MỤC LỤC
1
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh hiện nay, với sự hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, bên cạnh
những cơ hội để phát triển, nền kinh tế Việt Nam nói chung và thị trường tài chính nói
riêng phải đối mặt với nhiều rủi ro ngày càng gia tăng. Trong khi đó, ở Việt Nam,
chúng ta vẫn chưa chủ động trong việc quản lý rủi ro. Thị trường chứng khoán Việt
Nam là một ví dụ điển hình. Trong thời gian qua, với sự phát triển nhanh chóng, thị
trường chứng khoán góp phần không nhỏ trong việc huy động vốn cho sự phát triển
của nền kinh tế, trở thành một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế Việt Nam. Tuy
nhiên sự phát triển nhanh của thị trường chứng khoán đã bộc lộ những rủi ro tiềm ẩn
cho công chúng đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nhỏ lẻ (chiếm hơn 70%). Khi thị trường
chứng khoán trong giai đoạn suy thoái, những nhà đầu tư này không thể trụ vững trên
thị trường dẫn đến sự bán ồ ạt để bảo toàn vốn và sớm rút khỏi thị trường, làm cho thị
trường ngày càng trở nên trầm trọng hơn, dễ dẫn đến khủng hoảng, sụp đổ.
Trong cuộc khủng hoảng tài chính, một hạn chế dễ nhận thấy rằng: ở Việt Nam
không chỉ các nhà đầu tư chứng khoán mà các nhà đầu tư khác (vàng, ngoại tệ) thiếu
sự chủ động trong quản lý rủi ro hoạt động kinh doanh của mình. Các công cụ tài
chính phái sinh ra đời để giúp các nhà đầu tư bảo toàn vốn trong tình hình biến động
bất lợi cho việc đầu tư. Một công cụ hạn chế rủi ro hữu hiệu được áp dụng ở hầu hết
các nước phát triển là hợp đồng quyền chọn. Mặc dù có vai trò to lớn, thiết thực, được
đông đảo giới đầu tư thế giới quan tâm, hợp đồng quyền chọn còn khá mới mẻ, chưa
thực sự phổ biến với công chúng Việt Nam. Việc nghiên cứu nhằm tăng cường sử
dụng hợp đồng quyền chọn và phát triển thị trường quyền chọn là một vấn đề cần thiết
hiện nay, tạo cơ sở cho thị trường tài chính phái sinh ở Việt Nam phát triển. Do đó, em
đã quyết định lựa chọn đề tài: “Kiến nghị giải pháp phát triển thị trường quyền
chọn ở Việt Nam”
2
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
NHNN: Ngân hàng Nhà nước
NHTM: Ngân hàng thương mại
với một mức giá đã định trước trong một thời gian đã định. Trong giao dịch này có hai
phía: người mua quyền chọn mua (hay là người nắm giữ quyền chọn) và người bán
quyền chọn mua.
- Hợp đồng quyền chọn bán (put option): là một loại hợp đồng, trong đó người
nắm giữ quyền chọn có quyền nhưng không bị bắt buộc bán một loại tài sản nào đó
với một mức giá đã định trước trong một thời gian đã định. Trong giao dịch này có hai
phía: người mua quyền chọn bán (hay là người nắm giữ quyền chọn) và người bán
quyền chọn bán.
Theo thời điểm thực hiện quyền chọn
Hợp đồng quyền chọn được chia thành: Hợp đồng quyền chọn kiểu Châu Âu và
hợp đồng quyền chọn kiểu Mỹ.
4
- Hợp đồng quyền chọn kiểu Châu Âu (European Style Option): là quyền chọn
chỉ cho phép người nắm giữ hợp đồng thực hiện quyền mua hoặc bán của mình vào
ngày đáo hạn của hợp đồng (expiration date)
- Hợp đồng quyền chọn kiểu Mỹ (American Style Option): là quyền chọn cho
phép người nắm giữ thực hiện quyền mua hoặc bán vào bất cứ thời điểm nào trong
thời gian hiệu lực của hợp đồng, kể từ ngày ký kết hợp đồng đến ngày đáo hạn của hợp
đồng.
