“Sáng kiến kinh nghiêm: Tìm hiểu một số phương pháp dạy học tôt
môn tập đọc ở lớp 3”.
LỜI NÓI ĐẦU
Thực hiện nhiệm vụ năm học 2010-2011, năm học tiếp tục “Đổi mới quản lí
và nâng cao chất lượng giáo dục”, năm học tiếp tục thực hiện cuộc vận động
“Hai không với bốn nội dung” cùng với phong trào “Xây dựng trường học
thân thiện học sinh tích cực” nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở Tiểu học.
Trẻ từ khi bắt đầu đi học, các em đã được tiếp xúc với kiến thức đơn giản
của môn tập đọc rồi từ đó mở rộng ra, nâng cao dần, ngày càng phong phú và đa
dạng hơn, cao hơn, hay hơn. Qua đó dạy học tốt phân môn tập đọc ở tiểu học nói
chung, ở lớp ba nói riêng là vô cùng quan trọng trong hệ thống các môn học.
Dạy tốt phân môn tập đọc có thể bồi dưỡng cho học sinh nhiều mặt vì nó có tính
chất khởi đầu cho người đi học. Vì vậy phân môn tập đọc ở tiểu học đang đặt ra
rất nhiều vấn đề cần giải quyết. Nhiều nhà nghiên cứu và các giáo viên có nhiệt
huyết đã bỏ nhiều công sức đi sâu nghiên cứu, tổng kết những kinh nghiệm để
giải quyết vấn đề đang được quan tâm này.
Là một giáo viên tiểu học, tôi thấy mình phải tự tìm tòi, nghiên cứu để tìm
ra những phương pháp và cách dạy tốt nhất với môn tập đọc giúp các em học tốt
môn học này, đồng thời từ đó các em học tốt các môn học khác. Để có phương
pháp dạy tốt môn tập đọc ở lớp ba với địa bàn miền núi, vùng cao khi học sinh
còn chậm hiểu cả tiếng phổ thông này, đòi hỏi giáo viên phải làm thế nào giúp
học sinh hiểu, yêu thích và hứng thú trong giờ học tập đọc. Chính vì những lý do
trên, tôi nghiên cứu viết đề tài này mong muốn đem lại những kinh nghiệm, tôi
đã thực hiện trong những năm dạy học, đặc biệt là trong phương pháp dạy phân
môn tập đọc ở lớp ba để góp phần nâng cao chất lượng dạy phân môn này nói
riêng và môn Tiếng việt nói chung. Đến với hội thi Giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh
đợt này tôi mạnh dạn báo cáo kết quả nghiên cứu “Sáng kiến kinh nghiêm:
Tìm hiểu một số phương pháp dạy học tôt môn tập đọc ở lớp 3”.
Đây là môt sáng kiến mà tôi đã dày công nghiên cứu từ năm học 20082009 và đã được áp dụng cho các đồng nghiệp giảng dạy tại trường đạt được kết
quả tốt. Song trong quả trình nghiên cứu vẫn còn nhiều hạn chế tôi rất mong
được sự giúp đỡ của Hội đồng đánh giá các cấp xem xét và giúp đỡ, tạo điều
môn tập đọc trong nhả trường
nhằm tạo cho các em năng lực sử dụng Tiếng
việt, văn hóa để suy nghĩ, giao tiếp và học tập phát triển các kỹ năng đọc và
nghe cho học sinh, trau dồi vốn tiếng việt, vốn văn học để phát triển tư duy, mở
rộng sự hiểu biết của học học sinh về cuộc sống cụ thể. Làm giàu và tích cực
hóa vốn từ, vốn diễn đạt. Bồi dưỡng vốn văn học ban đầu, mở rộng hiểu biết về
cuộc sống cung cấp mẫu để hình thành một số kĩ năng để phục vụ cho đời sống
và việc học tập của bản thân như điền vào các tờ khai ( đơn giản), làm đơn, viết
thư, phát biểu trong cuộc họp, giới thiệu hoạt động của lớp.
