1
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Tên công trình:
CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
BÁN LẺ Ở VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Hữu Tân
Lớp: CQ48/11.07
GV hướng dẫn:Th.S Phạm Thị Thanh Hoà
Hà Nội, tháng 3 năm 2012
2 MỤC LỤC
1.3.2. Một số kinh nghiệm của Hoa Kỳ 25
1.3.3. Một số kinh nghiệm của Trung Quốc 26
1.3.4.Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 30
Chương 2: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM. 33
2.1. Thực trạng thị trường bán lẻ Việt Nam. 33
2.1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ 33
2.1.2. Mạng lưới phân phối 36
2.1.3. Sự phát triển về số lượng doanh nghiệp bán lẻ ở Việt Nam. 37
2.1.3.1. Hệ thống chợ truyền thống. 38
2.1.3.2. Hệ thống các cửa hàng bán lẻ truyền thống, kinh doanh nhỏ lẻ. 39
2.1.3.3. Hệ thống các chuỗi cửa hàng bán lẻ 39
2.1.3.4. Hệ thống siêu thị, các trung tâm thương mại. 39
2.1.4. Sự dịch chuyển cơ cấu thị phần trên thị trường bán lẻ .40
2.1.4.1. Cán cân bán lẻ dịch chuyển dần về phía các kênh bán lẻ hiện đại. 41
2.1.4.2. Doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài đang dần chiếm ưu thế. 43
2.1.4.3. Các cơ chế, chính sách của Chính phủ. 44
2.1.4.4. Những đánh giá của các tổ chức quốc tế. 45
2.1.5. Thương mại điện tử 46
2.1.6. Giá cả hàng hoá 47
2.2. Một số đánh giá về thực trạng phát triển thị trường bán lẻ Việt Nam . 48
2.2.1 Đánh giá về thành công 48
2.2.1.1. Thành công 48
2.2.1.2. Nguyên nhân của thành công 49
2.2.2. Đánh giá về hạn chế 53
4 2.2.2.1. Hạn chế 53
2.2.2.2. Nguyên nhân của hạn chế 54
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ Ở
3.5.2.4. Mở rộng thị trường về khu vực nông thôn 82
Kết luận 84
Tài liệu tham khảo 85
6 Danh mục từ viết tắt
B2B: Business to business – Hình thức thương mại điện tử mà khách hàng
là công ty.
B2C: Business to customer – Hình thức thương mại điện tử mà khách
hàng là cá nhân.
ĐB: Đồng bằng
FDI: Foreign direct investment - Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
GDP: Gross domestic product - Tổng sản phẩm quốc nội.
SRA: Hiệp hội bán lẻ Singapore.
TNS: Công ty nghiên cứu thị trường Taylor Nielsen.
VDA: Công ty cổ phần đầu tư và phát triển hệ thống phân phối Việt Nam.
WTO: World trade organization - Tổ chức thương mại thế giới.
7 Danh mục biểu đồ, bảng biểu
1 Biểu đồ 2.1 Tổng mức bán lẻ giai đoạn 2007-2011.
2. Biểu đồ 2.2. Mạng lưới bán lẻ Việt Nam.
3. Bảng 2.1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá, dịch vụ tính theo các vùng trên cả
nước.
4. Bảng 2.2. Tổng hợp số liệu về mạng lưới các chợ trên cả nước đến
31/12/2010.
5. Bảng 2.3. Tổng hợp số liệu về siêu thị và trung tâm thương mại trên cả
quản lý…
Từ thực tiễn này, việc nghiên cứu sự phát triển của thị trường bán lẻ Việt
Nam và kinh nghiệm phát triển thị trường của các nước trên thế giới để đưa ra
được những chiến lược phát triển phù hợp là việc rất cần thiết. Bởi vậy, tác giả
đã chọn đề tài nghiên cứu:
“Các giải pháp phát triển thị trường bán lẻ ở Việt Nam.”
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
9 Làm rõ một số vấn đề về bán lẻ, nghiên cứu những nội dung cơ bản của
bán lẻ, thị trường bán lẻ và kinh nghiệm phát triển thị trường bán lẻ của một số
nước trên thế giới.
Phân tích và đánh giá những thực trạng phát triển của thị trường bán lẻ ở
Việt Nam thời gian qua.