Theo thị trường giao dịch
Hợp đồng quyền chọn được chia thành: Hợp đồng quyền chọn giao dịch trên thị
trường tập trung và Hợp đồng quyền chọn giao dịch trên thị trường phi tập trung.
- Hợp đồng quyền chọn giao dịch trên thị trường tập trung: là quyền chọn được
tiêu chuẩn hóa về quy mô, số lượng, giá thực hiện và ngày đáo hạn, được giao dịch
trên các thị trường tập trung. Các hợp đồng quyền chọn này có tính thanh khoản cao,
được chuyển nhượng dễ dàng giữa các nhà đầu tư.
- Hợp đồng quyền chọn giao dịch trên thị trường phi tập trung (OTC): là thỏa
thuận mua bán giữa hai bên, trong đó giá quyền chọn được người bán đưa ra tùy thuộc
Hợp đồng quyền chọn chỉ quy định quyền giao hay nhận mà không bắt buộc
các bên phải thực hiện nghĩa vụ của mình.
Tùy theo từng loại mà hợp đồng quyền chọn có thể thực hiện tại bất cứ thời
điểm nào trước ngày đáo hạn hoặc đến ngày đáo hạn.
1.1.3. Vai trò và những rủi ro của hợp đồng quyền chọn trong giao dịch
a. Vai trò của hợp đồng quyền chọn
Là một trong bốn công cụ tài chính phái sinh cơ bản, hợp đồng quyền chọn có
những vai trò quan trọng:
Hợp đồng quyền chọn là công cụ để quản trị rủi ro
Giá của hợp đồng quyền chọn có quan hệ với giá của tài sản cơ sở trên thị
trường giao ngay. Do đó, hợp đồng quyền chọn có thể được sử dụng để làm giảm hay
tăng rủi ro của việc sở hữu tài sản giao ngay. Mặt khác, các nhà đầu tư khác nhau có
yêu cầu về mức lợi tức là khác nhau nên mức độ rủi ro mà họ chấp nhận cũng là khác
nhau. Hợp đồng quyền chọn cho phép những người ngại rủi ro cao chuyển giao rủi ro
cho những người sẵn sàng chấp nhận nó, đó là các nhà đầu cơ.Vì vậy, hợp đồng quyền
chọn nói riêng và thị trường quyền chọn nói chung rất hiệu quả trong việc phân phối
lại rủi ro giữa các nhà đầu tư.
Hợp đồng quyền chọn cung cấp những thông tin về độ bất ổn của tài sản cơ sở
giao ngay.
Các thị trường kỳ hạn và giao sau là nguồn thông tin quan trọng đối với giá cả.
Đặc biệt, thị trường giao sau được xem là công cụ chủ yếu để xác định giá giao ngay
của tài sản. Có rất nhiều mức giá có thể xảy ra của tài sản, tuy nhiên, giá của hợp đồng
giao sau đáo hạn sớm nhất thường được xem là giá giao ngay. Giá của hợp đồng giao
sau và kỳ hạn cũng chứa những thông tin về giá giao ngay mong đợi trong tương lai.
Mặc dù hợp đồng quyền chọn không cung cấp những dự báo về giá giao ngay trong
tương lai một cách trực tiếp. Nhưng chúng cung cấp những thông tin quý giá về độ bất
ổn cũng là rủi ro của tài sản cơ sở giao ngay.
Hợp đồng quyền chọn là một công cụ kinh doanh:
Hiện nay, khi giá cả tài sản cơ sở biến động từng ngày, từng giờ, thì với chức
Rủi ro thị trường: Rủi ro mà giá trị thị trường hay dòng tiền tương lai của hợp
đồng quyền chọn bị dao động do những thay đổi về giá thị trường, gồm các loại: rủi ro
lãi suất, rủi ro tỷ giá…
Rủi ro thanh khoản: Rủi ro do gặp phải khó khăn trong việc hoàn thành các
nghĩa vụ đi kèm với trách nhiệm tài chính khi mua, bán hợp đồng quyền chọn.
Rủi ro hoạt động: Rủi ro thiệt hại xuất phát từ quy trình hoạt động nội bộ, con
người và hệ thống không hoạt động hoặc không đầy đủ hoặc từ các sự kiện bên ngoài
liên quan đến hoạt động mua, bán hợp đồng quyền chọn.
