skkn Tìm hiểu một số phương pháp dạy học tôt môn tập đọc ở lớp 3 - Pdf 34

PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong sự nghiệp GD nói chung, GD tiểu học nói riêng ,đây là một bậc học
vô cùng quan trọng . Nó là một hệ thống hoạt động phân công lao động xã hội
mà nhiệm vụ cơ bản của nó là truyền thụ kiến thức và kinh nghiệm thực tế có
liên quan đến kiến thức ấy là xã hôi hóa, là chuẩn bị cho các thành viên của xã
hội đi vào lao động nghề nghiệp. Song trước hết là việc truyền thụ có hệ thống
những kiến thức cơ bản khoa học mà việc nắm được những kiến thức ấychủ yếu
là dựa trên trình độ nhận thức bằng trừu tượng và lô gích những kiến thức và kĩ
năng đó được quy định mà học sinh có thể đạt được.Ta biết rằng khả năng trí tuệ
của mỗi con người phụ thuộc vào sự nghiệp tinh thần trong thời kì thơ ấu được
kích thích có hiệu quả đến mức độ nào .Vì rằng mọi sự thiếu sót đó do sự chăm
lo phát triển trong thời kì thơ ấu không đầy đủ, đúng mức, sau này sẽ phải bù lại
một cách rất khó khăn thậm trí không thể bù lại được những năm đó. Trong giai
đoạn từ 6 tuổi đến trường, nếu các em không được khen không được động viên
kịp thời về những năng lực đã đạt được thì các em sẽ có cảm giác về sự kém cỏi
và tự ti. Do vậy người giáo viên trong quá trình dạy học, nếu không nắm được
tâm sinh lí của các em thì mắc phải một khiếm khuyết lớn trong công tác giáo
dục. Để phù hợp với những biến đổi về cơ cấu trong giáo dục đã điều chỉnh và
bổ xung chương trình và nội dung các môn học đảm bảo 9 môn học bắt buộc .
Vì rằng học sinh tiểu học đã học đầy đủ các môn có ý nghĩa quan trọng, điếu đó
góp phần giáo dục toàn diện sự hình thành và phát triển những nền tảng cơ bản
của nhân cách con người. Chắc trong mỗi chúng ta ai cũng rõ trong 9 môn học,
chỉ có hai môn học nhiều tiết là Toán và Tiếng việt.
Từ đặc tâm lý của các em (lớp 1, lớp 2) dễ nhớ và cũng hay chóng quên đi
phần nào. Từ đó môn tập đọc góp phần đắc lực vào việc thực hiện mục tiêu đào
tạo thế hệ trẻ ở bậc tiểu học theo đặc trưng bộ môn của mình. Việc giảng dạy bộ

3



một chỉnh thể nhận thức của các em mang tính tổng hợp và thiên về cảm tính.
Khả năng phân tích và nhận thức lý tính chưa cao, việc tiếp thu kiến thức, hình
thành kỹ năng, thái độ đối với lứa tuối các em cần được diễn ra trong một mối
liên hệ tương tác, trọn vẹn và liên tục bằng những hành động cụ thể và sống
động.
Do vậy môn Tiếng việt ở tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực ngôn
ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện trong bốn dạng
hoạt động tương ứng. Tương ứng với chúng là bốn kỹ năng “nghe, nói, đọc,
viết” là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng từ hình thức chữ
viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó ( ứng với hình thức đọc thành
tiếng). Là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa
không có âm thanh ( ứng với đọc thầm ).
Trong đó đọc không phải là công việc giải bộ mã gồm hai phần chữ viết
và phát âm. Nghĩa là nó không chỉ là sự đánh vần lên tiếng theo những ký hiệu
đúng chữ viết và còn là một quá trình nhận thức để có khả năng thông hiểu khái
niệm “ đọc” một cách đầy đủ. Nhiều chỗ chỉ nói đến đọc như nói đến việc sử
dụng bộ mã chữ - âm, còn việc từ sang nghĩa đã không được chú ý đến.
Vì vậy phương pháp dạy tập đọc ở tiểu học nói chung và phương pháp dạy
tập đọc ở lớp 3 nói riêng đều mang tính tổng hợp. Nhiệm vụ quan trọng nhất của
nó là người giáo viên phải hình thành được kỹ năng đọc cho học sinh, đó là một
trong những kỹ năng cơ bản nhất. Yêu cầu một học sinh đọc có chất lượng tốt là
phải đọc đúng, ngắt nghỉ đúng, đọc nhẩm, đọc hiểu, đọc diễn cảm.
Hiện nay ở trường tiểu học cho ta thấy kỹ năng đọc của học sinh chưa
đồng đều, một số đọc còn yếu, một số giáo viên chưa chú trọng đến việc dạy cho
học sinh tiểu học, chưa tìm ra biện pháp dạy môn tập đọc để nâng cao hiệu quả
giờ dạy. Nguyên nhân của đọc yếu và đọc chưa tốt của học sinh là do nhiều tác
động như: phương pháp giảng dạy của giao viên, ngôn ngữ địa phương, do tài

