Phân tích động cơ các bên tham gia giải quyết nợ xấu theo cơ chế mua bán nợ của VAMC Phân tích động cơ các bên
tham gia giải quyết nợ xấu theo
cơ chế mua bán nợ của VAMC
GVHD: PGS.TS Trương Quang Thông
Nhóm 2- Cao Học Ngân Hàng Đêm 2
MÔN: QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG
NHÓM 2- CAO HỌC NGÂN HÀNG ĐÊM 2
1
Phân tích động cơ các bên tham gia giải quyết nợ xấu theo cơ chế mua bán nợ của VAMC
MỤC LỤC
DANH SÁCH NHÓM 2- CAO HỌC NH ĐÊM 2 2
1.Thực trạng nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam 3
2. Tổng quan về VAMC 8
2.1. Kinh nghiệm xử lý nợ xấu trên thế giới: 8
2.2 Khung pháp lý và cơ chế giám sát: 12
2.3 Cơ chế hoạt động của VAMC : 16
MÔN: QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG
NHÓM 2- CAO HỌC NGÂN HÀNG ĐÊM 2
3
Phân tích động cơ các bên tham gia giải quyết nợ xấu theo cơ chế mua bán nợ của VAMC
1.Thực trạng nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam
Tín dụng ngân hàng từ những năm 1990 trở lại đây, luôn đóng vai trò là mạch
máu chính của nền kinh tế cả nước. Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế tài
chính và suy thoái kinh tế toàn cầu từ năm 2008 đến nay, nền kinh tế nước ta đã chịu
tác động tiêu cực và kinh tế vĩ mô có nhiều yếu tố không thuận lợi, các tài sản dài hạn
(Bất động sản, chứng khoán) bị giảm giá mạnh, nợ xấu của các ngân hàng được
thường xuyên nhắc đến như là “cục máu đông” của nền kinh tế. Hoạt động sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy, nợ xấu của hệ thống
các tổ chức tín dụng có chiều hướng gia tăng nhanh. Trong thực tế, các ngân hàng và
tổ chức tín dụng Việt Nam có xu hướng tận dụng những khe hở của qui định nhằm nới
lỏng phạm vi hoạt động, đạt tăng trưởng tín dụng cao, huy động và cho vay vốn cao
hơn nhiều lần vốn pháp định, tham gia các hoạt động đầu tư rủi ro để thu lợi nhuận
cao.
Theo số liệu của Cơ quan thanh tra giám sát Ngân hàng Nhà nước, từ năm 2008
đến nay, nợ xấu của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam có xu hướng tăng nhanh. Trung
bình giai đoạn 2008 -2011, dư nợ xấu bình quân khá cao, khoảng 51%. Đặc biệt, từ
năm 2011, tổng cầu của nền kinh tế giảm mạnh, tiêu thụ hàng hoá gặp nhiều khó khăn,
hàng tồn kho lớn, thị trường bất động sản đóng băng, năng lực tài chính của doanh
nghiệp giảm sút…Điều này đã làm cho tốc độ tăng dư nợ tín dụng năm 2011 chậm lại
đáng kể. Trong 7 tháng đầu năm 2012, dư nợ tín dụng của Việt Nam chỉ tăng 1,02%
nhưng nợ xấu lại tăng tới 45,5%. Và đến tháng 12/2012 thì con số này là 8.8%. Tuy
nhiên nhiều nguồn số liệu độc lập khác cho thấy con số này thực tế cao hơn rất nhiều
lần (20% nếu theo Barclays).
4.00%
5.00%
6.00%
7.00%
8.00%
9.00%
10.00%
Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
Thng
12/2012
Thng
2/2013
MÔN: QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG
NHÓM 2- CAO HỌC NGÂN HÀNG ĐÊM 2
5
Phân tích động cơ các bên tham gia giải quyết nợ xấu theo cơ chế mua bán nợ của VAMC
Hình 1.2 - Tỷ lệ nợ xấu tại thời điểm 31/12/2012 và đến 30/6/2013
(Nguồn: NHNN)
Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại Quyết định
493/2005/QĐ-NHNN, ngày 22/4/2005, nợ xấu là những khoản nợ thuộc nhóm 3 (dưới
chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ), và nhóm 5 (có khả năng mất vốn), được xác định theo 2
yếu tố: (i) đã quá hạn trên 90 ngày, và (ii) khả năng trả nợ đáng lo ngại. Quy định này
tương đồng với định nghĩa nợ xấu của Phòng Thống kê – Liên Hợp quốc.