Rủi ro tập trung: tập trung rủi ro gia tăng từ các hợp đồng quyền chọn có tính
chất tương tự và chịu ảnh hưởng tương tự do những thay đổi trong điều kiện kinh tế và
các điều kiện khác.
1.2. LÝ THUYẾT VỀ THỊ TRƯỜNG QUYỀN CHỌN
1.2.1. Khái niệm thị trường quyền chọn
Quyền chọn tuy là một khái niệm kinh tế tài chính, nhưng chúng ta vẫn gặp phổ
biến trong đời sống hàng ngày, dưới các hình thức thể hiện khác nhau. Một khoản tiền
đặt cọc mua nhà cửa, hàng hóa; các khoản chi phí mà công ty bỏ ra cho hoạt động
nghiên cứu phát triển sản phẩm mới; các khoản khuyến mãi, tiếp thị…đều là những
dạng thể hiện bên ngoài của quyền chọn.
Với những đặc tính ưu việt riêng, quyền chọn dần trở thành công cụ được sử
dụng thường xuyên bởi các nhà đầu tư kinh doanh, theo xu thế phát triển của nền kinh
tế tiên tiến và sự phổ biến của các sản phẩm tài chính phái sinh, về sau này, quyền
8
chọn chính thức được xem như một loại hàng hóa và được nâng tầm giao dịch trên thị
trường có tổ chức: thị trường quyền chọn. Như vậy, thị trường quyền chọn là nơi các
giao dịch quyền chọn được thực hiện một cách có tổ chức.
1.2.2. Các chủ thể tham gia trên thị trường quyền chọn
Thị trường quyền chọn cũng như thị trường các công cụ phái sinh có sự tham
gia của rất nhiều chủ thể khác nhau, bao gồm các doanh nghiệp, các cá nhân, các tổ
chức tài chính như ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán, công ty tài chính, quỹ
đầu tư…
a. Quyền chọn tiền tệ
Trong thời gian qua ở Việt Nam, quyền chọn tiền tệ là công cụ phái sinh được
thị trường đón nhận nhiều nhất do những ưu điểm vốn có của nó. Các giao dịch quyền
chọn tiền tệ bao gồm quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ và ngoại tệ với VND. Các giao
dịch này hầu hết được NHNN thí điểm ở một số NHTM, sau đó mới triển khai áp dụng
rộng rãi.
Về quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ, ngày 12/02/2003, theo công văn số
135/NHNN-QLNH của NHNN, Ngân hàng Xuất Nhập khẩu (Eximbank) là NHTM
đầu tiên được thực hiện thí điểm nghiệp vụ này. Trong đó, công văn cũng quy định cụ
thể nhằm triển khai thực hiện giao dịch quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ ở các NHTM
như đối tượng tham gia, đồng tiền giao dịch, thời hạn giao dịch, giới hạn số dư…Cụ
thể, các NHTM muốn thực hiện quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ đều phải là các
NHTM được phép kinh doanh ngoại hối, có vốn tự có tối thiểu 200 tỷ USD, kinh
doanh ngoại tệ có lãi trong 5 năm gần nhất và doanh số mua bán ngoại tệ của năm
trước phải đạt tối thiểu là 1 tỷ USD, trình bản dự bảo quy trình thực hiện nghiệp vụ
quyền chọn cho thống đốc NHNN để được chấp thuận.