- Phát triển một số tư duy cơ bản như: phân tích, tổng hợp, phán đoán…
- Bồi dưỡng tư duy, tình cảm và tâm hồn lành mạnh, trong sáng, tình yêu
cái đẹp, cái thiện thái độ ứng xử đúng mức trong cuộc sống, hứng thú đọc sách
và yêu thích Tiếng việt, cụ thể:
+ Bồi dưỡng trẻ yêu quý, kính trọng, biết ơn và trách nhiệm đối với ông
bà cha mẹ, thầy cô, yêu trường yêu lớp, đoàn kết, giúp đỡ bạn bè ,vị tha nhân
hậu.
+ Xây dựng và năng lực thể hiện những phép xã giao tối thiểu.
+ Từ những mẩu chuyện, bài văn, bài thơ hấp dẫn trong sách giáo khoa,
hình thành phát triển ham muốn đọc sách, khả năng cảm thụ văn bản, văn học,
cảm thụ vể đẹp của Tiếng việt.
Tất cả những lý do trên theo tôi nghĩ không phải là một vấn đề hoàn toàn
đơn giản của môn tập đọc nói riêng và môn tiếng việt nói chung, mà nó là cả
một qúa trình tích hợp theo chiều ngang giữa kiến thức tiếng việt, với các mảng
kiến thức về văn học, về thiên nhiên, con người và xã hội. Xây dựng các đơn vị
kiến thức kỹ năng theo nguyên tắc đồng tâm. Kiến thức và kỹ năng của bài học
sau ở lớp trên bao hàm kiền thức, kỹ năng của bài học trước của lớp dưới, nhưng
được phát triển sâu rộng hơn. Xét về đặc điểm tâm lý, mỗi học sinh tiểu học là
một chỉnh thể nhận thức của các em mang tính tổng hợp và thiên về cảm tính.
Trước những vấn đề trên tôi đã nghiên cứu và viết sáng kiến kinh nghiệm
“ Phương pháp dạy học tốt môn tập đọc lớp 3 ở bậc tiểu học” để giúp các em
học tốt, có khả năng giao tiếp tốt, viết được bài văn hay, có cảm nhận về văn
học, yêu thích môn tiếng việt và tích cực đến lớp, đến trường học.
B. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU.
1. Phạm vi nghiên cứu.
Nghiên cứu phương pháp dạy học tốt ở môn tập đọc lớp 3 thuộc phân môn
tập đọc lớp 3 của tiểu học.
2. Mục đích nghiên cứu.
Nhắc lại các phương pháp dạy học môn tiếng việt ở lớp 3 nói chung và
phương pháp dạy phân môn tập đọc lớp 3 nói riêng, đồng thời đề xuất những
biện pháp cụ thể ở một số bài học cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả dạy tập đọc
học sinh lớp 3.
3. Đối tượng nghiên cứu.
Tôi chọn học sinh lớp 3 trường tiểu học Phú Thượng II là lớp tôi chủ
nhiệm và trực tiếp giảng dạy năm học 2008- 2009 với:
Tổng số học sinh: 18 em. Trong đó:
Nam: 12; Nữ: 6; Dân tộc: 17; Khuyết tật: 4.
* Kết quả khảo sát môn Tiếng việt đầu năm như sau:
Tổng số HS
18
Giỏi
5 ( 27,78 %)
Khá
5 ( 27,78%)
Phân môn tập đọc giáo dục cho các em lòng ham đọc sách, hình thành
cho trẻ thói quen làm việc với văn bản tới từng học sinh, làm quen với sách giáo
khoa. Qua đó nhà trường là thực sự là trung tâm văn hóa cho các em. Thông qua
đọc giúp các em thích đọc và xác định đọc nhiều văn bản là có ích cho cuộc
sống và phát triển trí tuệ văn minh. Qua đó giáo dục cho các em tư tưởng, tình
cảm, đạo đức, thị hiếu, thẩm mỹ của các em.
II. Phân tích tài liệu dạy học.
1- Quan điểm biên soạn sách giáo khoa mới.
Dựa theo quan điểm dạy giao tiếp, quan điểm phân tích và quan điểm
tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh.
* Quan điểm giao tiếp.
Để thực hiện mục tiêu “ hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng
sử dụng tiếng việt: nghe, nói, đọc, viết để học tập và giao tiếp trong các môi
trường hoạt động của lứa tuổi”. Sách giáo khoa tiếng việt lớp 3 lấy nguyên tắc
dạy giao tiếp làm định hướng cơ bản.