Theo báo cáo tài chính bán niên năm 2013 của 10 ngân hàng đã công bố báo
cáo tài chính hợp nhất, nợ có khả năng mất vốn (nợ nhóm 5) của các ngân hàng này đã
tăng đến 33% trong sáu tháng đầu năm. Tổng nợ có khả năng mất vốn của 10 ngân
hàng này tính đến cuối tháng 6-2013 là 15.315 tỉ đồng, tăng 33% so với mức 11.525 tỉ
năng mất vốn giảm nhẹ 1% xuống còn 782,5 tỉ đồng.
Hình 1.3-Nợ có khà năng mất vốn của 10 ngân hàng ( Triệu đồng)
Về lợi nhuận trước thuế, chỉ riêng BIDV và Phương Nam có lợi nhuận trước
thuế nửa đầu năm nay tăng so với cùng kỳ năm ngoái, còn tám ngân hàng kia đều sụt
giảm lợi nhuận, mức sụt giảm mạnh nhất là Nam Việt với 91% và kế đến là Eximbank
với mức giảm lợi nhuận là 60%. MÔN: QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG
NHÓM 2- CAO HỌC NGÂN HÀNG ĐÊM 2
7
Phân tích động cơ các bên tham gia giải quyết nợ xấu theo cơ chế mua bán nợ của VAMC
Hình 1.4 - Lợi nhuận nửa đầu năm 2013 so với cùng kỳ năm trước
Mặc dù các tổ chức tín dụng của Việt Nam có tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ cấp tín
dụng khá cao, có chiều hướng gia tăng cảnh báo về chất lượng tín dụng và an toàn
hoạt động tín dụng hiện nay, nhưng nếu so với nhiều nước trong khu vực cũng đã từng
đối mặt với vấn đề nợ xấu trong cuộc khủng hoảng tài chính giai đoạn 1998-2000,
buộc chính phủ phải xử lý thì tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ cấp tín dụng của Việt Nam vẫn
thấp hơn: Thái Lan là 47%, Hàn Quốc là 17%, Indonesia là hơn 20%. Theo thống lệ
quốc tế, ngưỡng an toàn của tỷ lệ nợ xấu là dưới 3%, một mức khó đạt trong điều kiện
nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn như hiện nay.
Vấn đề nợ xấu trong hệ thống ngân hàng không phải do riêng bản thân ngành
ngân hàng gây ra nên để xử lý dứt điểm nợ xấu cần phải có những giải pháp tổng thể.
Trong thực tế, nợ xấu là sự tồn tại tất yếu trong hoạt động của hệ thống ngân hàng.
Với mong muốn xử lý nợ xấu, thúc đẩy tín dụng nền kinh tế phát triển, ngày
Nhiệm vụ: giải quyết nợ xấu của hệ thống tín dụng nhằm giúp nền kinh tế lấy
lại đà tăng trưởng. KAMCO có nhiệm vụ điều hành một quỹ quản lý nợ xấu (NPA)
có thời hạn hoạt động năm năm để giải quyết nợ xấu của toàn bộ hệ thống.