Sau một thời gian thí điểm thực hiện, Eximbank đã đạt được một số kết quả
bước đầu: từ 2003-2005, trên 50 hợp đồng quyền chọn được ký kết giữa Eximbank và
các doanh nghiệp, trong đó quyền chọn mua ngoại tệ chiếm hơn 65%. Sau đó, tháng
4/2005, NHNN tiếp tục cho phép thí điểm nghiệp vụ quyền chọn này tại nhiều NHTM
khác trong đó có cả những ngân hàng trong nước: BIDV, ACB, Vietcombank và ngân
hàng nước ngoài: Citibank, HSBC chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh. Đến
10/11/2004, thống đốc NHNN đã ký quyết định số 1452/2004/QĐ-NHNN về giao dịch
hối đoái của các tổ chức tín dụng. Theo đó, chính thức cho phép tất cả các TCTD được
phép thực hiện giao dịch hối đoái đều được quyền thực hiện giao dịch quyền chọn
ngoại tệ với ngoại tệ mà không cần xin phép NHNN. Đồng thời, quy định kỳ hạn của
giao dịch quyền chọn giữa các ngoại tệ với nhau do tổ chức tín dụng và khách hàng tự
thỏa thuận. Đây là một quyết định mang tính chuyển biến lớn giúp cho thị trường
quyền chọn nước ta ngày càng đa dạng, các nhà đầu tư có thêm một sân chơi mới trên
thị trường tiền tệ.
hợp đồng quyền chọn kiểu Mỹ (chiếm hơn 98%) vì có tính linh hoạt trong phương
thức thanh toán. Các đồng tiền giao dịch vẫn là các ngoại tệ được sử dụng nhiều trong
giao dịch, mang tính chuyển đổi cao như USD, EUR, GBP, AUD, JPY.
b. Quyền chọn vàng
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank), Ngân
hàng Sài Gòn thương tín (Sacombank), Ngân hàng Á Châu (ACB) là ba ngân hàng đầu
tiên được NHNN cho phép thực hiện quyền chọn đối với vàng vào tháng 12/2004.
11
Bước đầu, NHNN chỉ mới cho phép thực hiện các giao dịch có quy mô tối thiểu từ 100
lượng vàng trở lên, thời hạn hợp đồng từ 2 tuần đến 12 tuần (3 tháng). Được tung ra
trong bối cảnh giá vàng trong nước và quốc tế liên tục tăng, hợp đồng quyền chọn
vàng được coi là tín hiệu đáng mừng giúp các nhà đầu tư hạn chế rủi ro trong biến
động giá vàng trên thế giới và ở Việt Nam.
Hiện nay, vàng vẫn luôn được các nhà đầu tư xem là tài sản đầu cơ kiếm lời và
bảo tồn vốn. Ở thị trường trong nước, giá vàng biến động theo giá vàng thế giới với
diễn biến phức tạp, khó dự đoán. Nếu cuối năm 2005, giá vàng ở mức 892.000
đồng/chỉ được xem là kỷ lục thì giai đoạn cuối năm 2011, giá vàng liên tục vượt mức
4.500.000 đồng /chỉ (tương ứng với giá vàng thế giới là trên 1760 USD/ounce). Đồng
thời luôn có sự chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới từ 150.000 –
2.000.000 đồng/lượng. Do đó, rủi ro trong việc kinh doanh vàng trở thành vấn đề đáng
lo ngại đối với các nhà đầu tư. Mặc dù các NHTM đã cung cấp các hợp đồng quyền
chọn vàng để hạn chế rủi ro nhưng dường như chưa được sự quan tâm của đông đảo
công chúng.
Ở Sacombank, trước 2004, doanh số giao dịch vàng tại Sacombank cao nhất lên
đến 200.000 lượng/ngày thì đến cuối 2005, chỉ đạt 100-200 lượng/ngày trong đó số
hợp đồng quyền chọn rất hạn chế bởi người dân muốn thực hiện hợp đồng này phải đạt
giao dịch tối thiểu 800 lượng vàng với mức phí quyền chọn rất cao. Điều này xuất phát
từ nguyên nhân Sacombank phải mua đối ứng lại với ngân hàng nước ngoài với điều
kiện của ngân hàng nước ngoài phải có từ 800 lượng vàng trở lên, mức phí được tính
theo giá vàng thế giới, ở một số thời điểm lên đến 2,5%/doanh số, gần 30%/năm cho
ta có quyền hy vọng rằng trong thời gian tới, hợp đồng quyền chọn trên thị trường
chứng khoán sẽ phát triển.
d. Quyền chọn lãi suất
Ngày 8/7/2004, BIDV là ngân hàng đầu tiên được NHNN cho phép thực hiện
giao dịch quyền chọn lãi suất. Theo đó, các giao dịch quyền chọn lãi suất được phép
thực hiện đối với những khoản vay và đi vay trung hạn (5 năm) bằng USD hoặc bằng
EUR và chỉ được thực hiện đối với các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam, các
NHTM hoạt động ở Việt Nam được NHNN cho phép và các ngân hàng ở nước ngoài.
