TRƯỜNG ĐHKT HÀ NỘI BÁO CÁO THỰC TẬP CÔNG NHÂN
KHOA XÂY DỰNG
Lời cảm ơn
Trong đợt thực tập này chúng em tìm hiểu được rất nhiều điều về ngành nghề
mà chúng em đang theo học. Qua quá trình quan sát và nhất là được sự chỉ bảo nhiệt
tình của các anh kỹ sư, các anh chị em công nhân đang thi tại công trường “Công
trình văn phòng Quốc hội” thuộc công ty đầu tư và xây dựng số 4 - Tổng công ty xây
dựng Hà Nội. Đặc biệt là sự chỉ bảo tận tình của các cán bộ phụ trách:
Giáo viên hướng dẫn : Th.s Nguyễn Trường Huy
Chỉ huy công trường :
Chúng em đã thấy rõ được nhiệm vụ, cách làm việc của người kỹ sư phụ trách
kĩ thuật, thi công. Đồng thời chúng em cũng nắm được nhiệm vụ và các thao tác cơ
bản của người công nhân, người thợ khi tham gia thi công một công việc cụ thể được
giao.Vì công trình đang trong giai đoạn thi công nên chúng em không được quan sát
nhiều khâu thi công trước đó và do kiến thức còn hạn chế, chưa có kinh nghiệm cũng
như thời gian thực tập có hạn nên bản báo cáo của em khó tránh đựơc sơ sài và thiếu
xót vì vậy em mong được sự chỉ bảo và truyền đạt của các thầy và các anh kỹ sư.…
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Nguyễn Trường Huy, các anh kỹ sư, các
anh chị công nhân đang thi công tại công trường “Công trình văn phòng Quốc Hội”
đã giúp đỡ em hoàn thành đợt thực tập này.
Hà Nội, ngày 15 thámg 01 năm 2011
Sinh viên:
Lê Quang Toàn
SVTH: LÊ QUANG TOÀN 1
LỚP: 2008XN
TRƯỜNG ĐHKT HÀ NỘI BÁO CÁO THỰC TẬP CÔNG NHÂN
KHOA XÂY DỰNG
Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BẢN NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP
LỚP: 2008XN
TRƯỜNG ĐHKT HÀ NỘI BÁO CÁO THỰC TẬP CÔNG NHÂN
KHOA XÂY DỰNG
NỘI DUNG
BÁO CÁO THỰC TẬP
Sau 1 tháng thực tập công nhân(27/12/2010 đến22/01/2011) tại công trường em
được làm quen với 4 nghề cơ bản: nghề nề, nghề thép, nghề mộc và nghề bê tông.
Ngoài ra chúng em còn học thêm một số nghề phục vụ cho nghành xây dựng như lát,
ốp… Qua đợt thực tập này chúng em được làm quen và học hỏi các công việc trong
thực tế tại công trường so với vấn đề mà lý thuyết nêu lên trong giáo trình học tại
trường .
Sau đây là 4 nghề cụ thể mà em đã được học và được làm.
a. Nghề Nề
1) Các loại vữa:
-Vữa tam hợp: Bao gồm xi măng,cát, vôi được trộn theo 1 tỷ lệ nhất định dùng
làm vữa xây hoặc vữa trát cho nhà cấp 4( cường độ chịu lực kém, không chịu được
nước và độ ẩm thường dùng để xây tạm thời).
- Vữa xi măng cát: xi măng, cát và nước được trộn theo 1 tỷ lệ thích hợp tuỳ theo là
vữa trát hay là vữa xây(có độ dẻo cao nhưng có độ ẩm kém dùng để xây nơI khô ráo).
Tỷ lệ pha trộn: vữa được phân ra các loại mác sau: 50,75,100,150 và 200.
Sự khác nhau giữa vữa xây và vữa trát là:vữa xây có modun của cát lớn hơn vữa trát.
vữa trát yêu cầu cát có dộ mịn hơn vữa xây.
2)Phương pháp xây gạch.
a) Phương pháp gạt vữa: dùng dao xây gạt bằng mạch vữa của các viên gạch vùa xây,
đồng thời xúc vữa dải lên chỗ định xây. Dùng dao xây gạt bằng lớp vữa và dồn ép vữa
lên mép viên gạch vừa xây xong làm thành mạch đứng . Dùng 1 tay khác lấy gạch đặt
lên chỗ vừa san vữa cho sát với thân dao, ấn gạch và rút dao lên, rồi lấy cán dao gõ
nhẹ vào mặt gạch để gạch dính chặt với vữa.
