Thực trạng và giải pháp nâng cao thu nhập bền vững cho các hộ dân tộc thiểu số ở vùng đệm vườn quốc gia ba vì hà tây - Pdf 30


I. Mở đầu

1.1. Sự cần thiết của đề tài
Việt Nam là một trong những nớc đã có những bớc tiến tích cực cả về chính
sách cũng nh hoạt động thực tiễn nhằm bảo vệ đa dạng sinh học. Năm 1994 Việt
Nam đã phê chuẩn Công ớc quốc tế về bảo vệ đa dạng sinh học. Ngày 22 tháng 12
năm 1995 Thủ tớng Chính phủ đã ký quyết định phê duyệt Kế hoạch hành động
bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt Nam. Một hệ thống 105 khu rừng đặc dụng với diện
tích khoảng 3 triệu ha đã đợc phê duyệt, trong đó u tiên hàng đầu là 13 Khu bảo
tồn thiên nhiên (BTTN) và Vờn quốc gia (VQG) có giá trị đa dạng sinh học cao.
Thách thức lớn nhất đối với chiến lợc bảo vệ đa dạng sinh học, sự duy trì và
phát triển các Khu bảo tồn thiên nhiên và Vờn quốc gia là sức ép từ các hộ dân tộc
địa phơng, cùng với các hoạt động kinh tế dân sinh liên quan tới quản lý và sử dụng
các nguồn tài nguyên thiên nhiên bao gồm cả tài nguyên sinh vật và tài nguyên
không phải sinh vật có gắn với môi trờng sống của sinh vật. Chính vì lẽ đó mà sự
tồn tại và phát triển các Khu bảo tồn thiên nhiên và Vờn quốc gia đòi hỏi sự hỗ trợ
và cộng tác của các cộng đồng dân tộc mà phơng cách thiết thực nhất là thiết lập các
vùng đệm để họ có thể tham gia vào việc quản lý và xây dựng các Khu bảo tồn thiên
nhiên và Vờn quốc gia đồng thời với việc phát triển kinh tế nông hộ và phát triển
cộng đồng theo hớng bền vững. Đây là vấn đề còn rất mới, cha có nhiều nghiên
cứu và thiếu những mô hình thử nghiệm.
Vờn quốc gia Ba Vì - Hà Tây đợc thành lập theo quyết định số 17 - CT của
Chủ tịch Hội đồng Bộ trởng (HĐBT) ngày 16/01/1991 trên địa bàn trung du miền
Núi thuộc huyện Ba Vì - Hà Tây, là một trong các Vờn quốc gia nằm trong hệ thống
bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam. Ngoài chức năng gìn giữ, bảo vệ và phát triển các
hệ sinh thái rừng đặc trng, rừng Ba Vì còn là địa bàn đào tạo, nghiên cứu khoa học.
Mặt khác trong khu vực Vờn quốc gia Ba Vì có nhiều di tích, danh lam thắng cảnh,
lại gần thủ đô Hà Nội, cho nên Vờn quốc gia Ba Vì đang là một trung tâm du lịch
lớn, hàng năm có hàng vạn ngời đến tham quan du lịch nghỉ mát.
V

quan tâm.
Xuất phát từ nhận thức và thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
"Thực trạng và giải pháp nâng cao thu nhập bền vững cho các hộ dân tộc thiểu số
ở vùng đệm Vờn quốc gia Ba Vì - Hà Tây".
2