5


Tổng số học sinh: 15 em.
* Kết quả khảo sát môn Tiếng việt đầu năm như sau:

Giỏi

Tổng số HS

Khá

Trung bình

Yếu

TS

%

TS

%

TS

%

TS

%

1

7


PHẦN 2: NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Môn tiếng việt ở tiểu học chia làm nhiều phân môn, trong đó tập đọc là
phân môn thực hành bằng lời nói, nếu dạy tốt môn tập đọc sẽ tạo điều kiện thuận
lợi cho các môn học khác.
Đọc là tiếp thu những thành tựu của học vần đạt được, nâng cao lên ở
mức đầy đủ và hoàn chỉnh hơn, đồng thời tạo nên bốn khả năng đã nêu: đọc
đúng, đọc nhanh, đọc hiểu, đọc diễn cảm.
Phân môn tập đọc giáo dục cho các em lòng ham đọc sách, hình thành
cho trẻ thói quen làm việc với văn bản tới từng học sinh, làm quen với sách giáo
khoa. Qua đó nhà trường là thực sự là trung tâm văn hóa cho các em. Thông qua
đọc giúp các em thích đọc và xác định đọc nhiều văn bản là có ích cho cuộc
sống và phát triển trí tuệ văn minh. Qua đó giáo dục cho các em tư tưởng, tình
cảm, đạo đức, thị hiếu, thẩm mỹ của các em.
Quan điểm biên soạn sách giáo khoa mới:
Dựa theo quan điểm dạy giao tiếp, quan điểm phân tích và quan điểm
tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh.
* Quan điểm giao tiếp.
Để thực hiện mục tiêu “ hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng
sử dụng tiếng việt: nghe, nói, đọc, viết để học tập và giao tiếp trong các môi
trường hoạt động của lứa tuổi”. Sách giáo khoa tiếng việt lớp 3 lấy nguyên tắc
dạy giao tiếp làm định hướng cơ bản.
Có thể hiểu giao tiếp là hoạt động trao đổi tư tưởng, tình cảm, cảm xúc