Có thể hiểu giao tiếp là hoạt động trao đổi tư tưởng, tình cảm, cảm xúc
nhằm thiết lập quan hệ, sự hiểu biết và sự cộng tác giữa các thành viên trong xã
hội. Người ta giao tiếp với nhau bằng nhiều phương tiện, nhưng phương tiện
thông thường và quan trọng nhất là ngôn ngữ. Vì hành động giao tiếp bao gồm
các hành vi giải mã nhận thông tin và ký mã phát thông tin, trong ngôn ngữ mỗi
hành vi đều có thể thực hiện bằng hai hình thức là khẩu ngữ nghe, nói và bút
ngữ đọc viết.
Quan điểm dạy giao tiếp được thể hiện trên cả 2 phương diện, nội dung
và phương pháp dạy học. Về nội dung thông qua phân môn tập đọc, kể chuyện,
chính tả, luyện từ và câu, tập viết, tập làm văn. Tiếng việt lớp 3 tạo ra những
môi trường giao tiếp có chọn lọc để học sinh mở rộng vốn từ theo định hướng,
trang bị những kiến thức nền tảng và phát triển các kỹ năng tiếng việt trong giao
tiếp. Về phương pháp dạy học, các kỹ năng nói trên được dạy thông qua nhiều
Để theo phương pháp tích cực hóa các hoạt động của học sinh, sách giáo
khoa Tiếng việt không trình bày kiến thức như là những kết quả sẵn có mà xây
dựng hệ thống câu hỏi, bài tập hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động
nhằm chiếm lĩnh kiến thức và phát triển kỹ năng sử dụng tiếng việt, sách giáo
khoa Tiếng việt 3 hướng dẫn giáo viên cách thức cụ thể tổ chức các hoạt động
này.
2. Nội dung sách giáo khoa Tiếng việt 3.
a. Các đơn vị học.
Sách giáo khoa tiếng việt lớp 3, hai tập, gồm 15 đơn vị học, mỗi đơn vị
gắn với một chủ điểm, học trong 2 tuần trừ chủ điểm “ ngôi nhà chung” học
trong 3 tuần, cả năm học 35 tuần. Cụ thể như sau:
Tập 1 gồm 8 chủ điểm: Măng non; Mái ấm gia đình; Tới trường (trường
học); Cộng đồng ( sống với những người xung quanh); Quê hương; Bắc – Trung
– Nam (các vùng miền trên đất nước ta); Anh em một nhà (các dân tộc anh em
trên đất nước ta); Thành thị - Nông thôn.
Tập 2 gồm 7 chủ điểm: Bảo vệ Tổ quốc; Sáng tạo (hoạt động khoa
học,tri thức); Nghệ thuật; Lễ hội; Thể thao; Ngôi nhà chung (các nước, một số
vấn đề toàn cầu như hòa bình, hữu nghị, hợp tác, bảo vệ môi trường); Bầu trời
và mặt đất (các hiện tượng thiên nhiên, vũ trụ, con người với thiên nhiên, vũ
trụ).
b. Các phân môn.
Môn tập đọc rèn cho học sinh kỹ năng đọc, nghe và nói. Bên cạnh đó
thông qua hệ thống bài đọc theo chủ điểm và những câu hỏi, những bài tập khai
thác nội dung bài đọc; phân môn tập đọc cung cấp cho học sinh những hiểu biết
về thiên nhiên, xã hội và con người, cung cấp vốn từ, vốn, vốn diễn đạt, những
hiểu biết về tác phẩm văn học, đề tài, cốt chuyện, nhân vật…góp phần rèn luyện
nhân cách cho học sinh.
- Phân môn Kể chuyện: Rèn luyện kỹ năng nói, nghe.
- Phân môn Luyện từ và câu: cung cấp kiến thức sơ giản về tiếng việt
động vào làm hạn chế trong giờ dạy tập đọc, chất lượng thấp hơn giờ toán.
* Khắc phục hạn chế này:
- Một số kiến thức trìu tượng này theo tôi, giáo viên nên cho tất cả học
sinh đều được hoạt động tự khám phá bằng cách giáo viên gợi mở cho học sinh
hoạt động theo nhóm để hiểu được hình thức trìu tượng đó.