1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung:
Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao thu nhập bền vững cho các hộ
dân tộc thiểu số sống ở vùng đệm Vờn quốc gia.
- Mục tiêu cụ thể:
+ Hệ thống hoá một số lý luận và thực tiễn nâng cao thu nhập bền vững của
các hộ dân tộc thiểu số vùng đệm Vờn quốc gia Ba Vì.
+ Đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hởng đến thu nhập của các hộ dân
tộc thiểu số ở vùng đệm Vờn quốc gia Ba Vì.
+ Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao thu nhập bền vững cho các hộ dân tộc
thiểu số ở vùng đệm Vờn quốc gia Ba Vì.
1.3. Đối tợng nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu của đề tài là những giải pháp nâng cao thu nhập bền
vững cho các hộ dân tộc thiểu số sống ở vùng đệm Vờn quốc gia Ba Vì.
1.4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Về không gian: Vùng đệm Vờn quốc gia Ba Vì bao gồm có 7 xã, nhng đề
tài chỉ tiến hành điều tra nghiên cứu ở 3 xã điển hình:
+ Xã Vân Hoà
+ Xã Ba Vì
+ Xã Khánh Thợng
- Về thời gian: Do hạn chế về thời gian và kinh phí nghiên cứu nên đề tài chỉ
tập trung nghiên cứu nâng cao thu nhập bền vững từ các nguồn lực sẵn có của gia
đình và các nguồn thu nhập hợp pháp khác từ rừng trong 3 năm gần đây.
- Về nội dung nghiên cứu: Thu nhập bền vững bao gồm thu nhập từ rất nhiều

thức. Tuy nhiên do chính giá trị của các tài sản trong Vờn quốc gia lại là cản trở lớn
trong công tác bảo vệ. Sức ép của nhân dân sinh sống xung quanh hay trong các
Vờn quốc gia ngày càng mạnh mà công tác bảo tồn gặp nhiều khó khăn. Để giải
quyết các mâu thuẫn nói trên, một mặt các Vờn quốc gia đã thực hiện một số dự án
về nâng cao nhận thức môi trờng, giáo dục tuyên truyền cho cộng đồng, mặt khác
cần phải có những biện pháp để nâng cao, cải thiện cuộc sống cho ngời dân, nhất là
những ngời nghèo sống xung quanh các Vờn quốc gia.
2.1.1.2. Vùng đệm
2.1.1.2.1. Khái niệm vùng đệm (Buffer Zone)
Quan niệm về vùng đệm bắt đầu đợc đề cập vào khoảng năm 1950. Khi khu
4

bảo tồn Nerfu ở Zambia Luangua gặp phải thử thách trớc nhu cầu cuộc sống và tập
quán của ngời dân địa phơng, họ đã quan tâm đến việc cho phép các cộng đồng
dân tộc đợc săn bắn theo phơng thức truyền thống. ở Vờn quốc gia Corbet (ấn
Độ) ngời dân địa phơng cũng đợc quyền thu hoạch và khai thác các sản phẩm
không phải là gỗ trong một khu rừng bán tự nhiên. Tại Đại hội về Khu bảo tồn và
Vờn quốc gia lần thứ III do IUCN tổ chức tại Bali năm 1982 đã đề cập đến việc đáp
ứng nhu cầu của ngời dân địa phơng thông qua việc xây dựng các vùng đệm. Vấn
đề này đã đợc thảo luận nhiều hơn trong hội nghị MAB/UNESCO về chơng trình
hành động cho các khu bảo tồn sinh quyền tổ chức tại Đại hội Minsk (Liên Xô cũ)
năm 1984. Trên cơ sở đó, có rất nhiều khái niệm về vùng đệm đợc đa ra [32],[73].
Theo Jeffey Sayer (1991) thì Vùng đệm là vùng đất nằm xung quanh Vờn
quốc gia hay Khu bảo tồn mà ở đó việc sử dụng các tài nguyên thiên nhiên có hạn
chế, hay ở đó các biện pháp quản lý đặc biệt về phát triển nhằm nâng cao hiệu quả
của công việc bảo vệ.
GTZ (1996) thì quan niệm rằng Vùng đệm là vùng chuyển tiếp là những
vùng đất nằm ngoài hay trong khu bảo tồn. Các vùng này có chức năng tạo thuận lợi
cho Khu bảo tồn và cho cuộc sống của dân c ở đây. Dân c sinh sống ở đây luôn là
tiềm năng trực tiếp ảnh hởng đến Khu bảo tồn.