8




thể là kiến thức và kỹ năng của lớp trên, bậc học trên bao hàm kiến thức và kỹ
năng của lớp dưới, bậc học dưới nhưng cao hơn, sâu hơn kiến thức và kỹ năng ở
lớp dưới.
Dĩ nhiên trong tích hợp vẫn có điểm nhấn, không nắm được điểm nhấn
này giáo viên hiểu lệch yêu cầu tích hợp, dẫn tới sa đà. Ví dụ: bây giờ tập đọc
thành giờ dạy đạo đức hay luyện từ và câu…Để nắm vững trọng tâm của mỗi
tiết học, bài học, giáo viên cần đọc kỹ phần mục đích, yêu cầu của mỗi tiết học,
mỗi bài học nêu trong sách giáo viên.
* Quan điểm tích cực hóa trong hoạt động học tập của học sinh.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong đổi mới chương trình và
sách giáo khoa lần này là đổi mới phương pháp dạy và học. Chuyển từ phương
pháp truyền thụ sang phương pháp tích cực hóa hoạt động của người học, trong
đó thầy cô đóng vai trò người tổ chức hoạt động của học sinh, mỗi học sinh đều
được hoạt động, mỗi học sinh đều được bộc lộ mình và được phát triển.
Để theo phương pháp tích cực hóa các hoạt động của học sinh, sách giáo
khoa Tiếng việt không trình bày kiến thức như là những kết quả sẵn có mà xây
dựng hệ thống câu hỏi, bài tập hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động
nhằm chiếm lĩnh kiến thức và phát triển kỹ năng sử dụng tiếng việt, sách giáo
khoa Tiếng việt 3 hướng dẫn giáo viên cách thức cụ thể tổ chức các hoạt động
này.
Nội dung sách giáo khoa Tiếng việt 3.
Sách giáo khoa tiếng việt lớp 3, hai tập, gồm 15 đơn vị học, mỗi đơn vị
gắn với một chủ điểm, học trong 2 tuần trừ chủ điểm “ ngôi nhà chung” học
trong 3 tuần, cả năm học 35 tuần. Cụ thể như sau:
Tập 1 gồm 8 chủ điểm: Măng non; Mái ấm gia đình; Tới trường (trường

10




độ của học sinh. sách giáo khoa đã đáp ứng tính thực hành trong dạy và học, cấu
trúc rõ ràng nhằm tạo ra mối liên hệ mật thiết giữa các phân môn trong tiếng
việt, tạo ra tính tổng hợp, tính thống nhất của các phân môn. Nội dung sách giáo
khoa cũng thể hiện được yêu cầu nhận thức của học sinh từ dễ đến khó, từ đơn
giản đến phức tạp theo một hệ thống, học sinh dễ hiểu, dễ nhớ, điều đó thể hiện
rất rõ tính khoa học của sách.
* Hạn chế của sách giáo khoa:
Một số kiến thức còn trìu tượng, tranh ảnh trong sách phục vụ bài còn sơ
sài. Phần hướng dẫn tìm hiểu bài ở sách giáo khoa là những câu hỏi, mà câu hỏi
lại mang tính khái quát trìu tượng, làm cho học sinh khó hiểu ngay. Đồng thời
câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh dùng một phương thức hành động duy nhất là “
dùng lời”. Điều này có những hạn chế số lượng học sinh làm việc trên lớp còn ít,
tại vì tại thời điểm đó chỉ có một em trả lời câu hỏi, các em khác chỉ được nghe,
giáo viên hầu như không kiểm soát được hết lớp, các em đã nghe và hiểu nội
dung như câu hỏi các em đã trả lời. Chính vì thế giờ dạy tập đọc chưa thực sự
tích cực hóa được hoạt động học tập của học sinh. Tất cả những điếu đó đều tác
động vào làm hạn chế trong giờ dạy tập đọc, chất lượng thấp hơn giờ toán.
* Khắc phục hạn chế này:
- Một số kiến thức trừu tượng này theo tôi, giáo viên nên cho tất cả học
sinh đều được hoạt động tự khám phá bằng cách giáo viên gợi mở cho học sinh
hoạt động theo nhóm để hiểu được hình thức trừu tượng đó.
- Với phần câu hỏi trừu tượng, giáo viên chia câu hỏi ra thành nhiều câu
hỏi nhỏ và cũng cho học sinh hoạt động theo nhóm, rồi giáo viên chốt ý bằng
câu hỏi trìu tượng trong sách.
Phương pháp dạy học môn Tiếng Việt nói chung và phương pháp
dạy môn tập đọc lớp 3 nói riêng.