Đề xuất giải pháp phát triển thị trường bán lẻ ở Việt Nam trong điều kiện
hiện nay.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề lý luận và thực tế phát triển thị
trường bán lẻ Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.
4. Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: tập trung nghiên cứu một số loại hình tổ chức bán lẻ
truyền thống và hiện đại ở Việt Nam.
Về thời gian: đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển thị trường
bán lẻ ở Việt Nam từ năm 2007 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phân tích, thống kê, so sánh, tổng hợp
dựa trên các tài liệu, sách báo có liên quan.
6. Nội dung nghiên cứu:
Ngoài phần mở bài, kết luận kết cấu của bài nghiên cứu gồm 3 chương:
những yếu tố: đặc tính của chủng loại hàng hoá và dịch vụ mà cửa hàng ấy phục
vụ, chính sách giá mà cửa hàng ấy theo đuổi, chính sách của cửa hàng đối với
hoạt động quảng cáo và khuyến mãi, chính sách cảu cửa hàng về mặt thiết kế,
trưng bày, vị trí ưa chuộng, quy mô của cửa hàng.
11 Hàng hoá trên thị trường bán lẻ cũng rất đa dạng, nhiều chủng loại nhưng
có thể phân chia theo 3 nhóm hàng hoá sau đây:
- Sản phẩm thực phẩm
- Hàng hoá sử dụng lâu dài: thiết bị gia dụng, điện tử, đồ gỗ, hàng thể
thao… Đây là những mặt hàng không nhanh chóng hao mòn và cung cấp tiện ích
theo thời gian.
- Hàng hàng tiêu dùng: quần áo, may mặc,… Đây là các loại hàng hoá có
một khoảng thời gian sử dụng giới hạn.
1.1.2. Các loại hình bán lẻ:
Các loại hình bán lẻ vô cùng phong phú và đa dạng. Dựa trên các tiêu chí
khác nhau người ta có thể phân loại ra nhiều loại hình bán lẻ khác nhau. Ví dụ
phân loại theo quy mô thì các loại hình bán lẻ có các cơ sở bán lẻ lớn, vừa và
nhỏ. Hay phân loại theo các chủ thể tham gia bán lẻ thì các loại hình bán lẻ gồm
có doanh nghiệp bán lẻ, hợp tác xã bán lẻ, cá thể hộ gia đình Tuy nhiên, phổ
biến nhất thì người ta thường phân loại thị trường bán lẻ theo tiêu thức cách thức
bán hàng và hàng hoá kinh doanh.
Theo đó, trong thị trường bán lẻ các loại hình bán lẻ gồm có bán lẻ tại cửa
hàng, bán lẻ không qua cửa hàng và bán lẻ dịch vụ:
1.1.2.1. Bán lẻ tại cửa hàng.
Đây là loại hình bán lẻ phổ biến nhất hiện nay. Theo loại bán lẻ này, các tổ
chức hay cá nhân bán lẻ có một địa điểm kinh doanh cố định. Tại đây, người ta
tổ chức trưng bày hàng hoá và người tiêu dùng tới đây để mua và thanh toán trực
tiếp. Các địa điểm bán hàng này tuỳ theo quy mô, tính chất của từng loại cửa
13 - Cửa hàng đại lý: Các cửa hàng này được người sản xuất hoặc người phân
phối trung gian cho việc tiêu thụ hàng hoá trên cơ sở hợp đồng đại lý. Hoạt động
của các cửa hàng này thường độc lập và hưởng một khoản hoa hồng nhất định.
- Cửa hàng nhượng quyền thương mại: Đây là một hình thức mới mẻ, nó
bắt đầu xuất hiện tại Mỹ từ đầu thế kỷ 20 và ngày càng phát triển mạnh mẽ. Cửa
hàng này thường được kí hợp đồng để được nhượng quyền kinh doanh một loại
hàng hoá dịch vụ nhất định từ nhà sản xuất. Các cửa hàng nhượng quyền là các
cửa hàng có vốn sẵn và địa điểm kinh doanh. Các cửa hàng này kinh doanh dựa
vào thương hiệu của một hãng đã nổi tiếng trên thị trường. Ngoài ra, các cửa
hàng này cũng nhận được sự tư vấn, cung cấp bí quyết về marketing, tổ chức
quản lý, đào tạo nguồn nhân lực từ đơn vị trao quyền kinh doanh. Để đổi được
điều đó, thì ngoài số tiền đóng lúc đầu ,các cửa hàng còn phải đóng thêm một
khoản phí nhất định.