Nh vậy dù vùng đệm đợc tạo ra theo hình thức nào, thì những công việc hàng
ngày xảy ra, do dân c sinh sống xung quanh tạo sức ép nặng nề lên Vờn quốc gia,
đã buộc các ban quản lý Vờn quốc gia phải có những hoạt động liên quan đến việc
ổn định cuộc sống của dân c ở đây, giảm sức ép của dân lên Vờn quốc gia
[32],[33],[67]. Đó là những công việc quan trọng mà ban quản lý vờn quốc gia nào
cũng phải thờng xuyên lo lắng và không thể bỏ qua đợc. Các công việc đó thực
chất là một trong những công việc quan trọng trong việc quản lý vùng đệm.
D.A. Gilmour và Nguyễn Văn Sản đã định nghĩa: Vùng đệm là những vùng
đợc xác định ranh giới rõ ràng, có hoặc không có tài nguyên rừng, nằm ngoài ranh
giới của Vờn quốc gia và đợc quản lý để nâng cao việc bảo tồn của Vờn quốc gia
và của chính vùng đệm, đồng thời mang lại lợi ích cho nhân dân sống quanh V
ờn
quốc gia. Điều này đợc thực hiện bằng cách áp dụng các hoạt động phát triển cụ thể,
đặc biệt góp phần vào việc nâng cao đời sống kinh tế - xã hội của dân c sống trong
vùng đệm [19] ,[69].
Định nghĩa trên đã nói lên rõ chức năng của vùng đệm là (trích dẫn kiến nghị
6

của dự án IUCN - SDC - FPD):
- Góp phần vào việc bảo tồn Vờn quốc gia mà nó bao quanh;
- Nâng cao các giá trị bảo tồn của chính bản thân vùng đệm;
- Tạo điều kiện mang lại cho những ngời dân xung quanh những lợi ích từ
Vờn quốc gia.
2.1.1.2.2. Vai trò của vùng đệm đối với sự phát triển của các Vờn quốc gia
Trong thực tiễn, việc hoạch định vùng đệm cho các Vờn quốc gia đã đợc
phổ biến ở nhiều nớc trên thế giới. ở Việt Nam lần đầu tiên vùng đệm đợc đa vào
quy hoạch cho Vờn quốc gia Cúc Phơng và sau đó là các Khu bảo tồn thiên nhiên
và Vờn quốc gia khác. Tuy nhiên, khó có một ranh giới rõ rệt đợc xác lập giữa
vùng đệm và khu bảo tồn nội vi [60], điều đó cho thấy sự tồn tại của vùng đệm có ý
nghĩa quan trọng đối với sự phát triển bền vững của các Vờn quốc gia. Sự phát triển
Nhu cầu
và khả
năng
đáp
ứng
lơng
thực Nhu cầu

khả
năng
đáp
ứng
tiền
mặt

Nhu
cầu
chất
đốt

chức
cộng
đồng

Thể
chế
cộng
đồng

Nhận
thức
của
ngời
dân

Phong
tục
tập
quán
N
g
u
y
ên nhân kinh tế
Những tác động của các hộ dân tộc
vùng đệm tới TNR Vn quc gia

Nguyên nhân
xã hội
Hình 2.1: Các nguyên nhân dẫn đến sự tác động của các hộ dân tộc tới TNR Vờn quốc gia