- Với phần câu hỏi trìu tượng, giáo viên chia câu hỏi ra thành nhiều câu
hỏi nhỏ và cũng cho học sinh hoạt động theo nhóm, rồi giáo viên chốt ý bằng
câu hỏi trìu tượng trong sách.
III. Phương pháp dạy học môn tiếng việt nói chung và phương pháp
dạy môn tập đọc lớp 3 mới nói riêng.
1. Phương pháp dạy học môn tiếng việt ở lớp 3 mới:
Nội dung và phương pháp dạy học bao giờ cũng gắn bó với nhau. Mỗi
nội dung đòi hỏi một phương pháp thích hợp các kỹ năng giao tiếp không thể
được hình thành và phát triển bằng con đường truyền giảng thụ động. Muốn phát
triển kỹ năng này, học sinh phải được hoạt động trong môi trường giao tiếp dưới
sự hướng dẫn của người thầy. Các kỹ năng về ngôn ngữ, văn hóa, tự nhiên và xã
hội đều có thể được tiếp thu qua lời giảng, nhưng học sinh chỉ làm chủ được
những kiến thức này khi các em chiếm lĩnh chúng bằng chính hoạt động có ý
thức của mình. Cũng như vậy những tư tưởng tình cảm và nhân cách tốt đẹp chỉ
có thể được hình thành chắc chắn thông qua sự rèn luyện thực tế. Đó là những lý
do cắt nghĩa sự ra đời của phương pháp dạy học mới - Phương pháp tích cực hóa
của người học.
- Tích cực hóa họat động của người học được hiểu là phương pháp dạy
học lấy người học làm trung tâm, trong đó người thầy đóng vai trò người tổ chức
hoạt động của học sinh. Mỗi học sinh đều được hoạt động, mỗi học sinh đều
được bộc lộ mình và được phát triển.
Hoạt động của học sinh trong giờ học theo phương pháp dạy mới. Trong
+ Tự đánh giá.
+ Đánh giá nhóm.
+ Đánh giá trên lớp.
Các biện pháp đánh giá như: khen, chê định tính, cho điểm định hướng.
2. Phương pháp dạy phân môn tập đọc ở lớp 3 mới.
* Nội dung dạy học:
- Rèn luyện kỹ năng đọc: Rèn luyện năng đọc thành tiếng và đọc thầm
thông qua 93 bài tập đọc thuộc các loại văn bản khác nhau: văn bản nghệ thuật,
văn bản hành chính, văn bản báo chí vv… Trong đó có 30 bài thơ từ 4 - 5 đến 7
tiếng, thơ lục bát, thơ tự do, 63 bài văn xuôi, chuyện, văn miêu tả, văn bản khoa
học, nghị luận và văn bản thông thường.
Rèn kĩ đọc hiểu văn bản thông qua phần hướng dẫn văn bản sư phạm
cuối bài tập đọc chú thích và giải nghĩa từ, câu hỏi và bài tập tìm hiểu bài, giúp
học sinh nắm được ý chính của đoạn, tập nhận xét về một số hình ảnh, nhân vật,
chi tiết trong bài tập đọc.
Kết hợp rèn kỹ năng nghe, nói.
Qua việc hướng dẫn học sinh luyện đọc và tìm hiểu bài, giáo viên giúp
các em có cơ hội rèn luyện kỹ năng nghe nói, nghe giáo viên và các bạn đọc,
nghe giáo viên hướng dẫn bài học hoặc các bạn trả lời câu hỏi, nói trước lớp
hoặc trao đổi với bạn bè về nội dung bài học.
Cung cấp và mở rộng vốn sống.
Các bài tập đọc trong sách giáo khoa Tiếng việt lớp 3 phản ánh nhiều
lĩnh vực khác nhau là gia đình, nhà trường, quê hương, các vùng miền và các
dân tộc anh em trên đất nước ta đến hoạt động các văn hóa giáo dục, khoa học,
thể thao và các vấn đề lớn của xã hội như bảo vệ hòa bình, phát triển tình hữu
nghị, sự hợp tác giữa các dân tộc, bảo vệ môi trường sống, chinh phục vũ trụ.
Thông qua hệ thống bài tập đọc qua chủ điểm và các lĩnh vực khác nhau
qua những câu hỏi, bài tập khai thác nội dung bài, phân môn tập đọc còn cung
cấp cho học sinh những hiểu biết về thiên nhiên, xã hội và con người, cung cấp
vốn từ, vốn diễn đạt, những hiểu biết về tác phẩm văn học như đề tài, cốt truyện,
- Trực quan bằng tranh ảnh: Giáo viên đưa tranh ảnh mẫu phù hợp với
nội dung bài.
