nói riêng và các môn học khác nói
chung đều đạt hiệu quả cao.
Cụ thể năm học 2008 – 2009 tôi điều tra và thực nghiệm tại lớp 3 mà tôi trực tiếp
giảng dạy thấy rằng: Lớp có 18 em , toàn dân tộc Dao, việc phát âm còn gặp nhiều khó
khăn ở các phụ âm đầu như: Tr/ch, s/x, gi/d/r, các vần như: an/at, ot/on, ươi/ ương,
anh/ang, và đặc biệt là dấu ngã. Khi đọc các phát âm đều còn thiếu, không ngắt nghỉ đúng
chỗ. Song tôi đã vận dụng các phương pháp và biện pháp trình bày ở trên vào thực tế
giảng dạy đạt hiệu quả cao. Đến cuối năm việc đọc tốt của các em tiến bộ rất nhiều, ngoài
ra các em còn viết được văn khá hơn, đồng thời học các môn khác cũng tốt hơn.
Kết quả cụ thể cuối năm học như sau:
Tổng số học sinh
Giỏi Khá Trung bình
18
9 ( 50% ) 5 ( 27.78% ) 4 ( 22,22 % )Đó là những kết quả mà tôi tìm tòi và áp dụng có hiệu quả trong Nhà trường năm
học qua về phương pháp dạy môn tập đọc. Mặc dù tôi luôn cố gắng để tìm ra những giải
pháp hữu hiệu hơn, song do khả năng có hạn, nên không sao tránh khỏi những hạn chế.