giữa các nhóm dân tộc và nhóm kinh tế hộ ở vùng đệm các Vờn quốc gia, vì vậy
khoản đền bù này ngời dân đi lấy từ tài nguyên rừng.
Thu nhập từ tài nguyên rừng chiếm 40 ữ 45% tổng thu nhập của hộ gia đình
(cộng đồng) [33]. Có sự khác biệt về tổng thu nhập bình quân giữa các hộ dân tộc
khác nhau, tơng ứng là sự khác biệt thu nhập từ tài nguyên rừng, trong đó thu nhập
từ đất rừng đóng góp vai trò quan trọng nhất.
2.1.1.3.3. Mối quan hệ về chất đốt (củi)
Chất đốt là vật chất quan trọng thứ hai sau lơng thực trong đời sống của hộ
gia đình. Nó là nguồn năng lợng đợc sử dụng để tạo nên các bữa cơm hàng ngày và
là nguồn nhiệt sởi ấm con ngời trong những ngày mùa đông giá lạnh. Chất đốt còn
là thứ vũ khí xua đuổi tà ma và thú dữ ở những nơi rừng thiêng nớc độc. Có nhiều
loại chất đốt, nhng đối với các hộ nông dân miền Núi, củi là chất đốt quen thuộc và
thông dụng nhất [51].
Trong đời sống hàng ngày, củi đợc ngời dân sử dụng để đun bếp và sởi ấm,
9

trong đó, củi đun là nhu cầu chính yếu. Nhu cầu về củi đun của các hộ là rất lớn.
Ngoài lợng củi đợc lấy từ rừng, số củi còn lại đợc lấy từ vờn hộ, vờn rừng (đất
lâm nghiệp). Phần lớn không có hộ nào phải mua củi. Nguồn năng luợng này chính là
từ việc vào rừng lấy củi.
Nh chúng ta biết, có sự khác biệt rõ rệt về tỷ lệ củi đợc lấy từ rừng giữa các
dân tộc. Đối với các hộ ngời Kinh, phần lớn số củi sử dụng đợc tận dụng từ vờn
nhà và vờn rừng, đó là thân cây sắn, cây lâm nghiệp (xoan, bạch đàn, keo, cành
chè). Do phong tục tập quán, tỷ lệ củi rừng của các hộ ngời dân tộc chiếm 70 -
80% tổng số củi. Nh vậy, tỷ lệ củi rừng tiêu dùng của các hộ ngời dân tộc chiếm tỷ
lệ lớn.
Những hộ sử dụng ít củi là do số nhân khẩu ít và không chăn nuôi lợn. Những
hộ sử dụng nhiều củi đun là do chăn nuôi phát triển, ngoài ra đối với các hộ có nấu
rợu lợng củi tiêu tốn tơng đối lớn. Điều này chứng tỏ các hộ ngời dân tộc ngoài
việc sử dụng củi để nấu ăn, còn có những điểm chung và cần một lợng củi đáng kể,

=
Thực kiếm của hộ

2.1.2.2. Đặc điểm thu nhập của c dân vùng đệm
Cũng nh các vùng nông thôn miền núi khác, sinh kế của các các hộ dân tộc
vùng đệm bao đời gắn liền với đất và rừng. Cùng với sự phát triển của xã hội, sự thay
đổi về quyền sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sinh kế của các các hộ dân
tộc đã có những biến đổi và ngày có chiều hớng đa dạng hơn. Qua thực tế cho thấy,
ngoài thu nhập từ đất canh tác nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất rừng và sản phẩm
rừng (săn bắn, hái lợm), các hộ dân tộc vùng đệm còn có các nguồn thu từ chăn
nuôi, nghề phụ, làm thuê, bán hàng, hoạt động du lịch sinh tháI,
(Sinh kế bao gồm các nguồn thu vật chất phục vụ ăn, mặc, sinh hoạt trực tiếp
trong gia đình và nguồn thu bằng tiền mặt).
Đặc điểm thu nhập của đồng bào dân tộc thiểu số vùng đệm bao gồm các
khoản thu nhập sau:
* Thu nhập từ nông nghiệp: bao gồm thu từ trồng trọt (thu trồng cây lơng
thực - lực phẩm nh lúa, ngô, khoai, sắn,; thu trồng cây ăn quả nh vải, nhãn, hồng
xiêm, mít, bởi,; thu trồng cây công nghiệp nh chè, cà phê, sắn,); thu từ chăn
nuôi (trâu, bò, lợn, gà, vịt, ngan, dê.).
11

