Thuế tài nguyên và giải pháp nâng cao thu thuế tài nguyên ở việt nam - Pdf 94

GVHD:PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng Thuế tài nguyên (TTN) & Giải pháp nâng cao thu TNN VN
LỜI MỞ ĐẦU
Tài nguyên là tài sản quan trọng của quốc gia và hầu hết là tài nguyên không tái tạo được cần
được quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế bền vững trong mối quan hệ hài hoà
với giải quyết vấn đề xã hội và môi trường trước mắt cũng như lâu dài. Tài nguyên không là vô
hạn, sử dụng tài nguyên phải đóng thuế - đó là nguyên tắc .
Đánh thuế tài nguyên thiên nhiên, cũng như các loại đánh thuế khác, là một biện pháp can thiệp
kinh tế của chính phủ nhằm tăng doanh thu cho Nhà nước và cải thiện công bằng xã hội. Đó là
một biện pháp đặc biệt có nhiều ý nghĩa trong điều kiện kinh tế hiện nay của nước ta _ một quốc
gia có một nền kinh tế đang phát triển gặp nhiều thách thức nhưng cũng có nhiều cơ hội. Trên cơ
sở nghiên cứu các bài nghiên cứu, phân tích về thuế tài nguyên thiên nhiên cũng như Luật thuế
tài nguyên số 45/2009/QH12 ngày 25/11/2009, đề tài “Thuế tài nguyên và những giải pháp nâng
cao việc thu thuế tài nguyên Việt Nam” sẽ trình bày các khái quát về luật thuế tài nguyên, đặc
biệt là phân tích khái nhiệm tô kinh tế trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên và trên cơ sở đó phân
tích lợi thế của đánh thuế tài nguyên thiên nhiên để đáp ứng những mục đích nói trên, cũng như
phân tích hoạt động của hệ thống thuế hiện nay chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn hợp lý riêng
cho các ngành công nghiệp sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Trên cơ sở đó, nội dung bài báo đề
xuất những hàm ý cần thiết để cải thiện hệ thống thuế đánh vào tô kinh tế trong việc sử dụng tài
nguyên thiên nhiên nhằm bảo đảm hiệu quả phân bổ tài nguyên thiên nhiên và cải thiện các mục
tiêu công bằng xã hội.
Hà Thị Thanh Xuân – Lớp TCDN Đêm 1 Khóa 20 1
GVHD:PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng Thuế tài nguyên (TTN) & Giải pháp nâng cao thu TNN VN
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ TÀI NGUYÊN:
1.1. Lý thuyết về thuế tài nguyên:
1.1.1. Mô hình kinh tế tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên là một nhân tố sản xuất cơ bản bên cạnh các nhân tố sản xuất cơ bản
khác như vốn, lao động, và tiến bộ khoa học kỹ thuật. Một trong những đặc tính của nhiều nguồn
tài nguyên thiên nhiên là khối lượng cung cấp hầu như là cố định. Do vậy, khi cầu của thị trường
tăng lên, cân bằng thị trường sẽ tạo ra một thặng dư kinh tế ròng mà các nhà kinh tế thường gọi
là tô kinh tế (economic rent) như được mô tả bởi hình vẽ sau đây:

khoản này thường không khấu trừ đầy đủ cho tất cả các chi phí, đặc biệt là chi phí vốn. Một số
hệ thống đánh thuế doanh thu mà không khấu trừ bất kỳ chi phí nào; các hệ thống khác lại cho
phép các chi phí hiện hành được khấu trừ. Hậu quả là, các loại thuế đó không khuyến khích hoạt
động đầu tư vào các ngành công nghiệp tài nguyên, khuyến khích khai thác các bộ phận tài
nguyên có lợi nhuận cao với cái giá phải trả là các bộ phận tài nguyên có lợi nhuận thấp và khó
đặt ra các tỷ suất thuế cao vì sợ làm cho tỷ suất thuế cận biên lớn hơn một trăm phần trăm.