- Trực quan bằng băng hình: Giáo viên cho học sinh nghe giọng đọc của
học sinh đọc, có thể cho học sinh luyện đọc theo.
3- Phương pháp luyện đọc thực hành:
Là phương pháp chủ yếu trong giờ tập đọc. Dưới sự hướng dẫn của giáo
viên, học sinh được rèn luyện kỹ năng, kỹ sảo về đọc, có thể đọc đồng thanh,
đọc cá nhân, đọc nhóm để phát hiện từ quan trọng, những hình ảnh tiêu biểu,
làm các bài tập để xác định cách đọc và trhông hiểu về nội dung, nắm ý chính.
Thông qua đọc đoạn, nắm được mục đích đọc chủ yếu, đọc cá nhân, trả lời câu
hỏi để thấy được kết quả ngay tại lớp.
4- Phương pháp trò chơi:
Đây là một phương pháp mới giúp cho học sinh có hứng thú khi đọc bài.
trong cuối mỗi tiết tập đọc giáo viên tổ chức cho học sinh đọc dưới hình thức
chơi trò chơi bằng cách: thi đọc phân vai theo nhân vật; thi đọc diễn cảm một
đoạn văn hoặc một đoạn thơ. Trước khi học sinh tham gia trò chơi thi đọc giáo
viên đưa ra tiêu chuẩn đánh giá để giúp học sinh nắm được cách chơi, luật chơi,
cách nhận xét đánh giá cho điểm để tạo cho học sinh tham gia chơi một cách
tích cực, vui vẻ, bổ xung cho giờ học đạt hiệu quả cao.
Tóm lại: Muốn để phân môn tập đọc đạt kết quả cao, thì người giáo viên
phải kết hợp một cách linh hoạt các phương pháp trên thì giờ dạy mới không
ngắt quãng, gián đoạn. Người giáo viên phải luôn biết lấy học sinh làm trung
tâm. Vai trò của người giáo viên trong tiết học chỉ là người hướng dẫn, tổ chức
tiết học sao cho phù hợp với đối tượng của học sinh mình, giúp học sinh tìm ra
cách đọc tốt nhất, đọc hiểu nội dung trong bài tập đọc trong giờ tập đọc.
II. CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN
* Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình viết đề tài.
1. Thực trạng nhà trường và địa phương.
đến việc hướng dẫn học sinh tìm hiểu và thể hiện cách đọc bài văn, bài thơ này
cần đọc như thế nào? tại sao phải đọc như vậy? hoặc giáo viên chưa hướng dẫn
học sinh tìm hiểu giá trị nghệ thuật của bài để khi đọc phô diễn nội dung bài
đọc. Chính vì những thiếu xót trên mà giờ học chưa đạt kết quả cao, học sinh
chưa đọc được tốt.
III. NHỮNG GIẢI PHÁP.
1. Nhu cầu đổi mới phương pháp nói chung.
Thực tế dạy học đòi hỏi phải đổi mới theo xu hướng chung của Việt Nam
và thế giới trong mục đích đào tạo con người. Nhu cầu đổi mới ấy được đặt ra
rất cấp thiết trong các nhà trường nói chung và trường tiểu học nói riêng.
Trường tiểu học phải rèn luyện tính cách cơ bản cho trẻ.Vì vậy đòi hỏi phải dạy
học theo hướng tích cực hóa này, đó là dạy tập trung vào người học. Vì nền kinh
tế, văn hóa xã hội đang đổi mới từng giờ, từng ngày, nên đòi con người phải
năng động, sáng tạo, do đó mục tiêu đào tạo phải đồng thời đổi mới về phương
pháp giảng dạy.
- Việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực của
học sinh và cũng là góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục có chất lượng ở tiểu
học, điều đó cũng đòi hỏi phải nâng cao trình độ của giáo viên.
2. Vấn đề nâng cao trình độ của giáo viên.
Trong thời kỳ giáo dục đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi giáo viên
phải đạt một trình độ chuẩn về nhận thức văn hóa và phương pháp thì mới có thể
có những câu hỏi xác đáng, dễ hiểu, phải kết hợp hài hòa giữa hỏi và giảng.