Sau BIDV thì hàng loạt các NHTM khác cũng được phép thực hiện nghiệp vụ này.
Đặc biệt ngày 13/8/2007, NHNN có công văn số 8854/NHNN-CSTT cho phép ngân
hàng Tokyo-Mitsubishi UFJ được phép cung cấp sản phẩm quyền chọn lãi suất ngoại
tệ.
Tuy nhiên, hiện nay, kiến thức hiểu biết của các doanh nghiệp về quyền chọn
lãi suất và phòng chống rủi ro lãi suất vẫn còn quá thấp. Phần lớn nguồn vốn tài trợ
cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp là nguồn vay nợ từ bên ngoài, đặc biệt
là tín dụng ngân hàng. Đối với các doanh nghiệp có các hợp đồng tín dụng trung, dài
hạn có giá trị lớn và lãi suất cố định cũng như các doanh nghiệp tham gia hoạt động
xuất nhập khẩu thường xuyên phải đối mặt với nguy cơ rủi ro thị trường rất lớn như
rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái. Nhưng do việc nhận thức còn hạn chế, rất ít doanh
nghiệp sẵn lòng tham gia vào các nghiệp vụ này dẫn đến khó khăn cho các NHTM
trong việc phát triển các quyền chọn lãi suất.
13
2.1.2. Đánh giá việc thực hiện hợp đồng quyền chọn ở Việt Nam
a. Những kết quả đạt được trong thực hiện hợp đồng quyền chọn ở Việt Nam
Thứ nhất, phát triển quyền chọn VND thể hiện sự tích cực trong điều hành
chính sách tiền tệ của Việt Nam
Hiện nay, việc NHNN cho phép triển khai quyền chọn giữa đồng ngoại tệ, điển
hình là USD và VND là một bước đột phát mới trong việc cung ứng thêm các công cụ
phòng ngừa rủi ro trên thị trường tiền tệ ở nước ta và cho chính bản thân đồng nội tệ.
Mặc dù, thời gian qua, sự biến động tỷ giá giữa USD và VND tương đối ổn định, hợp
quan trọng là một công cụ quản lý rủi ro hiệu quả.
b. Những khó khăn trong triển khai thực hiện hợp đồng quyền chọn ở Việt
Nam
Trải qua hơn 10 năm thực hiện giao dịch hợp đồng quyền chọn, mặc dù mới thí
điểm thực hiện song đã tồn tại nhiều khó khăn, xuất phát từ nhiều phía.
Thứ nhất, khung pháp lý về hợp đồng quyền chọn ở Việt Nam chưa hoàn thiện
và phần lớn giao dịch quyền chọn là quyền chọn ngoại tệ.
Việt Nam hiện nay chưa có khung pháp lý hoàn chỉnh về kinh doanh hợp đồng
quyền chọn . Hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành cũng chưa có văn bản quy phạm
pháp luật độc lập điều chỉnh về cách thức tổ chức và hoạt động của thị trường giao
dịch hợp đồng quyền chọn và hoạt động cung cấp dịch vụ quyền chọn của các TCTD,
ngoại trừ hai quy chế về kinh doanh hối đoái và kinh doanh vàng của các TCTD do
NHNN ban hành. Ngoài ra, hiện nay, phần lớn giao dịch trong hợp đồng quyền chọn là
quyền chọn ngoại tệ được thực hiện giữa NHTM và các doanh nghiệp có nhu cầu
phòng ngừa rủi ro.
Thứ hai, phần lớn các doanh nghiệp chưa nhận thức được vai trò quan trọng
của quản lý rủi ro và thiếu hiểu biết đối với hợp đồng quyền chọn.