1.1.3. Các phương pháp thu hồi tô kinh tế:
Hà Thị Thanh Xuân – Lớp TCDN Đêm 1 Khóa 20 3
GVHD:PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng Thuế tài nguyên (TTN) & Giải pháp nâng cao thu TNN VN
Tồn tại ba cách ‘lý tưởng’ để chính phủ thu hồi một phần của tô kinh tế cho khu vực công
cộng. Các thứ nhất là đánh một khoản thuế vào tô kinh tế. Thuế tô kinh tế lý tưởng là loại thuế
đánh vào các luồng tiền thực của các công ty tài nguyên. Đối với các công ty tài nguyên không-
hồi sinh, cơ sở tính thuế sẽ bao gồm tất cả các doanh thu trên cơ sở tiền mặt trừ đi tất cả chi phí
hiện thời và chi phí vốn bao gồm chi phí chiếm hữu các thuộc tính tài nguyên, chi tiêu khai thác,
chi tiêu phát triển và bất kỳ chi tiêu chế biến nào mà công ty tài nguyên phải gánh chịu. Đối với
các công ty tài nguyên có thể hồi sinh, các chi phí tương tự sẽ được khấu trừ bao gồm chi phí
quyền sở hữu, chi phí thu hoạch, bất kỳ chi phí hồi sinh nào, như tái quy hoạch hoặc mua thêm,
cũng như bất kỳ chi phí chế biến nào mà công ty phải gánh chịu. Sẽ không có khấu trừ nào cho
các loại thuế phải trả khác. Tất nhiên, hạch toán các luồng tiền tệ cần phải được thực hiện từ một
quan điểm xã hội do vậy bất kỳ chi phí ngoại lai nào cần phải được đưa vào như là chi phí trên
cơ sở tiền tệ. Cũng có thể cần thiết phải yêu cầu công ty tính tới chi phí ngoại lai gắn với việc
đóng cửa công ty, mặc dù điều đó có thể được thực hiện bằng cách bắt các công ty phát hành
phiếu nợ và/hoặc thông qua các dạng điều chỉnh khác. Cả các liên hợp lẫn các công ty không liên
hợp cần phải là đối tượng của thuế.
Cách thứ hai mà chính phủ có thể chia sẻ tô kinh tế là yêu cầu các công ty đấu thầu để dành
quyền khai thác tài nguyên. Trong trường hợp các tài nguyên không-hồi sinh, đấu thầu sẽ được
tiến hành trước giai đoạn khai thác. Đối với các tài nguyên có thể hồi sinh, đấu thầu sẽ được tiến
hành cho một dự trữ tài nguyên đã biết. Khi mà hệ thống thầu là cạnh tranh và tất cả các nhà thầu
có được thông tin như nhau, giá trị của giá bỏ thầu sẽ bằng với tô kinh tế ròng tương lai dự kiến
(ròng của thuế dự kiến tương lai) được hiệu chỉnh theo một hệ số rủi ro. Để cho một hệ thống

chung cũng như phát triển kinh tế tài nguyên thiên nhiên nói riêng là một lĩnh vực phức tạp và
rộng lớn nhưng đầy hứa hẹn.
Các chính sách huy động doanh thu hay được sử dụng trong thực tế nói chung là khác với các
chính sách được phác thảo ở trên. Điều này hàm ý rằng chúng không phải là các công cụ thu thập
tô kinh tế thuần túy, và do vậy chúng có tác động xấu là bóp méo các quyết định phân bổ tài
nguyên. Trong trường hợp thuế, thuế tô kinh tế được sử dụng trong các ngành công nghiệp tài
nguyên chỉ là ngoại lệ chứ không phải là quy tắc. Chúng ta sẽ xem xét các loại thuế hay được sử
dụng nhất.
Hà Thị Thanh Xuân – Lớp TCDN Đêm 1 Khóa 20 5
GVHD:PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng Thuế tài nguyên (TTN) & Giải pháp nâng cao thu TNN VN
Có lẽ dạng thu tiền tài nguyên chung nhất là một loại thuế dựa vào khối lượng khai thác
được, hoặc được gọi là một loại tiền thuê mỏ (royality) hoặc thuế khai mỏ (severance taxes) đánh
vào các tài nguyên không hồi sinh hoặc phí tính theo vòng tuổi của cây cho tài nguyên rừng. Khó
có thể hiểu được sự hấp dẫn của kiểu thu tiền này ngoài tính đơn giản của nó. Đôi khi những loại
thuế này ít được nhìn nhận như một dạng của thuế mà chỉ là như một loại phí được đánh bởi khu
vực công cộng vì đã dịch chuyển các nguồn tài nguyên khỏi khu vực công cộng. Tuy nhiên, từ
quan điểm kinh tế, chúng là tương đương với thuế sản xuất. Trong dạng đơn giản, chúng đánh
vào doanh thu mà không hạch toán tới chi phí. Theo nghĩa hẹp, những loại thuế này hành động
như một kiểu không khuyến khích đầu tư và khai thác tài nguyên và tạo ra ít doanh thu cho khu
vực công cộng hơn so với có thể đạt được bằng thuế tô kinh tế. Hơn nữa, vì không hạch toán tới
chi phí, chúng phân biệt đối xử chống lại các nguồn doanh thu có chi phí-cao và có lợi cho các
doanh thu có chi phí-thấp. Tác động này của hệ thống tiền thuê mỏ thô nói chung được biết như
hiện tượng chỉ khai thác bộ phận tài nguyên có nhiều thuận lợi và bỏ qua các tài nguyên khó khai
thác.