SVTH: LÊ QUANG TOÀN 4
LỚP: 2008XN
SVTH: LÊ QUANG TOÀN 5
LỚP: 2008XN
TRƯỜNG ĐHKT HÀ NỘI BÁO CÁO THỰC TẬP CÔNG NHÂN
KHOA XÂY DỰNG
trên đầu cột ta căng hai dây thép nhỏ đi qua các cột và các điểm ta vừa đánh dấu trên
cột.
+Căng dây ngang: để căng chỉ ngang của hàng gạch tiếp theo, người công nhân
phảI đặt hai viên gạch ở hai đầu bức tường sau đó căng dây dựa vào hai viên gạch
này.Khi tới phần để cửa sổ và lanh tô của cửa sổ thì người thợ phảI kiểm tra lại để
đảm bảo độ ngang bằng của khối xây,để sau này công tác lắp cửa được thuận tiện hơn.
Tường giữa các cửa và cột phảI bắt đầu và kết thúc bằng hàng gạch xây mỏ
Kết cấu của ngôI nhà chịu lực lớn nhất là cột và tường giữa hai cửa chiều dày ít hơn
2,5 viên gạch, vì vậy phải xây chúng bằng gạch nguyên chọn lựa. Đối với tường 110
thì chỉ đứng cần căng hai dây,chỉ ngang cần căng 1 dây và nằm ở phía ngoài.Đối với
tường 220 thì cần dùng 4 chỉ đứng và 2 chỉ ngang và căng cả hai bên chỉ tường.ở
những bức tương có bắt góc thì phải căng tất cả các chi đứng cần thiết để việc bẻ góc
được chính xác.
- Chuyển gạch và xếp gạch: trước khi xây gạch phải được tưới no nước vì nếu gạch
khô thì khi xây gạch sẽ hút nước của vữa làm vữa chóng khô.
- Rải vữa: dùng dao xây hoặc bay đảo qua vữa sau đó dải lên mặt gạch, các mép ngoài
của viên gạch, dải thành một lớp đủ dể xây một viên gạch. Các lớp vữa phải được dải
đều ở các hàng gạch.
- Đặt gạch: Các viên gạch của hàng ngoài cùng được xây trước sau đó đến viên gạch ở
phía trong. Sau khi dải vữa vào viên gạch cần xây người thợ cầm viên gạch ép vào lớp
vữa đã trải cách chỗ viên gạch 5
÷
6cm.
Đầu tiên người thợ cầm nghiêng viên gạch rồi vừa điều chỉnh vừa đặt sát vào viên
gạch đã xây trước, thao tác này có tác dụng tạo nên mạch vữa đồng thời vữa được
chảy vào các phần rỗng của viên gạch.Sau đó ép viên gạch xuống lúc này vữa sẽ chảy
trọng lượng riêng tối thiểu là 2400kg/m3
-Đá đẽo:có tất cả phẩm chất của đá hộc và được gia công để cho mặt ngoài nhẵn và
vuông vắn.
- Đá đồ ( đá kiểu)
4) Hoàn thiện khối xây:
SVTH: LÊ QUANG TOÀN 7
LỚP: 2008XN
TRƯỜNG ĐHKT HÀ NỘI BÁO CÁO THỰC TẬP CÔNG NHÂN
KHOA XÂY DỰNG
Trát tường: kiểm tra độ phẳng của tường từ trần đến sàn và đánh các trong mối liên
quan vói các bức tường, trụ và trần.Trước khi trát tường phải tưới nước. Tại vị trí có
cửa sổ hay cửa đi chưa có khuôn phải chú ý độ thẳng và phẳng.Để kiểm tra công tác
trát được tốt và hoàn thiện, ta phải đặc biệt chú ý đến độ dính kết giữa lớp trát và mặt
kết cấu. Cường độ dính kết giữa các lớp, cũng như dính kết giữa toàn bộ lớp trát với
mặt trát được kiểm tra bằng cách gõ búa vào lớp trát đó, chỗ nào có tiếng kêu đục
chứng tỏ dính kết kém, phải đập bỏ lớp trát đó và trát lại.
* Sơn vôi: - Mặt trát phải phẳng và khô
- Cạo mài hoặc đánh giấy giáp.
- Nếu tường không bả thì lăn sơn 2 hoặc 3 lớp.
- Nếu tường có bả thi đợi bề mặt khô thì lăn sơn 2 hoặc 3 lớp.