- Cửa hàng chuyên doanh: Đây là hình cửa hàng kinh doanh chuyên sâu.
Nó chỉ cung cấp một hay một nhóm hàng hoá nhất định hay chỉ phục vụ một
nhóm người tiêu dùng nhất định. Ví dụ:cửa hàng chuyên doanh có thể là cửa
hàng chỉ bán một loại hàng hoá như quần áo, giày dép hay một nhóm sản phẩm
như hàng tươi sống, hàng đông lạnh; cửa hàng chuyên bán hàng cho trẻ em,
người già
- Cửa hàng giảm giá, hạ giá: Cửa hàng này bán các loại hàng hoá với giá
thấp hơn với giá bán lẻ theo yêu cầu của người sản xuất hoặc tính chất của sản
phẩm.
- Cửa hàng kho: Cửa hàng này mang tính chất như một kho hàng. Các cửa
hàng này thường không trưng bày hàng hoá, không quảng cáo tận dụng được
diện tích và chi phí.
14
trên khắp các vùng trên cả nước. Do vậy, hoạt động bán lẻ cũng có vai trò góp
phần vào việc giảm khoảng cách giàu nghèo giữa các khu vực.
Cơ cấu thương mại có những biến đổi sâu sắc khi mà hoạt động bán lẻ
phát triển. Khi đó thị trường ngày càng lành mạnh, cạnh tranh hiệu quả hơn.
Sự phát triển của hoạt động bán lẻ cũng tăng cường khả năng tự điều tiết ít
chịu ảnh hưởng của Nhà nước của thị trường hơn. Khi hoạt động bán lẻ phát
triển tức là hàng hoá phong phú và với nhiều nhà phân phối cộng với các quy
định cạnh tranh lành mạnh thì chắc chắn người tiêu dùng sẽ nhận được những
hàng hoá tốt nhất với giá cả hợp lý nhất.
Trong nền sản xuất hàng hoá kinh tế thị trường có xuất hiện mâu thuẫn cơ
bản giữa một nền sản xuất hàng hoá lớn và nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng.
Sở dĩ có mâu thuẫn đó là do vô số người tiêu dùng khác nhau lại có những nhu
cầu, sở thích khác nhau. Khi xã hội càng phát triển thì sự đa dạng của những nhu
cầu này ngày càng tăng. Trong khi đó các doanh nghiệp phải tăng quy mô sản
xuất để tối đa hoá lợi nhuận. Và hoạt động bán lẻ có vai trò giải quyết được mâu
thuẫn cơ bản đó.
1.1.4. Chức năng của hoạt động bán lẻ:
Hoạt động bán lẻ có rất nhiều chức năng. Nhưng các chức năng chính của
bán lẻ là mua, bán, vận chuyển, lưu kho, phân loại, tài chính, chịu rủi ro và thông
tin thị trường.
- Chức năng cơ bản nhất của hoạt động bán lẻ là chức năng mua và bán:
Chức năng mua tức là tìm kiếm, đánh giá, so sánh giá trị các loại hàng hoá dịch
vụ. Chức năng bán là tiêu thụ, phân phối các loại sản phẩm này. Lợi nhuận của
các nhà bán lẻ chính là nhờ vào sự chênh lệch giữa giá hàng hoá bán ra và mua
vào. Do đó để tối đa hoá lợi nhuận các nhà bán lẻ cố gắng mua hàng với giá rẻ và
bán ra với số lượng lớn và giá cao.
16 - Chức năng cung cấp tài chính: Chức năng này thể hiện ở việc các nhà
- Chức năng chia sẻ rủi ro: Mức độ chia sẻ rủi ro tuỳ thuộc vào mối quan
hệ giữa nhà bán lẻ và nhà sản xuất. Nếu như nhà sản xuất tự phân phối hàng hoá
của mình thì sự chia sẻ rủi ro bằng không. Nếu như nhà bán lẻ mua đứt hàng hoá
của nhà sản xuất thì sau đó họ sẽ tự chịu trách nhiệm về bảo hành, vận chuyển
hàng hoá cho khách hàng. Khi đó rủi ro đối với nhà sản xuất đã được chuyển tới
nhà bán lẻ tại thời điểm bán xong sản phẩm đó. Trong trường hợp các nhà sản
xuất gửi bán sản phẩm, hay nhà bán lẻ là đại lý hoa hồng, tiêu thụ cho nhà sản
xuất thì rủi ro được chia sẻ đối với cả người sản xuất và bán lẻ đến khi bán, bảo
hành xong sản phẩm.