Tác động của các loại thuế sản xuất có thể khác nhau tuỳ thuộc vào việc liệu tỷ suất thuế
được dựa trên khối lượng được sản xuất ra (thuế cho một đơn vị) hay dựa vào giá bán (ad
valorem _ thuế theo giá hàng). Về nguyên tắc, tỷ suất ad valorem luôn có thể được chọn sao cho
nó tương đương với tỷ suất cho một đơn vị đã cho. Khi giá cả thay đổi, ad valorem và thuế cho
một đơn vị sản lượng sẽ có các tác động khác nhau. Vì các loại thuế ad valorem tăng theo giá (và
ngược lại), điều này hàm ý loại thuế ad valorem có một tác động chia-sẻ-rủi ro nào đó, là cái mà

tiện và ít hay nhiều có tính danh nghĩa. Sẽ khó quản lý hành chính một loại thuế dựa vào giá trị
kinh tế thực của thuộc tính tài nguyên đang xét như vậy, vì các giá trị thị trường không tồn tại.
Bởi vậy, một sự tùy tiện trong quản trị hành chính nào đó cần phải có. Nếu một loại thuế tiền
thuê hàng năm cần phải được đưa ra, thì sử dụng một loại thuế tô kinh tế đúng đắn sẽ đáng được
ưa thích hơn.
Trong các quốc gia xuất khẩu sản phẩm sơ cấp, thuế xuất khẩu là một nguồn doanh thu chính
của chính phủ. Nếu quốc gia này là người chấp nhận giá trên các thị trường quốc tế, một loại
thuế xuất khẩu chính xác có cùng tác động như một loại thuế sản xuất từ quan điểm của nhà sản
xuất. Do vậy, từ quan điểm này, thuế xuất khẩu chia sẻ cùng những khó khăn như thuế sản xuất
trong việc thu hồi tô kinh tế cho chính phủ. Tuy nhiên, những người tiêu dùng thanh toán một
Hà Thị Thanh Xuân – Lớp TCDN Đêm 1 Khóa 20 7
GVHD:PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng Thuế tài nguyên (TTN) & Giải pháp nâng cao thu TNN VN
mức giá thấp hơn trong thuế xuất khẩu. Mặc dù có thể có một số nguyên nhân phân phối để ưa
thích một loại thuế xuất khẩu, đa số các quốc gia đã phát hiện ra rằng thuế xuất khẩu đánh vào
các sản phẩm tài nguyên (ví dụ, cao su ở Malaysia) là lũy giảm. Thuế đánh vào xuất khẩu để thúc
đẩy các ngành công nghiệp chế biến xuôi dòng (downstream) địa phương cũng có thể là cách rất
tốn kém lãng phí tô kinh tế tài nguyên. Thậm chí trong các trường hợp khi mà quốc gia xuất
khẩu-tài nguyên có thể có một lợi thế so sánh dài hạn trong việc tiếp tục chế biến, sử dụng thuế
xuất khẩu để tăng tốc quá trình có thể là rất tốn kém.
Các hệ thống đấu thầu có xu hướng không được sử dụng nhiều, đặc biệt trong các quốc gia
đang phát triển. Một nguyên nhân có thể là các điều kiện tự bản thân không dẫn tới các thủ tục
đấu thầu cạnh tranh. Nhiều dự án tài nguyên là lớn và không thể bao gồm nhiều hơn một nhà đầu
tư tại cùng một thời điểm. Vì lý do gì đi chăng nữa, các nhà buôn cá nhân chú ý gây ấn tượng với
các nhà sản xuất tài nguyên liên quan tới các kiểu tham gia công cộng khác nhau.
Dạng đơn giản nhất của chia sẻ sản lượng (production sharing) là dạng trong đó chính phủ lấy
một phần sản phẩm. Nó tương tự như cấy rẽ trong nông nghiệp, và giống hệt như thuế sản xuất
ad valorem tại cùng một tỷ suất. Nó khác với thuế đánh vào tô kinh tế thuần túy vì không có chi
phí nào được khấu trừ. Vì nó là ad valorem, một mức độ chia sẻ-rủi ro nào đó là tiềm ẩn trong sơ
đồ này.