Phương pháp xử lý: KAMCO phân các tài sản mà nó mua thành 2 loại: tài sản
thông thường và tài sản đặc biệt. Tài sản thông thường là những khoản nợ xấu mà khả
năng được thanh toán là không chắc chắn. Tài sản đặc biệt là những khoản nợ xấu cho
các công ty đang trong quá trình tái tổ chức doanh nghiệp, do đó các khoản nợ được
cơ cấu lại với lãi suất thấp hơn và kéo dài thời gian trả nợ. Các loại tài sản này lại tiếp
tục đươc phân thành các khoản vay có đảm bảo và không có đảm bảo. Sau khi mua lại,
KAMCO sẽ nhóm các khoản nợ xấu này lại và bán cho các nhà đầu tư thông qua đấu
giá quốc tế hoặc KAMCO sẽ phát hành các chứng khoán có đảm bảo bằng tài sản dựa
trên các khoản nợ xấu đã mua. KAMCO cũng có thể tịch thu thế chấp của các tài sản
MÔN: QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG
NHÓM 2- CAO HỌC NGÂN HÀNG ĐÊM 2
9
Phân tích động cơ các bên tham gia giải quyết nợ xấu theo cơ chế mua bán nợ của VAMC
có đảm bảo. Đôi khi, KAMCO nắm giữ các khoản nợ xấu và cố gắng tái cơ cấu nợ, tái
tài trợ hay chuyển đổi nợ - vốn chủ nếu KAMCO cho rằng công ty đó có khả năng hồi
phục.
Kết quả: Bằng việc mua lại và xử lý các khoản nợ xấu, KAMCO đã thành công
trong việc xử lý nợ xấu, nâng cao chất lượng tài sản của các ngân hàng. Tỉ lệ an toàn
vốn theo BIS đã tăng đáng kể từ 7% năm 1997 lên 10,8% vào tháng 3 năm 2002, đồng
thời tỉ lệ nợ xấu/tổng dư nợ của các ngân hàng giảm từ 16,9% vào năm 1998 xuống
còn 2,8% vào năm 2001.
Giải pháp hỗ trợ: Để khuyến khích khả năng bán các khoản nợ xấu, Chính phủ
Hàn Quốc đã ban hành những luật thuế đặc biệt - một số đã tỏ ra rất có hiệu quả trong
một khoảng thời gian nhất định như:
(1) Giảm thuế trên thặng dư vốn: Thặng dư vốn thu đươc từ việc chuyển đổi các tài
Danaharta nắm rõ đặc điểm của từng món nợ và doanh nghiệp mắc nợ, từ đó có nhiều
cách để thực hiện tái cấu trúc lại doanh nghiệp và thu lợi nhuận lớn sau khi xử lý xong
các khoản nợ xấu này.
Kết quả: Danaharta đã mua 23.1 tỷ Ringgit Malaysia (RM), tương đương 31.8%
nợ xấu trong hệ thống ngân hàng, đưa nợ xấu của Malaysia về khoảng 12.4% vào giữa
năm 2009. Việc mua bán nợ được thực hiện trong vòng 6 tháng, nhanh hơn cả mục
tiêu đề ra.
Giải pháp hỗ trợ: Một yếu tố đóng vai trò rất quan trọng giúp cho Danaharta
thành công đó là bởi nó được sự hậu thuẫn đặc biệt từ chính quyền Malaysia. Vào
tháng 8/1998, Luật Danaharta ra đời đem lại bộ khung pháp lý rất đặc biệt cho tổ chức
này. Đạo luật này cho phép Danaharta những đặc quyền mà không một tổ chức tài
chính nào có thể có được trong lịch sử ngành tài chính quốc gia, đó là: mua lại tài sản
của các tổ chức tài chính; bổ nhiệm lãnh đạo ở các tổ chức đang nợ và có quyền tịch
biên những tài sản thế chấp.
* Thai Asset Management Corporation – TAMC (Thái Lan):
Năm 2001, Thái Lan thành lập một công ty quản lý tài sản tập trung có tên Thai Asset
Management Corporation (TAMC)
Nhiệm vụ: xử lý triệt để vấn đề nợ xấu cho tất cả các TCTD.