12


đề ra rất cụ thể, học sinh được tổ chức làm việc độc lập. Trong trường hợp câu
hỏi, bài tập tương đối trìu tượng hoặc đòi hỏi một sự khái quát nhất định và
trong trường hợp nếu làm việc chung theo đơn vị lớp sẽ có ít học sinh được hoạt
động thì làm việc theo nhóm là giải pháp tốt nhất. Hình thức làm việc chung
theo đơn vị lớp được áp dụng chủ yếu trong trường hợp giáo viên thực hiện các
khâu: giới thiệu bài, củng cố bài, nêu những câu hỏi không yêu cầu phải suy
nghĩ lâu hoặc để học sinh trình bày kết quả làm việc.
Hoạt động của giáo viên trong giờ học theo phương pháp dạy học mới về
phần giáo viên chủ yếu là:
- Giao việc cho học sinh: cho học sinh trình bày yêu cầu của câu hỏi, cho
học sinh làm mẫu một phần. Tóm tắt nhiệm vụ, dặn dò học sinh.
- Kiểm tra học sinh xem học học sinh có làm việc không? xem học sinh
có hiểu việc phải làm không? và trả lời thắc mắc của học sinh.
- Tổ chức báo cáo kết quả làm việc:
Các hình thức báo cáo đó là: báo cáo trực tiếp với giáo viên, báo cáo
trong nhóm, báo cáo trước lớp.
Các biện pháp báo cáo: bằng miệng, bằng bảng con, bằng bảng trên lớp,
bằng phiếu học, bằng giấy… hoặc thi đua giữa các nhóm và trình bày cá nhân.
- Tổ chức đánh giá.
Các hình thức đánh giá:
+ Tự đánh giá.
+ Đánh giá nhóm.
+ Đánh giá trên lớp.
Các biện pháp đánh giá như: khen, chê định tính, cho điểm định hướng.
Phương pháp dạy phân môn tập đọc ở lớp 3:
* Nội dung dạy học:
- Rèn luyện kỹ năng đọc: Rèn luyện năng đọc thành tiếng và đọc thầm

14



15


trước hết phải cảm thụ được bài văn, phải tái hiện được các nhân vật có hình
tượng đẹp, hoặc nhân vật, nội dung chính trong bài. Vì vậy giáo viên cần hướng
dẫn các em bằng câu hỏi dễ hiểu, dễ nhớ, dễ trả lời.
+ Phương pháp trực quan:
Phương pháp này phù hợp với tư duy, với tâm lý lứa tuổi học sinh tiểu
học. Giáo viên có thể dùng nhiều hình thức trực quan: trực quan bằng lời nói,
trực quan bằng dáng điệu, trực quan bằng nét mặt, trực quan bằng các động tác
hình mẫu, trực quan bằng vật thực, trực quan bằng tranh ảnh, trực quan bằng
băng hình.
- Trong đó trực quan bằng giọng điệu của giáo viên là hình thức trực
quan sinh động và có hiệu quả cao nhất có tác dụng làm mẫu cho học sinh luyện
đọc, mỗi bài thơ, bài văn viết ở thể loại khác nhau, nên mỗi bài có giọng đọc
khác nhau, có bài giọng nghiêm trang, trầm lắng, có bài giọng đọc tình cảm, âu
yếm, có bài đọc với giọng phấn khởi, náo nức. Do đó giáo viên cần đọc đúng thể
loại, ngữ điệu, tránh đọc một cách đều đều. Khi đọc phải biểu hiện tình cảm qua
ánh mắt, nụ cười.
- Trực quan bằng dáng điệu: Giáo viên thể hiện được dáng điệu đúng nội
dung bài học, giúp học sinh hiểu và dễ nhớ.
- Trực quan bằng nét mặt: Nét mặt giáo viên bộc lộ vui buồn theo giọng
đọc và theo nội dung bài.
- Trực quan bằng vật thực: Khi giảng giáo viên dùng vật thực để học sinh
minh họa theo bài.
- Trực quan bằng tranh ảnh: Giáo viên đưa tranh ảnh mẫu phù hợp với
nội dung bài.
- Trực quan bằng băng hình: Giáo viên cho học sinh nghe giọng đọc của
học sinh đọc, có thể cho học sinh luyện đọc theo.