Vì các sơ đồ chia sẻ sản lượng là đối tượng của thương lượng, tỷ phần của phần chia có thể

luồng tiền. Chỉ có khác biệt thực là chính phủ có được quyền bỏ phiếu. Nếu thanh toán được trải
rộng vào tương lai (ví dụ, được lấy từ tiền lãi cổ phần), nó cần được đưa vào tương lai với lãi
suất. Trong một trường hợp, chính phủ sẽ chỉ có được phần chia của tô kinh tế chứ không phải
toàn bộ lượng tiền.
Có một số lượng lớn các vấn đề thiết kế khác liên quan tới đánh thuế tài nguyên có thể làm
cho chúng khác với các loại thuế tô kinh tế lý tưởng. Các sắp đặt với khu vực tư nhân cho việc
chia sẻ tô kinh tế đôi khi được chỉ ra chỉ trong một giai đoạn thời gian hạn chế. Điều này có thể
là do thiết kế có chủ ý, hoặc có thể là vì sự bất lực của các cấp chính quyền trong việc cam kết
các chính sách cố định trong dài-hạn. Trong bất kỳ trường hợp nào, kết quả là mất hiệu quả khó
có thể tránh được.
Nhiều quản lý vận hành tài nguyên không-hồi sinh đối mặt với các chi phí đóng-cửa như chi
phí làm-sạch để phòng tránh các thiệt hại môi trường. Đơn giản yêu cầu các công ty đáp ứng
Hà Thị Thanh Xuân – Lớp TCDN Đêm 1 Khóa 20 9
GVHD:PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng Thuế tài nguyên (TTN) & Giải pháp nâng cao thu TNN VN
những chi phí như vậy có thể là không bắt buộc vì các công ty có khả năng tránh những điều đó
chỉ bằng cách rời bỏ địa điểm. Làm-sạch có thể được cưỡng chế bằng cách yêu cầu công ty phát
hành trái phiếu cho chi phí làm-sạch, hoặc, một cách tương đương, bằng cách đặt ra một loại thế
lợi tức về quản lý tài nguyên, là khối lượng sẽ được hoàn trả một khi đã được làm-sạch.
1.3. Việc áp dụng các biện pháp tính thuế tại các quốc gia đối với các tổ chức công ty
hoạt động sản xuất liên quan đến tài nguyên thiên nhiên:
Trong nhiều quốc gia quyền hạn đối với các tài nguyên được phi tập trung hóa ít nhất một
phần xuống cấp thấp hơn của chính phủ. Điều này có thể làm phát sinh những vấn đề phối hợp
thuế giữa các cấp khác nhau của chính phủ cũng như cho các năng lực tài chính khác nhau giữa
các cấp thấp hơn của chính phủ.
Nhiều công ty vận hành trong các quốc gia kém phát triển là các công ty nước ngoài. Điều
này làm phát sinh nhiều vấn đề khác nhau. Đối với một quốc gia nào đó, các biện pháp thuế xác
định có thể được ưa thích hơn các biện pháp khác ở một phạm vi mà tín dụng thuế nước ngoài
được tạo điều kiện thuận lợi. Việc sử dụng hệ thống thuế thu nhập chứ không phải các sắp đặt
vốn cổ phần tự do hoặc chia sẻ sản lượng có thể có thuộc tính đó. Cũng như thế, khả năng của
các công ty nước ngoài trong việc dịch chuyển lợi nhuận thông qua định giá chuyển khoản và các

a. Khoáng sản kim loại: Gồm khoáng sản kim loại đen (sắt, man gan, ti tan…) và khoáng sản
kim loại màu (vàng, đất hiếm, bạch kim, thiếc, won fram, đồng, chì, kẽm nhôm…).
b. Khoáng sản không kim loại, bao gồm: đất làm gạch, đất khai thác san lấp, xây dựng công
trình, đất khai thác sử dụng cho các mục đích khác; đá, cát, sỏi; than; đá quý,… nước khoáng,
nước nóng thiên nhiên thuộc đối tượng quy định tại Luật Khoáng sản;
c. Dầu mỏ: là dầu thô được quy định tại khoản 2, Điều 3 Luật Dầu khí;
d. Khí đốt: là khí thiên nhiên quy định tại khoản 3, Điều 3 Luật Dầu khí;
đ. Sản phẩm của rừng tự nhiên, gồm: gỗ (kể cả cành, ngọn, củi, gốc, rễ…), tre, nứa, giang,
vầu; các loại dược liệu… và các loại thực vật, động vật được phép khai thác là sản phẩm của
rừng tự nhiên;
e. Thủy sản tự nhiên: Các loại động vật, thực vật tự nhiên ở biển, sông, ngòi, hồ, ao, đầm…
thiên nhiên.
g. Nước thiên nhiên gồm: Nước mặt, nước dưới lòng đất, trừ nước nóng, nước khoáng thiên
nhiên thuộc nhóm b nêu trên.
h. Tài nguyên thiên nhiên khác: Gồm các loại tài nguyên thiên nhiên không thuộc các nhóm
trên.