Phương pháp xử lý: Việc xử lý nợ xấu sẽ dựa trên nguyên tắc chia sẻ lời – lỗ
giữa TAMC và các TCTD bán nợ. Nếu nợ xấu có thể sinh lời thì ngân hàng bán nợ sẽ
được hưởng 80% phần lợi nhuận, còn nếu nợ xấu tạo lỗ thì ngân hàng đó sẽ phải chịu
20% khoản lỗ ấy. Hầu hết nợ xấu của các ngân hàng chuyển sang TAMC quản lý xuất
phát từ các doanh nghiệp bất động sản và sản xuất. Đối với các khoản vay có thế chấp
không còn khả năng trả nợ, TAMC thực hiện tịch thu tài sản thế chấp và bán thanh lý
để hoàn phần vốn vay dựa trên nguyên tắc chia sẻ lời-lỗ. Đối với các khoản vay mà
TAMC nhận thấy còn khả năng trả nợ, TAMC đã chủ động phối hợp với các cơ quan
đại diện cho các khu vực kinh tế để đưa ra các giải pháp khôi phục lại hoạt động sản
xuất kinh doanh của các khu vực đó, tạo nguồn vốn trả nợ.
Kết quả: tính đến tháng 6/2003, số nợ xấu được TAMC giải quyết là 784,4 tỷ
Baht, đạt 73,46% tổng số nợ cần xử lý. Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng Thái Lan
năng lực đánh giá được rủi ro và xếp loại các tài sản, nợ xấu mà các ngân hàng mang
đến bán cho mình. Đồng thời phải ngăn ngừa được rủi ro đạo đức, tâm lý ỷ lại của các
ngân hàng khi bán nợ xấu cho AMC. Không để phát sinh nhiều nợ xấu mới trong nền
kinh tế trong khi nợ xấu cũ vẫn chưa xử lý xong.
MÔN: QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG
NHÓM 2- CAO HỌC NGÂN HÀNG ĐÊM 2
12
Phân tích động cơ các bên tham gia giải quyết nợ xấu theo cơ chế mua bán nợ của VAMC
2.2 Khung pháp lý và cơ chế giám sát:
VAMC là doanh nghiệp đặc thù do Nhà nước sở hữu 100% vốn, chịu sự quản lý
nhà nước, thanh tra, giám sát trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước.
*Nghị định 53/2013/NĐ-CP, ngày 18/05/13: Chính phủ ban hành về việc thành lập
VAMC, có hiệu lực từ ngày 09/07/13, trong đó nêu rõ:
Thẩm quyền của NHNN đối với việc thành lập, tổ chức của VAMC: Thành
lập Công ty; Phê duyệt Điều lệ và nội dung sửa đổi, bổ sung Điều lệ của công ty; Cấp
đủ vốn điều lệ; Bổ nhiệm, miễn nhiệm Chủ tịch và các thành viên Hội đồng Thành
viên, Trưởng ban kiểm soát và các thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc và các
Phó Tổng giám đốc của công ty;
Phạm vi hoạt động của VAMC: Mua nợ, thu hồi nợ, đòi nợ và xử lý, bán nợ,
tài sản bảo đảm; Cơ cấu lại khoản nợ, điều chỉnh điều kiện trả nợ, chuyển nợ thành
vốn góp, vốn cổ phần của khách hàng vay; Quản lý khoản nợ xấu đã mua và kiểm tra,
giám sát tài sản bảo đảm có liên quan đến khoản nợ xấu; Tư vấn, môi giới mua, bán
nợ và tài sản;…
Điều kiện đối với các khoản nợ xấu được VAMC mua: có đủ 5 điều kiện:
khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng; khoản nợ xấu có tài sản bảo đảm; khoản nợ xấu,
phát hành TPĐB cho từng TCTD tham gia cấp tín dụng hợp vốn tương ứng với
giá trị ghi sổ số dư nợ gốc của khoản nợ xấu sau khi khấu trừ số tiền dự phòng.
Cụ thể, số tiền này đã trích lập, chưa sử dụng cho khoản nợ xấu đó và đang
được theo dõi tại TCTD tham gia cấp tín dụng hợp vốn.
TCTD bán nợ phải trích lập dự phòng rủi ro đối với TPĐB vào chi phí hoạt
động. Hệ số rủi ro của TPĐB là 20% khi tính tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của
TCTD. Hàng năm TCTD phải trích lập dự phòng rủi ro (DPRR) cho TPĐB
không thấp hơn 20%. Như vậy đảm bảo sau 5 năm khoản nợ xấu sẽ được trích
lập đầy đủ. Số tiền trích lập DPRR bằng mệnh giá/thời hạn của TPĐB.