- Một số chức năng khác: Các nhà bán lẻ như các siêu thị hiện đại còn
thực hiện chức năng chế biến nhất đối với hàng thực phẩm. Ngoài ra, các nhà
bán lẻ còn thực hiện các công việc khác như đóng gói, gắn nhãn mác
Tóm lại, hoạt động bán lẻ có vai trò, chức năng vô cùng quan trọng. Nó
được coi là một mắt xích không thể thiếu của quá trình tái sản xuất mở rộng đảm
bảo cho quá trình này thông suốt từ đó đem lại hiệu quả kinh tế xã hội.
1.2.Tổng quan về thị trường bán lẻ:
1.2.1.Định nghĩa về thị trường bán lẻ:
Thị trường bán lẻ là thị trường ở đó diễn ra hoạt động bán lẻ. Những người
bán lẻ và người tiêu dùng là hai tác nhân chính của thị trường. Những người bán
lẻ (cá nhân, tổ chức) và người tiêu dùng tiến hành hoạt động mua bán hàng hóa
trong một khuôn khổ khung pháp lý nhất định.
Các nhà cung cấp hàng hoá trên thị trường bán lẻ là người bán lẻ. Người
bán lẻ là các cá nhân hay tổ chức làm công việc bán lẻ thông qua các hình thức
đa dạng như bán hàng trực tiếp, bán qua điện thoại, bán hàng qua internet…
18 1.2.2.Cấu trúc kênh phân phối của thị trường bán lẻ:
Người
sản
xuất
Người
tiêu
dùng
Môi giới
Cửa hàng chuyển nhượng
Cửa hàng bán và giới thiệu
sản phẩm
Cửa hàng bán lẻ độc lập
Các loại hình khác: cửa hàng
đại lý, cửa hàng của hợp tác
xã bán lẻ
19 Do sự đa dạng của khâu trung gian mà hàng hóa có thể đến tay của người
tiêu dùng theo nhiều con đường khác nhau:
- Người sản xuất trực tiếp đưa hàng hóa cửa mình tới tay người tiêu dùng
mà không qua một khâu trung gian nào. Hàng hóa được bán tại các cửa hàng bán
và giới thiệu sản phẩm cửa mình hoặc qua điện thoại, qua mạng, qua đơn đặt
hàng…
tăng được uy tín của hàng hoá. Ngoài ra, người sản xuất cũng dễ dàng điều chỉnh
hoạt động bán hàng của mình.
+ Nhược điểm: Rõ ràng trong trường hợp này lợi nhuận đã bị phân chia
một phần cho nhà bán lẻ. Người sản xuất cũng khó điều phối hàng hoá của mình
do các địa điểm bán hàng thuộc sở hữu nhiều người bán lẻ khác nhau.
+ Ứng dụng: Các người sản xuất có quy mô nhỏ nên thường kiêm cả hoạt
động bán buôn thì áp dụng trường hợp này. Các người bán lẻ cần phải đáp ứng
được yêu cầu là phải có vốn lớn và mạng lưới rộng rãi.
Trường hợp hàng hoá theo con đường trung bình là qua người bán buôn
đến người bán lẻ rồi đến người tiêu dùng:
+Ưu điểm: Để mở rộng được thị trường của mình thì người sản xuất cần
phải có vốn lớn, quan hệ rộng rãi, có bí quyết trong sản xuất, phân phối, bảo
quản hàng hoá. Không phải người sản xuất nào cũng có thể đáp ứng được yêu
cầu đó. Khi đó, để mở rộng thị trường thì những người sản xuất này sẽ nhờ đến
vai trò của người bán buôn.