2.3. Đối tượng nộp thuế :
Người nộp thuế tài nguyên là tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thuộc đối tượng chịu thuế
tài nguyên theo quy định bao gồm: Công ty Nhà nước, Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm
hữu hạn, công ty hợp danh, Hợp tác xã, Doanh nghiệp tư nhân, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài hay Bên nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh, các tổ chức, hộ gia đình và cá
nhân khác, không phân biệt ngành nghề, quy mô, hình thức hoạt động, có khai thác tài nguyên
Hà Thị Thanh Xuân – Lớp TCDN Đêm 1 Khóa 20 12
GVHD:PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng Thuế tài nguyên (TTN) & Giải pháp nâng cao thu TNN VN
thiên nhiên theo quy định của pháp luật Việt Nam là đối tượng nộp thuế tài nguyên theo quy định
tại Điều 3 Luật Thuế tài nguyên.
Người nộp thuế tài nguyên trong một số trường hợp được quy định cụ thể như sau:
- Doanh nghiệp khai thác tài nguyên được thành lập trên cơ sở liên doanh thì doanh nghiệp
liên doanh là người nộp thuế;
- Bên Việt Nam và bên nước ngoài cùng tham gia thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh

người nộp thuế là công ty điều hành chung.
• Đối với hợp đồng dầu khí được ký kết dưới hình thức hợp đồng liên doanh, người
nộp thuế là doanh nghiệp liên doanh.
• Đối với trường hợp Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam hoặc các Tổng công ty,
Công ty thuộc Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam tự tiến hành hoạt động tìm
kiếm thăm dò và khai thác dầu thô, khí thiên nhiên, người nộp thuế là Tập đoàn
dầu khí quốc gia Việt Nam hoặc các Tổng công ty, Công ty thuộc Tập đoàn dầu
khí quốc gia Việt Nam.
- Tổ chức, cá nhân sử dụng nước từ công trình thuỷ lợi được đầu tư bằng nguồn vốn không
thuộc ngân sách nhà nước hoặc có một phần vốn ngân sách nhà nước để phát điện là đơn
vị phải nộp thuế tài nguyên và tiền sử dụng nước theo quy định.
- Đối với tài nguyên thiên nhiên cấm khai thác hoặc khai thác trái phép bị bắt giữ, tịch thu
thuộc đối tượng chịu thuế tài nguyên và được phép bán ra thì tổ chức được giao bán phải
nộp thuế tài nguyên trước khi trích các khoản chi phí liên quan đến hoạt động bắt giữ, bán
đấu giá, trích thưởng theo chế độ quy định.
2.4. Về căn cứ tính thuế:
Điều 5 luật quy định căn cứ tính thuế là sản lượng tài nguyên thực tế khai thác, giá tính thuế
và thuế suất.
Riêng đối với dầu thô, khí thiên nhiên và khí than (sau đây gọi là dầu, khí), căn cứ tính thuế
tài nguyên được xác định trên cơ sở lũy tiến từng phần của tổng sản lượng dầu, khí thực khai
thác trong mỗi kỳ nộp thuế tính theo sản lượng dầu, khí bình quân mỗi ngày khai thác được của
Hà Thị Thanh Xuân – Lớp TCDN Đêm 1 Khóa 20 14
GVHD:PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng Thuế tài nguyên (TTN) & Giải pháp nâng cao thu TNN VN
toàn bộ diện tích hợp đồng dầu, khí và số ngày khai thác trong kỳ tính thuế; thuế suất và giá tính
thuế tài nguyên.
Số thuế tài nguyên phải nộp được tính như sau:
Trường hợp được cơ quan nhà nước ấn định mức thuế tài nguyên phải nộp trên một đơn vị tài
nguyên khai thác thì số thuế tài nguyên phải nộp được xác định như sau:
Việc quy định sản lượng tính thuế là sản lượng tài nguyên thực tế khai thác thảo là hợp lý.
Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn trong cách xác định giá tính thuế tài nguyên. Giá tính thuế không

x
Thuế tài
nguyên phải
nộp trong kỳ
=
Sản lượng tài nguyên
thương phẩm thực tế
khai thác trong kỳ
Giá tính thuế
đơn vị tài
nguyên
x
Thuế suất
thuế tài
nguyên
x
Sản lượng tài
nguyên thương
phẩm thực tế
khai thác trong
kỳ
Thuế tài nguyên
phải nộp trong
kỳ
x
=
Mức thuế tài nguyên ấn định
trên một đơn vị tài nguyên khai
thác thực tế khai thác trong kỳ
GVHD:PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng Thuế tài nguyên (TTN) & Giải pháp nâng cao thu TNN VN

- Đối với gỗ là giá bán tại bãi giao; trường hợp chưa xác định được giá bán tại bãi giao thì
giá tính thuế được xác định căn cứ vào giá tính thuế do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy
định;
- Đối với tài nguyên khai thác không tiêu thụ trong nước mà xuất khẩu là giá xuất khẩu;
- Đối với dầu thô, khí thiên nhiên, khí than là giá bán tại điểm giao nhận. Điểm giao nhận là
điểm được thoả thuận trong hợp đồng dầu khí mà ở đó dầu thô, khí thiên nhiên, khí than
được chuyển giao quyền sở hữu cho các bên tham gia hợp đồng dầu khí.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể giá tính thuế đối với tài nguyên chưa xác định được
giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên, trừ dầu thô, khí thiên nhiên, khí than và nước thiên nhiên
dùng cho sản xuất thủy điện.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
2.7. Thuế suất
Biểu khung thuế suất thuế tài nguyên được quy định như sau:
STT Nhóm, loại tài nguyên Thuế suất (%)
I Khoáng sản kim loại
1 Sắt, măng-gan (mangan) 7-20
2 Ti-tan (titan) 7-20
3 Vàng 9-25
4 Đất hiếm 12-25
5 Bạch kim, bạc, thiếc 7-25
6 Vôn-phờ-ram (wolfram), ăng-ti-moan (antimoan) 7-25
7 Chì, kẽm, nhôm, bô-xit (bouxite), đồng, ni-ken (niken) 7-25
8
Cô-ban (coban), mô-lip-đen (molipden), thuỷ ngân, ma-
nhê (magie), va-na-đi (vanadi)
7-25
9 Khoáng sản kim loại khác 5-25
II Khoáng sản không kim loại
1 Đất khai thác để san lấp, xây dựng công trình 3-10
2

16
Thạch anh tinh thể màu tím xanh, vàng lục, da cam; cờ-ri-
ô-lít (cryolite); ô-pan (pan) quý màu trắng, đỏ lửa; phen-
sờ-phát (fenspat); birusa; nê-phờ-rít (nefrite)
12-25
17 Khoáng sản không kim loại khác 4-25
III Dầu thô 6-40
IV Khí thiên nhiên, khí than 1-30
V Sản phẩm của rừng tự nhiên
1 Gỗ nhóm I 25-35
2 Gỗ nhóm II 20-30
3 Gỗ nhóm III, IV 15-20
4 Gỗ nhóm V, VI, VII, VIII và các loại gỗ khác 10-15
5 Cành, ngọn, gốc, rễ 10-20
6 Củi 1-5
7 Tre, trúc, nứa, mai, giang, tranh, vầu, lồ ô 10-15
8 Trầm hương, kỳ nam 25-30
9 Hồi, quế, sa nhân, thảo quả 10-15
10 Sản phẩm khác của rừng tự nhiên 5-15
VI Hải sản tự nhiên
1 Ngọc trai, bào ngư, hải sâm 6-10
2 Hải sản tự nhiên khác 1-5
VII Nước thiên nhiên
Hà Thị Thanh Xuân – Lớp TCDN Đêm 1 Khóa 20 18
GVHD:PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng Thuế tài nguyên (TTN) & Giải pháp nâng cao thu TNN VN
1
Nước khoáng thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên, nước
thiên nhiên tinh lọc đóng chai, đóng hộp
8-10
2 Nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thủy điện 2-5

quan đến thuế tài nguyên của chủ thể quản lý (cơ quan quản lý thuế) và đối tượng quản lý (các tổ
chức, cá nhân thuộc đối tượng nộp thuế tài nguyên ) để đạt được hiệu qủa cao nhất của việc áp
dụng thuế tài nguyên.