Các khoản nợ xấu trong hoạt động cấp tín dụng gồm cho vay, chiết khấu, cho
thuê tài chính, bao thanh toán và các khoản nợ xấu theo quy định của NHNN;
khoản mua trái phiếu DN chưa niêm yết trên thị trường chứng khoản hoặc chưa
đăng ký giao dịch; khoản nợ xấu có tài sản đảm bảo
Trong trường hợp đặc biệt, nếu khoản nợ xấu của TCTD không đáp ứng đủ các
điều kiện để VAMC mua, NHNN sẽ xem xét trình Thủ tướng quyết định việc
VAMC mua lại các khoản nợ trên nhằm đảm bảo an toàn hoạt động của các
TCTD và xử lý nhanh nợ xấu. Riêng đối với các TCTD có tỷ lệ nợ xấu từ 3%
so với tổng dư nợ trở lên là đối tượng bắt buộc phải bán nợ cho VAMC. Nếu
TCTD nào không bán nợ, NHNN sẽ áp dụng các biện pháp quy định tại khoản
5 Điều 14 Nghị định số 53/2013/NĐ-CP. Trên cơ sở kết quả thanh tra, định giá,
MÔN: QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG
NHÓM 2- CAO HỌC NGÂN HÀNG ĐÊM 2
14
Phân tích động cơ các bên tham gia giải quyết nợ xấu theo cơ chế mua bán nợ của VAMC
kiểm toán độc lập, NHNN yêu cầu các TCTD phải bán nợ cho VAMC. Thậm
chí có thể áp dụng các biện pháp xử lý theo quy định pháp luật để đảm bảo nợ
xấu ở mức an toàn.
Cơ chế bán nợ: VAMC bán nợ xấu đã mua theo hình thức đấu giá hoặc chào
15
Phân tích động cơ các bên tham gia giải quyết nợ xấu theo cơ chế mua bán nợ của VAMC
nợ đúng hạn; Trách nhiệm của TCTD, VAMC và trách nhiệm của các đơn vị
thuộc NHNN.
* Quyết định số 2134/QĐ-NHNN, ngày 24/9: Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã
ký ban hành công bố năm thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động mua, bán và xử
lý nợ xấu của VAMC, bao gồm: thông báo việc ban hành/sửa đổi, bổ sung/thay thế
các chính sách quản lý, quy định nội bộ về mua, bán, xử lý nợ xấu của VAMC; chấp
thuận phương án phát hành trái phiếu đặc biệt của VAMC; chấp thuận phương án mua
nợ theo giá trị thị trường của VAMC; chấp thuận phương án hỗ trợ tài chính cho
khách hàng vay của VAMC; chấp thuận phương án góp vốn điều lệ, vốn cổ phần của
khách hàng vay là doanh nghiệp của VAMC. MÔN: QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG
NHÓM 2- CAO HỌC NGÂN HÀNG ĐÊM 2
16
Phân tích động cơ các bên tham gia giải quyết nợ xấu theo cơ chế mua bán nợ của VAMC
2.3 Cơ chế hoạt động của VAMC :
* Cơ cấu nhân sự của VAMC : Cơ cấu tổ chức của VAMC tương đối đơn giản, và
do NHNN quyết định. Về cơ cấu tổ chức VAMC có trụ sở chính ở Hà Nội và văn
phòng đại diện, chi nhánh ở một số tỉnh, thành phố. Bộ máy quản trị gồm có : Hội
đồng thành viên (tối đa 7 người), Ban kiểm soát (tối đa 3 người), Tổng giám đốc và
một số Phó tổng giám đốc do NHNN bổ nhiệm, miễn nhiệm. Các Phó tổng giám đốc
của VAMC được điều chuyển từ NHNN và các ngân hàng BIDV, Agribank,
LienVietPostBank, SHB.