Hạn chế này của các doanh nghiệp khiến cho việc cung cấp dịch vụ của NHTM
gặp nhiều khó khăn, họ phải rất vất vả trong việc giải thích cho doanh nghiệp hiểu, tin
tưởng và chấp nhận đặt bút ký hợp đồng. Theo báo cáo về “Giải pháp phát triển thị
trường phái sinh ở Việt Nam” (2008), có đến 80% doanh nghiệp được khảo sát chưa
hoặc ít tham gia giao dịch các hợp đồng quyền chọn ngoại tệ và vàng. Trong đó, có
21% doanh nghiệp chưa biết, 58% doanh nghiệp ít sử dụng, 21% doanh nghiệp thường
xuyên sử dụng. Khó khăn này xuất phát từ nguyên nhân nguồn nhân lực, đặc biệt là
đội ngũ cán bộ của các doanh nghiệp Việt Nam có trình độ hiểu biết về quản lý rủi ro
và hợp đồng quyền chọn còn rất ít. Nhiều khi nhận thấy được rủi ro phá sản do những
rủi ro tỷ giá hay lãi suất nhưng doanh nghiệp không thể tìm ra đội ngũ nhà quản trị hay
nhân viên có khả năng thực hiện những chương trình quản trị rủi ro bài bản, có chăng
cũng chỉ là những người được đào tạo cơ bản nhưng chưa có kinh nghiệm thực tiễn
trong lĩnh vực này.
hàng nước ngoài. Trong điều kiện mở cửa hội nhập sâu rộng và sự cạnh tranh lớn, các
NHTM trong nước rất cần phải nỗ lực đa dạng hóa các loại hình sản phẩm dịch vụ,
hơn nữa, các công cụ tài chính phái sinh nói chung và hợp đồng quyền chọn nói riêng
là thị trường rất mới mẻ và tiềm năng tại Việt Nam.
Ngoài ra, hiện nay, đối với các NHTM, việc trang bị hệ thống kết nối thông tin
đến khách hàng khá phức tạp, các phần mềm định giá quyền chọn, phân tích thị trường
đều có giá rất cao mà không phải ngân hàng nào cũng dám đầu tư trong hoàn cảnh thị
trường quyền chọn chưa thực sự phát triển. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ tới chất
lượng của các hợp đồng quyền chọn và khả năng cạnh tranh giữa chính các ngân hàng
với nhau.
16
2.2. KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG QUYỀN
CHỌN VIỆT NAM
2.2.1. Kiến nghị với Nhà nước và các cơ quan ban ngành
a. Hoàn thiện khung pháp lý để xây dựng và phát triển thị trường quyền
chọn
Điều kiện đầu tiên để xây dựng và phát triển thị trường quyền chọn là tạo cơ sở
pháp lý cho thị trường. Trong nền kinh tế có sự kết hợp của “bàn tay vô hình” và “bàn
tay hữu hình” thì khung pháp lý chính là công cụ để Nhà nước điều hành thị trường.
Trong tình hình thực tế hiện nay, NHNN và các cơ quan chức năng cần thực hiện một
số giải pháp để hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường quyền chọn
Thứ nhất, về hình thức văn bản. Trong thời gian tới, NHNN sẽ nghiên cứu, soạn
thảo và ban hành Quy chế kinh doanh các công cụ tài chính phái sinh trong đó có hợp
đồng quyền chọn, làm cơ sở pháp lý cho hoạt động cấp phép, giám sát rủi ro và kiểm
tra, thanh tra của NHNN đối với hoạt động kinh doanh hợp đồng quyền chọn của các
NHTM. Về nguyên tắc và theo kinh nghiệm ở các nước trên thế giới, các NHTM có
thể tham gia thực hiện hợp đồng quyền chọn theo các tư cách: (i) Người cung cấp dịch
vụ ngân hàng liên quan đến hợp đồng quyền chọn hoặc cung cấp dịch vụ môi giới, tư
vấn cho khách hàng mua, bán hợp đồng quyền chọn; (ii) Nhà đầu tư mua, bán các hợp
đồng quyền chọn. Căn cứ vào tính chất của hợp đồng quyền chọn, mức độ rủi ro và tư
trường tài chính Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế, mới phát triển sơ khai, mang
tính tự phát, thiếu sự quản lý. Để đảm bảo sự phát triển của thị trường quyền chọn,
Nhà nước và các cơ quan ban ngành chức năng tiếp tục ban hành các quy chế, thông
tư, văn bản…hướng dẫn chi tiết hơn về công bố thông tin ra thị trường tài chính nói
chung và thị trường quyền chọn cũng như các chế tài phù hợp với hành vi vi phạm về
công bố thông tin.