Người sản
xuất
Người tiêu
dùng
Người
bán lẻ
Người
bán buôn
Người sản
xuất
Người tiêu
dùng
vừa am hiểu nhu cầu của thị trường để điều chỉnh sản xuất vừa tiêu thụ sản phẩm
Người sản
xuất
Người tiêu
dùng
Người
bán lẻ
Người
môi giới
Người
bán buôn
22 được tốt hơn. Khi lựa chọn các con đường phân phối hàng hoá của mình thì
người sản xuất cần căn cứ vào:
+ Nhu cầu của thị trường: Nhu cầu của thị trường được xem xét trên các
góc độ sau: số lượng của hàng hoá thị trường cần nhiều hay ít; quy mô, những
khu vực có nhu cầu đối với sản phẩm hàng hoá; chu kỳ sống của sản phẩm.
+ Điều kiện của người sản xuất: Điều kiện ở đây là thực tế về vốn, về
mạng lưới phân phối của người sản xuất. Điều kiện cũng có thể hiểu đó là người
sản xuất muốn tung ra sản phẩm mới hay là mở rộng thị trường.
+ Chiến lược phân phối hàng hoá của người sản xuất.
1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển thị
trường bán lẻ.
1.2.3.1. Các chính sách của Nhà nước.
Đây là yếu tố có tác động quyết định tới sự hình thành và phương thức
hoạt động của thị trường bán lẻ. Các phương thức hoạt động của thị trường bán
lẻ như: phân phối kế hoạch hoá; tự do buôn bán hay hoạt động theo cơ chế thị
trường có quản lý Các chính sách của Nhà nước thông qua các văn bản pháp
bán lẻ sẽ phát triển thuận lợi hơn nơi có mật độ dân cư thưa. Nơi người dân giàu
có, mức chi tiêu lớn thị trường bán lẻ sẽ phát triển hơn nơi dân cư nghèo đói,
mức chi tiêu ít.
1.2.3.4. Cơ sở hạ tầng.
Các yếu tố về cơ sở hạ tầng có liên quan sản xuất kinh doanh trong hoạt
động kinh doanh của các doanh nghiệp, tập thể, cá nhân tham gia thị trường bán
lẻ. Sự phát triển của cơ sở hạ tầng góp phần to lớn vào sự phát triển của thị
trường bán lẻ. Cơ sở hạ tầng của nền kinh tế liên quan tới sự phát triển của thị
trường bán lẻ bao gồm một số yếu tố sau:
24 - Trình độ hiện đại của hệ thống giao thông đường xá, bến bãi, thông tin
liên lạc
- Chi phí vận chuyển bảo quản hàng hoá.
- Chi phí xây mới thuê, mua mặt bằng kinh doanh.
1.2.3.5. Yếu tố khoa học kỹ thuật.
Các yếu tố khoa học kỹ thuật quyết định và chi phối việc ứng dụng Khoa
học và Kĩ thuật trên thị trường; quyết định sự ra đời của sản phẩm mới, hình
thành phương thức kinh doanh mới, ảnh hưởng tới nhu cầu tiêu dùng của người
dân. Một số yếu tố Khoa học và Kĩ thuật tác động đến thị trường bán lẻ:
- Trình độ trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế.
- Mức độ đầu tư khoa học công nghệ và tốc độ triển khai của ứng dụng
mới trên nền kinh tế.
- Chiến lược phát triển khoa học kỹ thuật của quốc gia.
1.3. Kinh nghiệm phát triển thị trường bán lẻ ở một số nước và bài
học áp dụng cho Việt Nam.
Rõ ràng, thị trường bán lẻ Việt Nam đang chịu một sức ép rất lớn từ thực
tiễn phát triển đất nước và các đối thủ cạnh tranh. Nghiên cứu kinh nghiệm phát
triển thị trường bán lẻ của các nước trên thế giới và rút ra những bài học bổ ích
công không chỉ trong thị trường xuất khẩu mà ở ngay chính thị trường tiêu dùng
nội địa khó tính của mình.
Song song với đo, trong xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh liên quan
tới thị trường bán lẻ, năm 1971 luật Thị trường bán buôn được ban hành để thay
thế luật Thị trường bán buôn tập trung năm 1923. Theo luật này hàng hoá được
bán theo phương thức đấu giá công khai. Năm 1974 luật Cửa hàng bán lẻ có quy
mô lớn được ban hành thay thế cho luật Cửa hàng Bách hoá năm 1954. Luật này