Hội đồng thành viên của VAMC gồm 3 nhân vật đến từ NHNN và Agribank,
Phó Tổng Giám đốc
Bà Lê Thị Mai Hương
Trưởng phòng Xây dựng
chương trình và thẩm định
BCKT-NHNN
Trưởng Ban Kiểm soát
MÔN: QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG
NHÓM 2- CAO HỌC NGÂN HÀNG ĐÊM 2
17
Phân tích động cơ các bên tham gia giải quyết nợ xấu theo cơ chế mua bán nợ của VAMC
* Nguyên tắc hoạt động của VAMC ( điều 5):
Lấy thu bù chi và không vì mục tiêu lợi nhuận.
Công khai, minh bạch trong hoạt động mua, xử lý nợ xấu.
Hạn chế rủi ro và chi phí trong xử lý nợ xấu.
Hình 2- Sơ đồ cơ chế hoạt động của VAMC :
Về cơ chế hoạt động, VAMC là công ty trực thuộc Chính phủ nhưng
NHNN sẽ chịu trách nhiệm giám sát và quản lý. Nguồn vốn ban đầu của
VAMC do Nhà nước cấp khoảng 500 tỷ đồng nhỏ hơn nhiều so với quy mô nợ
xấu (xấp xỉ 260,000~400,000 tỷ đồng). Bên cạnh đó, VAMC sẽ phát hành trái
phiếu có bảo lãnh của Chính phủ để thực hiện giao dịch mua-bán nợ xấu với
các TCTD.
* Phương thức mua nợ của VAMC ( điều 7):
Mua nợ xấu của tổ chức tín dụng theo giá trị ghi sổ bằng trái phiếu đặc
biệt do công ty quản lý tài sản phát hành.
Công ty Quản lý tài sản được ủy quyền cho tổ chức tín dụng bán nợ thực
hiện các hoạt động được quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 1 điều
này 12 nghị định 53/2013/NĐ-CP .
Một vấn đề đáng lưu ý ở đây là không có qui định về thời gian hoạt động của VAMC.
Đồng thời, nguyên tắc thu mua nợ không dựa trên tối đa hoá lợi ích cho các ngân hàng
mà chỉ tập trung vào lấy thu bù chi và hạn chế rủi ro. MÔN: QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG
NHÓM 2- CAO HỌC NGÂN HÀNG ĐÊM 2
19
Phân tích động cơ các bên tham gia giải quyết nợ xấu theo cơ chế mua bán nợ của VAMC
3. Phân tích động cơ các bên tham gia giải quyết nợ xấu theo cơ chế mua bán
nợ của VAMC
3.1 Về phía VAMC
Nguyên tắc hoạt động của VAMC không vì mục tiêu lợi nhuận, khi các
món nợ xấu được VAMC xử lý thành công thì VAMC sẽ được hưởng một tỷ lệ nhất
định (tỷ lệ này hiện vẫn chưa được ban hành, nhưng theo dự thảo là 2%) trên số nợ
đòi được, phần còn lại sẽ được ngân hàng hưởng toàn bộ. Khi thành lập VAMC, kỳ
vọng của ngân hàng nhà nước là VAMC sẽ xử lý được khoảng từ 80 -100 nghìn tỷ nợ
xấu trong 5 năm và tỷ lệ dự kiến thu hồi được từ 20%-40%, nếu tỷ lệ VAMC được
nhận là 2% thì số phí VAMC nhận được hàng năm khoảng từ 60-160 tỷ
1
, số tiền này
chỉ duy trì hoạt động bình thường của VAMC. Trường hợp khi trái phiếu đặc biệt đến
hạn mà VAMC vẫn không xử lý được khoản nợ xấu này thì VAMC sẽ trả lại cho ngân
hàng và ngân hàng phải thanh toán lại cho Ngân hàng nhà nước số tiền đã được tái cấp
vốn thông qua trái phiếu đặc biệt.
Là một công ty quản lý tài sản, các khoản nợ xấu được chuyển sang VAMC
doanh nghiệp không hiệu quả sau một thời gian VAMC cũng sẽ trả lại ngân hàng.