- Sơn vôi bề ngoài nhà để tạo đường phân vị màu theo phương thẳng đứng
hay phương ngang dùng băng dính để dán,sau khi màu nền đã hoàn chỉnh thì lăn màu
và lột băng dính đi.
- Để tránh hiện tượng ngưng tụ nước và phá hoại mặt sơn, không cho
phép sự thay đổi nhiều về nhiệt độ, nhiệt độ của sơn không được thấp hơn 15
o
C.
B. Nghề Mộc
1) Một số dụng cụ thông thường của nghề mộc:
- Cưa: - cưa tay
lại với nhau thành một hộp không đáy thành từng bậc. Các hộp thường đặt chồng lên
nhau với hai thanh gánh ở hai bên, gác lên thành ván khuôn bậc dới, rồi dùng văng ,
thanh chống, cộc gỗ và gông để cố định, khuôn trong luôn cao hơn mặt bê tông
khoảng 5 đến 10 cm:
+ Phương pháp lắp đặt:
- Căng dây kéo trục tim của cột. Ghép ván khuôn thành hộp theo kích thước từng
bậc thang.
- Xác định trung điểm của các cạnh của ván khung, qua hai điểm đó đóng hai th-
ớc vuông góc với nhau.
- Lắp đặt ván khuôn, thả dây dọi theo dây căng xắc định điểm sao cho cạch thớc
đi qua trung điểm đó trùng với đường dóng của dây dọi.
SVTH: LÊ QUANG TOÀN 9
LỚP: 2008XN
TRƯỜNG ĐHKT HÀ NỘI BÁO CÁO THỰC TẬP CÔNG NHÂN
KHOA XÂY DỰNG
b. Ván khuôn móng băng:
- Ván khuôn móng băng thường có chiều dài 1m các nẹp chúng dùng gỗ 4x6 cm
và cách nhau 0,4 đến 0,6 m dóng theo chiều dày của ván thành và chiều cao của móng.
- Chiều rộng lòng khuôn đợc cố định bằng gông trên mặt và dói thanh ngang tạm
trong lòng khuôn.ở phía ngoài dùng thanh chống và cột dóng xuống đất.
* Cốp pha cột :
- Gồm hai phần:
+ Chủ yếu là phần khuôn để tạo cột có hình dáng và kích thước cột theo thiết kế.
+ Phần gông giữ khuôn ổn định và chắc.(Gông có thể làm bằng thép hoặc bằng gỗ,
khoảng cách giữa các gông từ 0,4 đến 0,6 m)
+ Chân ván khuôn chứa một cửa nhỏ để làm vệ sinh trước khi đổ bê tông, kích thớc
cửa khoảng 30x40 cm,có nắp đậy đợc gia công.
+ Phương pháp lắp đặt ván khuôn cột:
1. Móng bêtông
2. Vạch tim
- Kiểm tra tim dầm và điều chỉnh đáy dầm cho đúng cao độ.
* Cốp pha sàn:
- Ván khuôn sàn gồm những tấm có kích thớc rộng 1500 – 1600 mm, dài 2600 –
2900mm,
dày 20 -25mm đặt trực tiếp lên dầm đỡ.
- Để dễ tháo ván khuôn sàn , chu vi sàn phải có ván dầm , ván dầm liên kết vào
thanh, ván khuôn dầm và ván đỡ khuôn sàn.
* Ván khuôn cầu thang:
Phương pháp lắp:
-Trớc tiên ta đặt ván đáy và hệ thống chống đỡ.
- Lắp đặt cốt thép rồi ghép ván thành cầu thang.
- Cố định ván khuôn bằng thanh gông , thanh chống xiên, thanh văng tạm.
* Ván khuôn làm ô văng:
Phương pháp lắp:
SVTH: LÊ QUANG TOÀN 11
LỚP: 2008XN
TRƯỜNG ĐHKT HÀ NỘI BÁO CÁO THỰC TẬP CÔNG NHÂN
KHOA XÂY DỰNG
- Gác ván đáy lên các xà ngang, những cây chống thẳng hoặc cây chống kiểu công
so để vào tường.
- Lắp ván thành
- Kiểm tra điều chỉnh cao độ.
Cố định ván khuôn bằng những nẹp , bộ giữ, thanh chống xiên, thanh nâng, chống
những thanh đảm bảo hệ thống chống đỡ ổn định.
- Các cây chống phải đứng đúng vị trí.
4)Yêu cầu kỹ thuật với cốp pha:
- Ván dùng làm ván khuôn phải tốt, không bị cong vênh, sâu mọt, mục nát…thường
dùng bằng cây bạch đàn.