Quản lý đối tượng nộp thuế: Ðối tượng nộp thuế là người trực tiếp thực hiện nghĩa vụ của
mình đối với Nhà nước. Quản lý tốt các đối tượng nộp thuế là yếu tố quan trọng đầu tiên dẫn đến
sự thành công trong việc áp dụng pháp luật thuế. Ðể thực hiện tốt các công tác này đòi hỏi cơ
quan thuế phải quản lý đầy đủ các đối tượng nộp thuế về số lượng, quy mô, cách thức tổ chức,
phương tiện khai thác, địa bàn khai thác và loại tài nguyên khai thác, Công việc này được thực
hiện thông qua việc đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế, cũng như kiểm tra tình hình thực tế
hoạt động sản xuất kinh doanh của đối tượng nộp thuế.
Quản lý nội dung căn cứ tính thuế: Ðây là công tác quan trọng liên quan đến việc xác định số
thuế tài nguyên phải nộp của các đối tượng nộp thuế. Quản lý nội dung căn cứ tính thuế bao gồm
quản lý số lượng tài nguyên thương phẩm thực tế khai thác trong kỳ tính thuế; quản lý, xác định
đúng đắn giá tính thuế của từng loại tài nguyên; áp dụng thuế suất cho từng loại tài nguyên đúng
theo quy định của biểu thuế hiện hành; Xác định chính xác số thuế tài nguyên phát sinh trong
kỳ tính thuế đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước cũng như quyền lợi và nghĩa vụ của các
đối tượng nộp thuế.
Quản lý công tác thu nộp thuế tài nguyên: Việc thu thuế tài nguyên được đầy đủ, chính xác,
kịp thời là yêu cầu đặt ra cho công tác quản lý thu nộp thuế. Công tác này đòi hỏi cơ quan thuế
phải có những biện pháp hữu hiệu để các đối tượng nộp thuế thực hiện nghĩa vụ nộp thuế tài
nguyên vào ngân sách Nhà nước đầy đủ và kịp thời.
Ngoài ra, việc quản lý các trường hợp miễn, giảm thuế tài nguyên, thực hiện công tác thanh
tra, kiểm tra qúa trình chấp hành pháp lệnh thuế tài nguyên, là những nội dung cần thiết của
công tác quản lý thuế tài nguyên.
Ðế thực hiện tốt các nội dung công tác kể trên, đảm bảo thực hiện pháp lệnh thuế tài nguyên
đạt hiệu qủa cao nhất, yêu cầu cơ bản nhất là các cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thực hiện tốt các
chức năng, nhiệm vụ của mình theo đúng quy định của pháp lệnh thuế tài nguyên.
Hà Thị Thanh Xuân – Lớp TCDN Đêm 1 Khóa 20 20
GVHD:PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng Thuế tài nguyên (TTN) & Giải pháp nâng cao thu TNN VN
2.10. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác tài nguyê n:

nguyên nhỏ và ở nơi xa Kho bạc Nhà nước thì cơ quan thuế có thể trực tiếp thu thuế để chuyển
nộp vào kho bạc. Căn cứ vào tình hình thực tế, cơ quan thuế phải quy định rõ lịch nộp tiền theo
số ngày và số tiền thuế thu được.
Mọi tổ chức, cá nhân khi vận chuyển tài nguyên thiên nhiên đều phải có hóa đơn bán hàng
hoặc chứng từ chứng minh đã thực hiện chính sách thuế tài nguyên.
Trong thời hạn 30 ngày sau khi kết thúc năm hoạt động hoặc hợp đồng khai thác, tổ chức, cá
nhân khai thác tài nguyên phải quyết toán việc nộp thuế tài nguyên với cơ quan thuế.
Trong thời hạn 10 ngày sau khi cơ quan thuế kiểm tra và thông báo, tổ chức, cá nhân khai
thác tài nguyên phải nộp đủ số thuế còn thiếu (nếu có) vào ngân sách; số thuế nộp thừa sẽ được
hoàn trả cũng trong thời gian quy định đó hoặc tính trừ vào số thuế tài nguyên phải nộp của kỳ
tiếp theo. thuế; thông báo kịp thời số thuế tài nguyên phải nộp và thời hạn nộp theo đúng quy
định, cung cấp chứng từ thu thuế hợp pháp.
2.11. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan thuế.
Hướng dẫn, đôn đốc cơ sở khai thác tài nguyên đăng ký, kê khai, nộp thuế tài nguyên.
Kiểm tra, thanh tra việc đăng ký, kê khai nộp thuế, quyết toán thuế của cơ sở khai thác tài
nguyên.