Như phân tích trên, chúng ta thấy thiết kế thành lập VAMC đã không hành
động vì mục tiêu tối đa hóa lợi ích của các ngân hàng, với nguồn lực hiện tại cùng với
động cơ không rõ ràng, khả năng lớn nhất là VAMC chỉ lưu giữ các khoản nợ xấu của
ngân hàng một thời gian bằng cách phát hành trái phiếu đặc biệt, hết thời gian trái
phiếu thì VAMC trả lại khoản nợ đó cho ngân hàng, nền kinh tế vẫn không có những
hay đổi căn bản trong xử lý nợ xấu.
NHNN yêu cầu việc kinh doanh nợ xấu của VAMC chỉ được hòa hoặc
lãi,điều này làm cho mặc dù nợ xấu đã trở thành hàng hóa, nếu muốn xử lý nhanh thì
cần phải phát triển thành thị trường hàng hóa nhưng VAMC không thể triển khai.
3.2 Về phía các Ngân hàng:
*Ngân hàng thương mại:
Việc bán các khoản nợ xấu cho VAMC có những thuận lợi cũng như những tồn
tại như sau:
, các ngân hàng giảm được áp lực trích lập dự phòng do không phải trích
lập dự phòng tất cả số tiền ngay mà việc trích lập dự phòng sẽ được rải đều tối đa 5
năm.
Hai là, khi nhận được trái phiếu đặc biệt của VAMC, ngân hàng có thể được tái
cấp vốn từ ngân hàng nhà nước để bổ sung vào nguồn vốn kinh doanh của mình. Do
vậy, các ngân hàng sẽ tận dụng được nguồn vốn góp phần đưa vào kinh doanh hiệu
quả hơn.
MÔN: QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG
NHÓM 2- CAO HỌC NGÂN HÀNG ĐÊM 2
21
Phân tích động cơ các bên tham gia giải quyết nợ xấu theo cơ chế mua bán nợ của VAMC
Ba là, bảng cân đối tài sản của ngân hàng sẽ đẹp hơn, các chỉ tiêu về an toàn
vốn được đáp ứng và được phép mở rộng tín dụng theo quy định.
Đối với các ngân hàng đã thực hiện trích lập đầy đủ dự phòng đối với các
Phân tích động cơ các bên tham gia giải quyết nợ xấu theo cơ chế mua bán nợ của VAMC
cơ sở mệnh giá trái phiếu đặc biệt do Thống đốc NHNN quyết định căn cứ vào mục
tiêu điều hành chính sách tiền tệ, kết quả trích lập dự phòng rủi ro đối với trái phiếu
đặc biệt và kết quả xử lý nợ xấu nhưng không vượt quá 70% so với mệnh giá trái
phiếu đặc biệt), đây là yếu tố cực kỳ quan trọng để ngân hàng cân nhắc bài toán giữa
lợi ích và chi phí, nếu tỷ lệ tái cấp vốn trên trái phiếu đặc biệt phù hợp thì đương nhiên
các ngân hàng thương mại sẽ chấp nhận bán nợ và chuyển giao công tác cơ cấu các
khoản nợ này cho VAMC.
Thứ tư, VAMC chỉ xử lý những khoản nợ có tài sản đảm bảo, thế nhưng phần
lớn nợ xấu của ngân hàng là các khoản vay không có bảo đảm của các doanh nghiệp
nhà nước. Hiện tại, các ngân hàng thương mại đang gặp bế tắc trong việc xử lý các
khoản nợ này.
Như vậy, về cơ bản các ngân hàng tuy đã bán nợ cho VAMC nhưng vẫn phải
trích lập dự phòng hàng năm 20% trên mệnh giá trái phiếu đặc biệt, và có khả năng rất
cao sẽ nhận lại khoản nợ xấu đã bán sau 5 năm. Do vậy, các ngân hàng sẽ không mặn
mà với VAMC mà lại phát sinh động cơ giấu nợ xấu bằng cách giãn nợ, đảo nợ… để
tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng đạt dưới 3% và không phải bán nợ xấu cho VAMC. Khi
buộc phải bán nợ thì khoản vốn nhận được từ tái chiết khấu ngân hàng sẽ cho vay
những món nợ có rủi ro cao nhằm đạt lãi suất cao thay vì thận trọng để bù vào những
khoản bị buộc phải trích lập. Đây là sự lựa chọn ngược dễ dẫn đến vòng xoáy nợ xấu
lặp lại và làm cho vấn đề nợ xấu ngày càng trầm trọng hơn.