- Đảm bảo vững chắc không bị biến hình khi sức nặng của khối bê tông hoặc
bê tông cốt thép mới đổ và tải trọng khác trong quá trình thi công.
cong vênh, nứt nẻ,…, phải để nơi khô ráo có mái che và đặt cách đất 10cm , đệm kê ở
hai đầu.
- Xếp theo thứ tự , phân loại để còn tiện sử dụng
6) Cách tháo cốp pha:
a.Thời gian tháo dỡ ván khuôn :
- Việc tháo dỡ tiến hành sau khi bê tông đạt độ cứng cần thiết.
- Với ván khuôn thẳng đứng không chịu đợc lực dỡ khi cường độ bê tông đảm
bảo cho góc, cạch bề mặt không bị sứt mẻ.
- Với bê tông khối lớn, để tránh sảy ra nứt,phải căn cứ vào nhiệt độ cho phép
trong và ngoài bê tông.
- Với ván khuôn chịu tải trọng của khối bê tông thì thời hạn tháo dỡ ván khuôn
phải căn cứ vào kết quảthí nghiệm.
-Làm ngược lại với quá trình lắp cốp pha
Tháo nêm hoặc kích để hạ ván sàn,sau đó rút xà gồ ngang,rut xà gồ dọc với trình tự
từ trongửa ngoài.
b.Yêu cầu kỹ thuật khi tháo dỡ ván khuôn:
- Khi tháo dỡ ván khuôn phải có biện pháp tránh va chạm hoặc gây chấn động
mạnh, làm h hỏng mặt ngoài , sứt mẻ cạnh góc.
SVTH: LÊ QUANG TOÀN 13
LỚP: 2008XN
TRƯỜNG ĐHKT HÀ NỘI BÁO CÁO THỰC TẬP CÔNG NHÂN
KHOA XÂY DỰNG
- Tháo dỡ các trụ của ván khuôn ở tấm sàn của công trình nhiều tàng phải tuân
theo những quy luật sau:
+ Không cho phép tháo dỡ trụ xuống của ván khuôn sàn nằm dới của tấm sàn sắp đổ
bê tông.
+ Trụ chống của ván khuôn ở tấm sàn nằm dới có thể tháo dỡ hoàn toàn khi bê tông
đạt cờng độ thiết kế.
+ Muốn tháo dỡ trụ sớm hơn thì phải thí nghiệm cường độ bê tông tại thời điểm tháo
dỡ và tính toán tải trọng thực tế, nếu đảm bảo kỹ thuật thì tháo dỡ được.
-Thép trơn dùng xe cơ giới hoặc máy nắn thép để nắn thẳng thép
-Thép gai dùng vam tay hoặc máy để uốn.
3) Cách buộc thép móng thép cột,thép dầm ,sàn.
-Thép cột:Sau khi gia công thép theo bản vẽ thép được đưa ra công trường.
Dựng thép dọc cho đai vào buộc . khoảng cách đai được định sẵn trong bản vẽ khi
buộc cần đưa thép vào góc đai
SVTH: LÊ QUANG TOÀN 15
LỚP: 2008XN
TRƯỜNG ĐHKT HÀ NỘI BÁO CÁO THỰC TẬP CÔNG NHÂN
KHOA XÂY DỰNG
-Thép dầm:2 đầu được đặt trên 2 cột và được bắt mỏ với cột.đặt các thanh thép ngang
rồi luồn đai,chỉnh đai cho đúng kích thước rồi lấy thép buộc cố định .
Cách buộc:dùng dây thép có đường kính 1 mm dài khoảng 8_10 cm gập đôi luồn bắt
chéo qua chỗ thép cần buộc rồi dùng móc xoắn thép theo chiều thuận của tay .
4) Cách nối thép:-khoảng cách mối nối là:30_35mm d( d là đường kính thép) và được
buộc ít nhất 3 nút đai,có thể nối bằng phương pháp hàn,chiều dài mối
hàn >= 10 d
-Yêu cầu mối nối: 2 thanh thép nối phải thẳng,sát vào nhau,không cong vênh , được
buộc ít nhất 3 nút đai.
* Các phương pháp hàn:
- Hàn tiếp điểm:Điện hạ áp qua máy biến thế từ 380V xuống 3V-9V,hai thanh thép
được nối với nhau tại điểm hàn, được kẹp giữa hai cực của máy hàn, khi phóng điện
hai thanh thép được nung đỏ, dùng một lực ép hai cực hàn làm hai thanh thép liền lại
và tiếp xúc nhau.