(dân tộc Tày, Dao, H’mông,…) và làm nghề nông nghiệp do đó kinh tế còn gặp

17


nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp, cha mẹ ít quan tâm đến việc học tập của
con em mình, do vậy việc học tập của học sinh còn nhiều hạn chế.
Năm học 2013 – 2014 trường có 18 lớp với 3 điểm trường, các điểm
trường cách nhau từ 7-10 km với 304 học sinh trong đó khối lớp 3 có 3 lớp.
Nhưng được sự quam tâm chỉ đạo của Phòng Giáo dục – đào tạo, trực tiếp là
Ban giám hiệu nhà trường, tập thể luôn đoàn kết, đoàn kết giúp nhau hoàn thành
tốt nhiệm vụ được giao.
2. Điều tra khảo sát lớp 3.
Lớp 3 có 15 học sinh, trong đó 100% là dân tộc Dao, Tày. Học sinh
không đồng đều về trình độ nhận thức, giữa học sinh trong lớp bất đồng ngôn
ngữ. Vào đầu năm học nhà trường tiến hành kiểm tra khảo sát chất lượng học
sinh. Tôi được phân công chủ nhiệm lớp 3B, qua khảo sát chất lượng học sinh
cho thấy: số học sinh đọc được lưu loát chỉ có 3 em, 7 học sinh đọc được nhưng
chậm, còn lại số học sinh khi đọc rất chậm thậm chí có em còn phải đánh vần…
80% số học sinh chưa biết đọc nhấn giọng, hạ giọng khi cần thiết, đọc chưa biết
ngắt nghỉ câu, nhất là đọc các câu thơ. Ví dụ: ngọng phụ âm đầu: ch/tr; r/gi/d
hoặc vần: ương/ ươi; an/at; các dấu sắc, ngã vv…và hầu như các em không hiểu
nội dung bài.
3. Dự giờ của giáo viên.
Trong thời gian nghiên cứu viết đề tài này, tôi tiền hành dự giờ của một
số đồng nghiệp khác dạy phân môn tập đọc, nói chung các giờ dạy đều thực hiện
đủ các bước lên lớp, nhưng phần luyện đọc chưa thích đáng, chưa đưa ra được
phương pháp cách đọc cho học sinh, chủ yếu là quam tâm đến đọc đúng câu,
đúng tiếng, từ, đọc trôi chảy. Khi nhận xét giáo viên chỉ đánh giá chung, ít chú ý
đến việc hướng dẫn học sinh tìm hiểu và thể hiện cách đọc bài văn, bài thơ này

trung cần thực hiện yêu cầu tối thiểu, đó là đọc đúng, đọc rành mạch, tốc độ dọc
từ 60-> 70 tiếng/ phút, nắm được ý cơ bản của bài học, để đạt được yêu cầu này

19


giáo viên cần chú trọng hình thức đọc cá nhân để rèn luyện, uốn nắn học sinh kết
hợp hình thức đọc theo nhóm để học sinh tham gia nhiều lần đọc trong một tiết
học, xen kẽ đọc đồng thanh để tạo không khí lôi cuốn học sinh yếu, học sinh còn
rụt rè vào hoạt động học, đảm bảo toàn bộ học sinh được tham gia luyện đọc và
đọc được càng nhiều càng tốt, giáo viên hạn chế đọc phân vai, đọc thầm.
Đối với phần tìm hiểu bài, cần chú ý giải nghĩa từ khó chưa gần gũi với
học sinh dân tộc. Tận dụng tối đa tranh minh họa và đồ dùng dạy học, giáo viên
cần giải nghĩa một cách cụ thể để học sinh dễ nhận biết, cũng vì vốn từ tiếng việt
của các em còn hạn chế, giáo viên cần phải chú ý ghi rõ lên bảng các từ khó khi
phát âm để học sinh theo dõi một số câu hỏi khó giáo viên chia nhỏ và gợi mở
cho học sinh, dành nhiều thời gian vào đọc rõ ràng, mạch lạc.
Ví dụ: Bài tập đọc “ Người con của Tây Nguyên” tuần 13, giáo viên cần
tập trung cho học sinh học đọc đoạn, còn những học sinh yếu, kém đọc đoạn 1
và 4 dễ ngắt hơi. Những học sinh khá giỏi đọc đoạn 2, 3 dài hơn, cần có thái độ
biểu cảm. Để tăng thời gian cho việc đọc rõ ràng, mạch lạc giáo viên phải giảm
bớt phần tìm nội dung bài, những câu hỏi dài như câu 4 nên tách ra làm 2 câu
hỏi nhỏ như: Đại hội tặng dân làng Kông Hoa những gì? Giáo viên cho học sinh
theo dõi sách giáo khoa và nên gọi học sinh đọc đoạn: “ Đại hội tặng dân làng
Kông Hoa một ảnh Bác Hồ vác cuốc đi làm rẫy…cho Núp”. Khi xem những vật
đó thái độ của dân làng như thế nào? yêu cầu học sinh đọc đoạn: “ Khi xem
những vật đó thái độ của mọi người hết sức trân trọng xem đó là những vật tặng
thiêng liêng. Ai nấy đều rửa tay sạch trước khi cầm lên xem từng thứ, coi đi coi
lại mãi đến nửa đêm”. Ngoài ra ở những bài tập tập đọc khác, những câu hỏi
khác được giáo viên gợi mở, hoặc chủ động giải thích… Đó cũng chính là