Giáo viên cần hiểu rõ mục đích của bài giảng thì mới có thể xây dựng được
phương pháp đúng.
3. Biện pháp dạy học chủ yếu của phân môn tập đọc đã ứng dụng
trong thực tế và có hiệu quả.
- Đối với học sinh vùng miền núi, dân tộc ít người, biện pháp dạy tập
trung cần thực hiện yêu cầu tối thiểu, đó là đọc đúng, đọc rành mạch, tốc độ dọc
từ 60-> 70 tiếng/ phút, nắm được ý cơ bản của bài học, để đạt được yêu cầu này
giáo viên cần chú trọng hình thức đọc cá nhân để rèn luyện, uốn nắn học sinh
- Đọc cụm từ, từ: Nhằm sửa phát âm sai và rèn cách đọc đúng góp phần
nâng cao về ý thức viết đúng cho học sinh.
Học sinh tìm hiểu nghĩa của từ: Giáo viên phải xác định những từ ngữ
trong bài cần tìm hiểu, đó là những từ ngữ chú giải trong sách giáo khoa, từ ngữ
phổ thông mà học sinh chưa quen, vì từ ngữ đóng vai trò quan trọng để học sinh
hiểu nội dung bài đọc, nên giáo viên yêu cầu học sinh nêu lại phần giải nghĩa
trong sách giáo khoa hoặc giáo viên dùng đồ dùng dạy học như: tranh, ảnh,vật
thật, mô hình để giải nghĩa từ giúp học sinh hiểu hơn, song không nên giải nghĩa
quá nhiều từ hoặc áp dụng các biện pháp kồng kềnh làm cho giờ tập đọc thiên về
học từ ngữ một cách nặng nề.
- Hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài:
Giáo viên căn cứ vào câu hỏi, bài tập trong sách giáo khoa để hướng dẫn
học sinh tìm hiểu nội dung bài, có thể nêu nguyên văn hoặc gợi dẫn bằng 1,2 câu
hỏi phụ để học sinh dễ trả lời, tùy thuộc vào học sinh trong lớp, tránh đặt thêm
câu hỏi khai thác nội dung một cách quá yêu cầu bài học và không phù hợp với
trình độ học sinh lớp 3.
Giáo viên có thể nêu câu hỏi trực tiếp để định hướng cho học sinh đọc thầm và
trả lời đúng nội dung, đôi khi có thể kết hợp cho học sinh đọc thành tiếng,
những học sinh khác đọc thầm, sau đó trao đổi, thảo luận những vấn đề giáo
viên nêu ra.
Bằng nhiều hình thức tổ chức khác nhau, giáo viên tạo điều kiện cho học
sinh luyện tập một cách tích cực như: tự cá nhân trả lời câu hỏi, trao đổi theo cặp
để trả lời. Trong quá trình trả lời câu hỏi, giáo viên cần nêu cho học sinh cách trả
lời ngắn gọn, diễn đạt lưu loát, sau đó giáo viên nhận xét, chốt lại ý chính.
3. Những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng học sinh cần đạt được khi
học môn tập đọc.
- Trau dồi về kiến thức văn học.
- Yêu cầu kĩ năng khi học môn tập đọc.
- Luyện đọc đúng các tiếng, từ có vần an/at, ương/ ươc, ot/on, anh/ang
khi học sinh phát âm sai do ảnh hưởng của phương ngữ, giáo viên nên phát âm
mẫu chuẩn cho học sinh đọc theo, nếu học sinh nào yếu thì giáo viên nên đánh
vần những vần đọc sai đó. Ví dụ: vần ương trong từ “ Phú Thượng” học sinh
thường đọc và viết là “ Phú thược”, “ Đồng Lạn” đọc là “ Đồng Lạt”… giáo
viên yêu cầu đánh vần ương, ươc, an, at để học sinh phân biệt và khắc sâu dẫn
đền việc đọc đúng.
- Luyện đọc đúng tiết tấu, ngắt hơi, nghỉ hơi đúng ngữ điệu của câu cần
phải dựa vào nghĩa, vào quan hệ ngữ pháp giữa các tiếng, từ để ngắt nghỉ hơi
cho đúng, khi đọc không được tách một từ ra làm hai.Ví dụ: Trời thu bận xanh;
không ngắt hơi: Trời / thu bận xanh.