- Hàn đối đầu: Chỉ áp dụng với thep 12,dùng dòng điện hạ thế từ 1,2V đến 9V
SVTH: LÊ QUANG TOÀN 16
LỚP: 2008XN
TRƯỜNG ĐHKT HÀ NỘI BÁO CÁO THỰC TẬP CÔNG NHÂN
KHOA XÂY DỰNG
-Ximăng thường dùng là ximăng Pooc-lăng, ximăng hỗn hợp và một số loại ximăng
khác.
-Khi đánh giá ximăng ta dựa vào các chỉ tiêu sau:
+Trọng lượng thể tích
+Tỷ trọng và độ mịn
+Tính hút nước và nhả nước
+Tính toả nhiệt
+Tính chống ăn mòn
+Tính ổn định thể tích
+Cường độ ximăng
+Quá trình đông cứng ximăng
Khi sử dụng cần chú ý đến nhãn, mác và hạn sử dụng ghi trên bao bì.
* Cốt liệu:
a. Cốt liệu nhỏ: Cốt liệu nhỏ dùng cho bêtông thườnglà cát, cát có đường kính ≤ 5mm,
là hỗn hợp thiên nhiên của các nham thạch rắn và chắc hay cát nhân tạo được nghiền
từ loại nham thạch rắn và chắc.
Những yêu cầu đối với cát:
+ Không lẫn những hạt sỏi, đá dăm có kích thước lớn
+ Không lẫn nhiều hạt bụi, bùn và đất sét, hàm lượng tạp chất này không được vượt
quá 3% trọng lượng
+ Hàm lượng mika không được vượt quá 1% trọng lượng
+ Bãi chứa cát phải khô ráo, đổ đống theo từng nhóm, theo mức độ sạch để sử dụng,
cát ngoài trời phải che đậy.
b. Cốt liệu lớn:
SVTH: LÊ QUANG TOÀN 18
LỚP: 2008XN
TRƯỜNG ĐHKT HÀ NỘI BÁO CÁO THỰC TẬP CÔNG NHÂN
KHOA XÂY DỰNG
Cốt liệu lớn thường dùng là sỏi và đá dăm, trong trường hợp đặc biệt có thể dùng
sỏi lẫn cát có trong thiên nhiên để làm bêtông.
TRƯỜNG ĐHKT HÀ NỘI BÁO CÁO THỰC TẬP CÔNG NHÂN
KHOA XÂY DỰNG
a. Những yêu cầu đối với trộn bêtông:
-Thành phần của bêtông phải đảm bảo
-Trộn đều đồng nhất về thành phần
-Thời gian trộn và vận chuyển phải rút ngắn
-Vữa bêtông phải có độ sụt nhất định
b. Cân đo vật liệu:
Để đảm bảo lượng pha trộn của các thành phần thì vật liệu cần cân đo chính xác
- Ximăng, cát, đá dăm, sỏi và các chất phụ gia tính theo trọng lượng
- Nước tính theo thể tích
c. Trộn bêtông:
* Trộn bằng tay:Tiến hành trên sàn trộn bằng tôn hay gỗ ghép có diện tích 5-7
m
2
- Dụng cụ: Xẻng, cuốc, thùng chứa nước …
- Cách trộn:
+ Trộn cát với xi măng: (trộn khô )
+ Trộn hỗn hợp cát, ximăng với sỏi và một phần nước nhất định .
+ Cuối cùng tưới toàn bộ nước lên hỗn hợp. Miệng thùng tưới nước nhỏ <30% ,vừa
tưới vùa trộn .
+ Thời gian trộn <10 phút.
+ Trộn bê tông bằng tay thường có cuờng độ bê tông không cao chỉ dùng cho quy mô
nhỏ .
* Trộn bằng máy: Máy trộn thường có hai loại :
Loại có thùng đổ nghiêng được , dung tích 300,400,1200.
- Chu trình làm việc của máy bao gồm :
+ Đổ cốt và xi măng vào cối :
+ Quay cối để trộn đều, sau đó cho nước vào
+ Quay nghiêng cối để trút bêtông ra .