sinh luyện tập một cách tích cực như: tự cá nhân trả lời câu hỏi, trao đổi theo cặp
để trả lời. Trong quá trình trả lời câu hỏi, giáo viên cần nêu cho học sinh cách trả
lời ngắn gọn, diễn đạt lưu loát, sau đó giáo viên nhận xét, chốt lại ý chính.
4. Những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng học sinh cần đạt được khi
học môn tập đọc.

21


- Trau dồi về kiến thức văn học.
- Yêu cầu kĩ năng khi học môn tập đọc.
- Môn tập đọc là môn thực hành tiếng việt, do vậy khi dạy môn tập đọc
cần rèn cho học sinh 4 kỹ năng đọc như sau:
+ Đọc đúng.
+ Đọc nhanh.
+ Đọc thầm, đọc hiểu.
+ Đọc diễn cảm.
5. Các biện pháp thực hiện.
Để thực hiện được tốt 4 kỹ năng trên, người giáo viên cần phải có những
biện pháp thực hiện như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất. Mọi sự thành công
trong tiết học phụ thuộc rất nhiều vào việc thiết kế một bài dạy tùy từng nội
dung của từng bài, từng tiết học. Do đó giáo viên cần thiết kế giáo án cho phù
hợp thì tiết học mới đạt hiệu quả cao.
Chính vì vậy tôi mạnh dạn đưa ra một số suy nghĩ, những kinh nghiệm
đã từng vận dụng xen lẫn vào các tiết dạy.
a. Luyện đọc đúng.
Đọc đúng là sự tái hiện không đọc thừa, không xót từng âm, vần , tiếng,
đọc đúng phương pháp, thể hiện đúng hệ thống ngôn ngữ chuẩn, tức là đọc đúng
chính âm. Nói cách khác là không đọc theo cách phát âm địa phương lệch chuẩn.
Đọc đúng bao gồm đọc đúng, thanh, ngắt, nghỉ hơi đúng chỗ ( đọc đúng ngữ