2.2.2. Kiến nghị với các tổ chức tín dụng (Ngân hàng thương mại, công ty
chứng khoán)
a. Chủ động giới thiệu, quảng bá thông tin về hợp đồng quyền chọn đến
đông đảo khách hàng
Các tổ chức tín dụng cần có những chiến lược marketing hiệu quả để đưa hợp
đồng quyền chọn đến với đông đảo công chúng đầu tư, chú ý tới đào tạo nguồn nhân
lực có kiến thức về kinh doanh, tiếp thị và giới thiệu sản phẩm. Ngoài ra, các tổ chức
này cần thành lập bộ phận chuyên phân tích, tư vấn, hỗ trợ khách hàng tìm kiếm thông
tin, cách thức sử dụng hợp đồng quyền chọn cho hai mục tiêu là kinh doanh và hạn chế
rủi ro. Có thể tổ chức các buổi giao lưu tư vấn cũng như để khách hàng thực hành
tham gia vào giao dịch các hợp đồng quyền chọn. Từ đó, phân tích để khách hàng
nhận thức rõ thế mạnh của sản phẩm quyền chọn mà mình cung cấp.
Các tổ chức tài chính tín dụng cũng cần phối hợp với các Bộ, ban ngành về
quảng bá, giới thiệu hợp đồng quyền chọn tới khách hàng, chú trọng tới quảng cáo trên
các website của các NHTM, công ty chứng khoán…
18
b. Không ngừng cải tiến chất lượng, đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ hợp
đồng quyền chọn tới khách hàng
Trước hết, các tổ chức tín dụng cần nhanh chóng chuẩn hóa các phòng ban kinh
doanh liên quan đến quyền chọn. Tức là xây dựng mô hình tổ chức đối với bộ phận
kinh doanh hợp đồng quyền chọn. Chú trọng tăng thẩm quyền trực tiếp kinh doanh và
thẩm quyền quyết định đối với các cán bộ kinh doanh quyền chọn.
Bên cạnh hoạt động môi giới chủ yếu, các tổ chức cũng cần đào tạo đội ngũ
nhân lực có chuyên môn nghiệp vụ cao để có thể nghiên cứu các chiến lược kinh
Thực tế cho thấy do thiếu các công cụ quản lý rủi ro hiệu quả, thị trường tài chính Việt
Nam gặp rất nhiều khó khăn trong các tình huống biến động bất lợi. Vì vậy, phát triển
các công cụ tài chính phái sinh trong đó có hợp đồng quyền chọn là nhu cầu cấp thiết
hiện nay đối với thị trường tài chính Việt Nam. Những hành động tích cực từ phía các
cơ quan ban ngành, các tổ chức tài chính tín dụng nhằm đưa các sản phẩm quyền chọn
đến đông đảo khách hàng cũng như sự nâng cao hiểu biết, quan tâm của công chúng
đầu tư là những giải pháp tích cực nhằm giúp cho thị trường quyền chọn phát triển,
góp phần cho sự phát triển chung của cả nền kinh tế Việt Nam.
20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Thị Ngọc Trang – chủ biên (2006), Quản trị rủi ro tài chính, Nhà xuất bản
Thống kê, Tp. HCM
2. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Vụ chiến lược phát triển ngân hàng (2007), Kỷ yếu
hội thảo khoa học, Giải pháp phát triển Thị trường phái sinh Việt Nam
3. Đại học Kinh tế Quốc dân, Khoa Ngân hàng Tài chính (2010), Kỷ yếu Hội thảo
khoa học, Thị trường chứng khoán Việt Nam 10 năm nhìn lại và xu hướng phát triển
đến năm 2020
4. Các trang web:
- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam:
- Bộ Tài chính:
- Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam:
- Ngân hàng TMCP Á Châu:
- Trung tâm giao dịch vàng Việt Nam:
- Thời báo kinh tế Việt Nam:
21