*Ngân hàng nhà nước
NHNN như là một người trọng tài điều khiển cuộc chơi khi đặt ra những qui
định và giám sát việc thực hiện các qui định liên quan đến xử lý nợ xấu, mục đích
nhằm khơi thông tín dụng, thúc đẩy tăng trưởng, nhưng hiện nhiều qui định chưa được
cập nhật đầy đủ như là chưa có thông tin về điều kiện tái cấp vốn khi sử dụng trái
phiếu đặc biệt, hoặc tỷ lệ tái cấp vốn, quản lý vốn được tái cấp như thế nào…nếu
những quy định này không chặt chẽ, minh bạch có thể dẫn đến cơ chế xin cho, ưu ái
trong xử lý nợ cho các doanh nghiệp, tập đoàn Nhà nước,…gây biến dạng thị trường
cũng như tiềm ẩn đâu đó lợi ích nhóm. Ngoài ra, nếu Ngân hàng nhà nước không xem
hơn
Đối với những doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp trong lĩnh vực bất động sản
nếu các khoản nợ ngân hàng được chuyển giao cho VAMC, với quyền hạn được quy
định của mình VAMC có thể tái cơ cấu lại khoản nợ theo hướng điều chỉnh kỳ hạn trả
MÔN: QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG
NHÓM 2- CAO HỌC NGÂN HÀNG ĐÊM 2
24
Phân tích động cơ các bên tham gia giải quyết nợ xấu theo cơ chế mua bán nợ của VAMC
nợ, áp dụng lãi suất trong khả năng trả nợ của doanh nghiệp, giảm hoặc miễn toàn bộ
các khoản lãi quá hạn, hoặc trở thành cổ đông góp vốn với vốn góp là những khoản nợ
của doanh nghiệp… đây có lẽ là những điểm lợi của doanh nghiệp.
Tuy nhiên điểm khó khăn nhất trong xữ lý nợ xấu là làm thế nào xử lý được nợ ,
vừa đưa được những doanh nghiệp có khả năng phục hồi trở lại. Có hai cách mà
VAMC tác động vào tình hình của doanh nghiệp là đầu tư tài chính vào các doanh
nghiệp bằng hình thức: Một là, biến nợ thành vốn góp và trả lại toàn bộ thế chấp, khi
đó doanh nghiệp có thể vay vốn trở lại vì có tài sản đảm bào, và vừa có cổ đông “ngon”
VAMC; Hai là,VAMC có thể cho doanh nghiệp vay vốn lưu động hoặc đầu tư vào các
dự án, hay có thể đứng ra bảo lãnh cho doanh nghiệp vay ngân hang.
Dù vậy, rất khó hy vọng vào điều này diễn ra tại Việt Nam, tiền lệ cho thấy
không có nhiều hy vọng vào việc các đơn vị nhà nước tham gia sẽ cải thiện tình hình
quản trị và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp dù là khỏe mạnh, huống chi những
doanh nghiệp buộc phải bán nợ đều gặp nhiều khó khăn.
Tuy vậy, trong điều kiện kinh tế vĩ mô ảm đạm, cả nền kinh tế đình đốn sản
kinh doanh, sức mua của nền kinh tế giảm sút, nhu cầu vay thêm của doanh nghiệp rất
thấp, thể hiện qua lãi suất cho vay hiện rất thấp nhưng tăng trưởng tín dụng vẫn không
khả quan, điều đó thể hiện doanh nghiệp cần giải cứu đầu ra chứ không phải việc tiếp
cận thêm tín dụng. Đối với các doanh nghiệp đang trong giai đoạn phải xử lý nợ xấu
thì khả năng tiếp cận tín dụng rất thấp, mặc dù VAMC có quyền bảo lãnh các doanh