“Bãi biển Cửa Tùng như một chiếc lược đồi / mồi cài vào mái / tóc bạch

23


kim của sóng biển”.
Với cách dạy như trên số học sinh đọc sai giảm xuống rõ rệt.
b. Luyện đọc nhanh.
Đọc nhanh còn gọi đọc lưu loát, đọc trôi chảy, biện pháp đọc nhanh giáo
viên hướng dẫn cho học sinh đọc theo tốc độ đã định. Đơn vị đọc nhanh là cụm,
từ, câu, đoạn bài. Giáo viên cần điều chỉnh tốc độ đọc. Giáo viên đo tốc độ đọc
bằng cách soạn sẵn bài có số tiếng cho trước và dự tính trong bao nhiêu phút,
định tốc độ như thế nào còn phụ thuộc vào độ khó của bài đọc.
c. Luyện đọc thầm, đọc hiểu.
Đây là kỹ năng được chuyển từ ngoài vào trong, từ đọc to đến đọc nhỏ,
đọc mấy máy môi đến đọc bằng mắt, không mấp máy môi. Giáo viên phải tổ
chức quá trình từ ngoài vào trong, cần kiểm soát quá trình đọc thầm của học sinh
bằng cách xác định đọc thầm cho học sinh từng đoạn, khi học sinh đọc thầm
giáo viên cũng phải đọc thầm theo để đề phòng hoặc phát hiện những học sinh
không đọc thầm mà đã giơ tay ( nếu thấy học sinh đọc quá nhanh, nhanh hơn cả
cô), giáo viên đưa ra câu hỏi từ đoạn đó. Nếu thấy học sinh lúng túng thì có
nghĩa là em đó không đọc bàì.
Ví dụ: Bài “ Đôi bạn”, giáo viên đọc thầm một đoạn, thấy học sinh đọc
quá nhanh thì giáo viên đưa ra câu hỏi ở đoạn đó (Thành và Mến kết bạn vào dịp
nào?).
Với những biện pháp như trên, bắt buộc học sinh phải đọc thầm để tìm
hiểu nội dung bài. Giờ tập đọc cũng kiểm tra như vậy, từ đó giúp các em tích
cực tự giác học tập. Đối với học sinh yếu, tôi luôn động viên, khuyến khích các
em đó gây được phong trào đọc thầm cho học sinh.
d. Luyện đọc diễn cảm.



Đối với bài tập có lời đối thoại, giáo viên nên xây dựng màn kịch ngắn
với nội dung của bài, học sinh sắm các vai nhân vật đó để đọc bài.
Ví dụ bài: “Cuốn sổ tay” của nhân vật trong chuyện rất phù hợp với lứa
tuổi các em, sôi nổi, hào hứng, hồn nhiên, các em sắm vai :(Thanh, Tuấn, Lân,
Tùng). Lời nói của người dẫn chuyện giọng điệu hồn nhiên, giọng của Lân có vẻ
ngại ngần, giọng của Thanh quả quyết, dứt khoát, hào hứng; giọng của Tùng vẻ
thách thức, dí dỏm và rất tự tin…
Sau đó giáo viên gọi từng nhóm học sinh lần lượt lên bảng nhập vai đọc
bài, như vậy tất cả học sinh trên lớp đều làm việc, được luyện nói và được thể
hiện nét mặt thông qua các nhân vật mà mình nhập vai. Qua các giờ học như
vậy, học sinh sẽ tiến bộ dần, các em sẽ tự tin hơn ở bản thân mình, tạo ra tiết học
đạt kết quả cao.
e. Luyện đọc thuộc lòng.
Ở những bài dạy có yêu cầu luyện đọc thuộc lòng, giáo viên chú ý kết
hợp luyện đọc thành tiếng bằng cách tổ chức đọc cá nhân riêng lẻ, hoặc nối tiếp
đọc đồng thanh theo nhóm, tổ, cả lớp, đọc theo vai phối hợp nhiều học sinh.
Giáo viên cần biết nghe khi học sinh đọc để có cách rèn luyện thích hợp
với từng em, gợi ý, khuyến khích trong lớp trao đổi, nhận xét về chỗ được, chỗ
chưa được của bạn giúp học sinh biết rút kinh nghiệm để tự tin và đọc tốt hơn.
Bên cạnh luyện đọc thành tiếng giáo viên giúp học sinh luyện đọc kỹ hơn, có thể
kết hợp hướng dẫn học sinh vừa ghi nhớ nội dung bài, vừa dựa vào một số từ
ngữ trên bảng làm điểm tựa để học thuộc toàn bài. Khi đọc cá nhân hoặc đọc
đồng thanh phải đọc nhịp nhàng, vừa phải, gây hứng thú cho học sinh.
Phần ghi bảng: Nội dung ghi bảng nói chung cần ngắn gọn, xúc tích đảm
bảo tính khoa học và tính sư phạm, hình thức trình bày mang tính thẩm mỹ có
tác dụng giáo dục học sinh, Việc ghi bảng cần kết hợp nhịp nhàng với tiến trình

26



Trích đoạn HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status