LỚP: 2008XN
TRƯỜNG ĐHKT HÀ NỘI BÁO CÁO THỰC TẬP CÔNG NHÂN
KHOA XÂY DỰNG
100-150m
3
/ca. Băng tải có thêt di chuyển đi xa 2km
- Vận chuyển bằng máy bơm bêtông với đường kính ống là 150, 280 hoặc 283mm
e) Đổ bê tông :
* Chỉ dẫn chung :Trước khi đổ bêtông cần kiểm tra hình dáng, kích thước, vị trí và độ
hở các khe rãnh của bàn khuôn, cốt thép dàn giáo, sân công trình.Đối với ván khuôn
bằng gỗ phải dọn sạch, kiểm tra kích thước, hình dạng, vị trí của cốt thép cốt thép cũ
phải đánh sạch
Không được đặt các vật liệu lên cốt thép, muốn đi lại trong khu vực đổ bêtông thì
phải bắc cầu
Tránh đổ bêtông va chạm vào ván khuôn và cốt thép. Nếu đổ bê tông lên lớp
bêtông cũ thì phải cạo sạch bề mặt tiếp xúc
* Các phương pháp đổ bêtông móng:
- Đổ thủ công:
- Đổ bằng máy bơm bêtông:
* Chiều cao của bêtông :
SVTH: LÊ QUANG TOÀN 22
LỚP: 2008XN
TRƯỜNG ĐHKT HÀ NỘI BÁO CÁO THỰC TẬP CÔNG NHÂN
KHOA XÂY DỰNG
- Bắt đầu từ độ sâu trước nhất đổ thành từng lớp , tránh đổ cốt liệu rơi vãi vữa xi
măng phân tầng . khi đổ phải giữ cho phương quả dọi thẳng đứng và giảm chiều cao
rơi tự do
- Thông thường chiều cao quả dọi rơi tự do trong hỗn hợp không quá 1.5-2cm, ống
vòi không quá 5 cm . Khi dùng máng dẫn phía dưới cần có đoạn ống dẫn để tránh cho
bêtông bị phân tầng
các ô đổ để đổ bêtông vào để tránh hiện tượng phân tầng.
4) Đầm bê tông:
Có thể tiến hành bằng tay hoặc máy
- Đầm bằng tay: Đầm gang nặng 8-10 kg , xà beng nhọn đầu, thép tròn trơn, búa
nhỏ, đầm sắt.Đầm gang và sắt được dùng để đầm sân, đường. Que sắt, xà beng dùng
trọc cho vữa bê tông đi xuống sâu vào trong kết cấu, búa dùng gõ lên mắt cốt pha, khi
đầm cần phải đầm kỹ,xong chỗ này đầm chỗ khác,tránh để sót.
+Trước khi đầm phải san bằng lớp bê tông vữa
+Khi đầm khối bêtông nhỏ, độ sụt vữa trên 7 cm phải dùng que sắt chọc đều.
+Phương pháp này chỉ dùng cho công trình nhỏ
- Đầm bêtông bằng máy: Máy đầm làm việc theo nguyên lí chấn động
SVTH: LÊ QUANG TOÀN 24
LỚP: 2008XN
TRƯỜNG ĐHKT HÀ NỘI BÁO CÁO THỰC TẬP CÔNG NHÂN
KHOA XÂY DỰNG
- Ưu điểm:
+ Sử dụng được loại vữa bêtông khô, do đó lượng ximăng tiết kiệm được 10-15%.
+ Giảm lượng ximăng và độ co ngót của bêtông, cường độ và tính chống thấm tăng.
Yêu cầu đầm bêtông:chất lượng bêtông phụ thộc nhiều vào công tác đầm bêtông.Khi
đổ bêtông từng lớp nằm ngang, phải theo dõi xem chiều dày của lớp đổ có phù hợp với
yêu cầu cần thiết không và xem bêtông có được đầm kĩ trước khi đổ lớp sau không.
Khi đầm dùi, phải đầm tong lớp bêtông, chiều day của lớp đó không được lớn 1,25
chiều dày của đầm dùi.Khi đầm mặt đối với kết cấu không có cốt thép (dầm ở trên các
mặt sàn)hoặc chỉ có một hàng cốt thép chiều dày của lớp đó không được lớn hơn
250mm, đối với kết cấu 2 hàng cốt thép không được lớn hơn 120mm.
Khi đầm không được tỳ máy lên cốt thép của các kết cấu toàn khối.
Thời gian đầm tại mỗi vị trí phải đảm bảo bêtông được đầm chặt đầy đủ,khi bê tông
không lún nữa, trên mặt bêtông xuất hiện vũă ximăng và bột khí không thoát ra
nữa,tuỳ thộc vào độ chảy hỗn hợp của bêtông nhưng thời gian đầm tại mỗi vị trí nằm
trong khoảng 20