Không tách với danh từ đi sau. Ví dụ không đọc: trăm cô/ gái tựa/ tiên
sa, mà đọc: trăm cô gái / tựa tiên sa.
Dựa vào nghĩa và quan hệ ngữ pháp sẽ giúp các em xác định cách ngắt
nhịp đúng các câu: “Cảnh hai bên bờ sông Bến Hải/ rất đẹp”. “ Bãi biển cửa
Tùng như một chiếc lược đồi mồi / cài vào mái tóc bạch kim của sóng biển”.
Không đọc: “Cảnh bên bờ sông Bến / Hải rất đẹp”.
“Bãi biển Cửa Tùng như một chiếc lược đồi / mồi cài vào mái / tóc bạch
kim của sóng biển”.
Với cách dạy như trên số học sinh đọc sai giảm xuống rõ rệt.
b. Luyện đọc nhanh.
Đọc nhanh còn gọi đọc lưu loát, đọc trôi chảy, biện pháp đọc nhanh giáo
viên hướng dẫn cho học sinh đọc theo tốc độ đã định. Đơn vị đọc nhanh là cụm,
từ, câu, đoạn bài. Giáo viên cần điều chỉnh tốc độ đọc. Giáo viên đo tốc độ đọc
bằng cách soạn sẵn bài có số tiếng cho trước và dự tính trong bao nhiêu phút,
định tốc độ như thế nào còn phụ thuộc vào độ khó của bài đọc.
c. Luyện đọc thầm, đọc hiểu.
Đây là kỹ năng được chuyển từ ngoài vào trong, từ đọc to đến đọc nhỏ,
đọc mấy máy môi đến đọc bằng mắt, không mấp máy môi. Giáo viên phải tổ
chức quá trình từ ngoài vào trong, cần kiểm soát quá trình đọc thầm của học sinh
mải mê”, “ chải chuốt”,…
Đoạn 2: Giọng đọc âu yếm, ân cần đối với ngựa cha, ngựa con tự tin,
ngúng ngẩy: “ cha yên tâm”, “ chắc chắn”, “ sẽ thắng”.
Đoạn 3: Giọng đọc chậm, nhấn giọng ở các từ ngữ tả muông thú chuẩn
bị cuộc đua: “ sốt ruột”, “ ngắm nghiá”, “ giữ trật tự”, “ ung dung”.
Đoạn 4: Giọng đọc nhanh, hồi hộp, đoạn cuối đọc chậm thể hiện sự nuối
tiếc vì chủ quan của ngựa con.
Bên cạnh đó, giáo viên cần chuẩn bị đồ dùng, tranh ảnh, vật thực cho giờ
học, bảng phụ ghi câu văn, đoạn văn khó cần luyện cho học sinh.
Đối với bài tập có lời đối thoại, giáo viên nên xây dựng màn kịch ngắn
với nội dung của bài, học sinh sắm các vai nhân vật đó để đọc bài.
Ví dụ bài: “Cuốn sổ tay” của nhân vật trong chuyện rất phù hợp với lứa
tuổi các em, sôi nổi, hào hứng, hồn nhiên, các em sắm vai :(Thanh, Tuấn, Lân,
Tùng). Lời nói của người dẫn chuyện giọng điệu hồn nhiên, giọng của Lân có vẻ
ngại ngần, giọng của Thanh quả quyết, dứt khoát, hào hứng; giọng của Tùng vẻ
thách thức, dí dỏm và rất tự tin…
Sau đó giáo viên gọi từng nhóm học sinh lần lượt lên bảng nhập vai đọc
bài, như vậy tất cả học sinh trên lớp đều làm việc, được luyện nói và được thể
hiện nét mặt thông qua các nhân vật mà mình nhập vai. Qua các giờ học như
vậy, học sinh sẽ tiến bộ dần, các em sẽ tự tin hơn ở bản thân mình, tạo ra tiết học
đạt kết quả cao.
e. Luyện đọc thuộc lòng.
Ở những bài dạy có yêu cầu luyện đọc thuộc lòng, giáo viên chú ý kết
hợp luyện đọc thành tiếng bằng cách tổ chức đọc cá nhân riêng lẻ, hoặc nối tiếp
đọc đồng thanh theo nhóm, tổ, cả lớp, đọc theo vai phối hợp nhiều học sinh.