Tính thuế hoặc tổ chức công tác điều tra, giám sát, ấn định mức khoán thuế, lập và duyệt sổ
bộ thuế; thông báo kịp thời số thuế tài nguyên phải nộp và thời hạn nộp theo đúng quy định, cung
cấp chứng từ thu thuế hợp pháp.
Xử phạt vi phạm hành chính về thuế và giải quyết khiếu nại về thuế tài nguyên.
Yêu cầu đối tượng nộp thuế cung cấp sổ kế toán, hóa đơn, chứng từ và hồ sơ tài liệu khác có liên
quan tới việc tính thuế, nộp thuế tài nguyên; yêu cầu các tổ chức tín dụng, Ngân hàng và các tổ
chức, cá nhân có liên quan khác cung cấp tài liệu có liên quan đến việc tính thuế và nộp thuế tài
nguyên.
Lưu giữ và sử dụng số liệu, tài liệu mà cơ sở khai thác tài nguyên và các đối tượng khác cung
cấp theo chế độ quy định.
Hà Thị Thanh Xuân – Lớp TCDN Đêm 1 Khóa 20 22
GVHD:PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng Thuế tài nguyên (TTN) & Giải pháp nâng cao thu TNN VN
Cơ quan thuế có quyền ấn định số thuế tài nguyên phải nộp đối với các cơ sở khai thác tài
nguyên trong các trường hợp sau:

loại và một số tài nguyên quý hiếm khác. Chúng đều có mức thuế suất sàn tăng vì đây là
những tài nguyên không thể tái tạo, có giá trị lớn. Việc xác định biểu thuế suất này vẫn nhằm
đảm bảo nguồn thu ngân sách nhà nước, đồng thời góp phần nâng cao ý thức bảo vệ tài
nguyên quốc gia từ phía các chủ thể tiến hành khai thác.
- Giá tính thuế tài nguyên được quy định rõ hơn trong Luật Thuế tài nguyên năm 2009 theo
hướng “là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên của tổ chức, cá nhân khai thác chưa bao gồm
thuế giá trị gia tăng (Khoản 1 Điều 6) chứ không chung chung như quy định tại Điều 5 Pháp
lệnh Thuế tài nguyên năm 1998 là “tại nơi khai thác”. Quy định “tại nơi khai thác” theo Pháp
lệnh năm 1998 là tại tỉnh, huyện hay xã là vấn đề gây nhiều tranh cãi trong quá trình thực
hiện. Đối với trường hợp tài nguyên khai thác chưa có giá bán thì Khoản 2 Điều 6 Luật Thuế
tài nguyên đưa ra nguyên tắc xác định giá bán cụ thể như sau: (i) giá bán thực tế trên thị
trường khu vực của đơn vị sản phẩm tài nguyên cùng loại nhưng không thấp hơn giá tính thuế
do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định. Quy định này nhằm giúp khống chế mức giá sàn của
loại tài nguyên không được thấp hơn đơn giá do Nhà nước quy định nhằm tránh trường hợp
kê khai giá quá thấp để trốn thuế.
Hà Thị Thanh Xuân – Lớp TCDN Đêm 1 Khóa 20 24
GVHD:PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng Thuế tài nguyên (TTN) & Giải pháp nâng cao thu TNN VN
Thuế tài nguyên là một công cụ quan trọng để các cơ quan quản lý nhà nước tăng cường công
tác quản lý, giám sát quá trình hoạt động khai thác tài nguyên theo quy định của pháp luật góp
phần sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, các công tác quản lý giám
sát này được sử dụng đồng thời với các công cụ quản lý khác như cấp giấy phép thăm dò, khai
thác, chế biến tài nguyên.
Thuế tài nguyên góp phần đảm bảo ổn định nguồn thu ngân sách nhà nước. Với mục tiêu góp
phần bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước, thuế tài nguyên đã đạt được những kết quả
nhất định. Số thu thuế tài nguyên các năm từ 2005-2008 bình quân mỗi năm trên 23.200 tỷ đồng,
chiếm khoảng 15% tổng thu ngân sách nhà nước từ sản xuất kinh doanh trong nước (trong đó,
thuế tài nguyên từ dầu khí khoảng 22.160 tỷ đồng, chiếm 95,5% tổng số thu thuế tài nguyên; thuế
tài nguyên của các tài nguyên khác khoảng 1.040 tỷ đồng, chiếm 4,5% tổng số thu thuế tài
nguyên).
3.2. Những mặt hạn chế của Luật thuế tài nguyên:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status