Giáo viên cần biết nghe khi học sinh đọc để có cách rèn luyện thích hợp
với từng em, gợi ý, khuyến khích trong lớp trao đổi, nhận xét về chỗ được, chỗ
chưa được của bạn giúp học sinh biết rút kinh nghiệm để tự tin và đọc tốt hơn.
đã đọc tốt hơn rất nhiều và có ý thức vươn lên trong các môn học khác. Ngoài ra
tôi còn tổ chức cho các em học nhóm ở gia đình, giao nhiệm vụ cho em đọc tốt
kèm cặp bạn đọc yếu ở tại địa phương vào ngày nghỉ, giúp các em được giao lưu
học hỏi nhiều hơn.
f. Kết hợp với chuyên môn nhà trường và học hỏi ở đồng nghiệp.
Ngoài những biện pháp mà tôi đã áp dụng ở trên, tôi đều tham gia và đề
nghị chuyên môn nhà trường tích cực tổ chức dự giờ thăm lớp để học hỏi và rút
kinh nghiệm cho mỗi tiết học, đồng thời tôi thường xuyên dự các giờ dạy của
đồng ngiệp để học hỏi những kinh nghiệm, những phương dạy hay nhất, hiệu
qủa nhất.
h. Kết hợp giữa gia đình và nhà trường.
Thời gian các em học tập ở trường tuy nhiều , nhưng các em không đủ
học phân môn tập đọc, mà còn phải học các môn khác. Vì vậy về nhà các em
phải có thời gian học tập. Đối với học sinh yếu cha mẹ chưa quan tâm nhiều đến
các em. Chính vì vậy tôi đã sử dụng biện pháp là: đến thăm gia đình học sinh,
tìm hiểu hoàn cảnh, đời sống sinh hoạt cũng như văn hóa trong gia đình, kiểm
tra góc học tập của các em, tiếp xúc với gia đình và tâm sự với phụ huynh học
sinh về sự cần thiết của việc học tập và nhất là môn tập đọc, yêu cầu gia đình tạo
điều kiện và kèm cặp thêm những lúc các em học ở nhà. Tổ chức các cuộc họp
phụ huynh giữa nhà trường và gia đình để thông báo và đề ra những biện pháp
học tập cụ thể cho từng em, từng đối tượng học sinh.
Các giờ học trên lớp, tôi thường xuyên gọi các em đọc yếu, đọc chậm để
đọc bài rồi uốn nắn, sửa chữa những câu, từ do học sinh đọc sai, sửa ngay tại
lớp. Mặt khác giáo viên đưa bài tập về nhà, đến lớp phải thường xuyên kiểm tra,
nhận xét, ghi điểm. Ngoài ra tôi còn kết hơp một số biện pháp khác như: ghi sổ
liên lạc đều đặn và gửi đến gia đình kịp thời theo quy định hoặc đột xuất những
hôm các em đọc yếu, hoặc học giảm xút đi.
C/ PHẦN KẾT LUẬN.
1. Tác dụng của đề tài sáng kiến kinh nghiệm.
được văn khá hơn, đồng thời học các môn khác cũng tốt hơn.
Kết quả cụ thể cuối năm học như sau:
Tổng số học sinh
18
Giỏi
Khá
9 ( 50% )
5 ( 27.78% )
Trung bình
4 ( 22,22 % )
Đó là những kết quả mà tôi tìm tòi và áp dụng có hiệu quả trong Nhà
trường năm học qua về phương pháp dạy môn tập đọc. Mặc dù tôi luôn cố gắng
để tìm ra những giải pháp hữu hiệu hơn, song do khả năng có hạn, nên không
sao tránh khỏi những hạn chế. Vì vậy tôi rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng
góp của các Nhà quản lý chuyên môn các cấp trong ngành và các bạn đồng
nghiệp, mong muốn đề tài – kinh nghiệm này của tôi ngày càng hoàn thiện hơn
và áp dụng vào thực tế giảng dạy phân môn tập đọc ở Tiểu học nói chung và ở
lớp 3 nói riêng.
Tôi xin chân thành cảm ơn./.
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 02 năm
2011.