* Thu nhập từ lâm nghiệp: bao gồm thu từ khai thác lâm sản và lâm sản ngoài
gỗ (gỗ, củi, tre, nứa, song, mây, thu hái cây thuốc, ong rừng ); thu từ chặt gỗ lậu;
thu từ săn bắt động vật và chim thú rừng; thu từ các hoạt động trồng rừng, khoanh
nuôi bảo vệ rừng,
* Thu nhập từ thuỷ sản: bao gồm nuôi cá, nuôi ếch, nuôi ba ba, rắn,
* Thu nhập từ ngành nghề thủ công truyền thống: bao gồm sản phẩm mây tre
đan, chế biến dợc liệu, dệt vải,
* Thu nhập từ dịch vụ du lịch sinh thái: bao gồm thu từ bán hàng, phục vụ ăn
ở, phục vụ tham quan văn hoá truyền thống bản làng, hớng dẫn du lịch,

+ Thu nhập từ nuôi ong mật, trồng nấm
+ Thu nhập từ các hoạt động dịch vụ và du lịch sinh thái.
+ Các thu nhập khác.
2.1.2.3.2. Nâng cao thu nhập bền vững
Nâng cao thu nhập bền vững là làm cho lợng thu nhập ngày càng tăng và ổn
định trong một thời gian tơng đối dài của hộ gia đình và cộng đồng dân c mà
không làm suy giảm (ảnh hởng) đến việc bảo tồn và phát triển tài nguyên đa dạng
sinh học của Vờn quốc gia và vùng đệm.
Khái niệm này đặt ra mấy vấn đề chủ yếu sau:
- Lợng thu nhập ngày càng tăng, phù hợp với mặt bằng phát triển thu nhập
của dân c ở các vùng lân cận và cả nớc.
- Lợng thu nhập này giữ ổn định động trong một thời gian từ 3 đến 5 năm trở
lên.
- Thu nhập bền vững tính cho từng hộ gia đình nói riêng và cả cộng đồng dân
c nói chung nghĩa là không còn hộ đói, giảm hộ nghèo và tiến tới đạt đợc mức
sống trung bình trở lên của tất cả các hộ dân c để họ không phải vào rừng khai thác
tài nguyên rừng.
- Lợng thu nhập này không làm giảm tài nguyên rừng, góp phần bảo tồn và
còn phát triển tài nguyên đa dạng sinh học của Vờn quốc gia và vùng đệm.
2.1.2.3.3. Yêu cầu nâng cao thu nhập bền vững
+ Nâng cao thu nhập bền vững đòi hỏi sử dụng bền vững tài nguyên rừng trên
cơ sở khai thác lâm sản và lâm sản ngoài gỗ trong khuôn khổ pháp luật cho phép
(đợc sự nhất trí của Vờn quốc gia và các cơ quan chức năng) và không làm ảnh
13

hởng đến bảo tồn và đa dạng sinh học.
+ Nâng cao thu nhập bền vững trên cơ sở giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá các
dân tộc thiểu số vùng đệm, bảo vệ tính đa dạng văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam.
+ Nâng cao thu nhập bền vững đi đôi sử dụng hợp lý, khoa học các nguồn lực
hiện có (đất đai, lao động, nguồn nớc ngọt) mà không làm giảm nhu cầu sử dụng

kế, trang trải các khoản chi phí là hoạt động trong hệ thống kinh tế, bởi vì mức độ tác
động của các các hộ dân tộc thiểu số gắn liền với các hoạt động kinh tế của con ngời
nh sử dụng đất rừng canh tác, khai thác lâm sản, chăn thả gia súc và sự tác động
này cũng phụ thuộc vào kinh tế, mức sống, nhu cầu thị trờng, khả năng đầu t, lợi
nhuận trớc mắt và hiệu quả kinh tế thờng quyết định tới hình thức sử dụng tài
nguyên rừng của cộng đồng dân tộc thiểu số. Ngợc lại, mức độ giàu có và đa dạng
của tài nguyên rừng cũng tác động mạnh mẽ tới nguồn thu của các các hộ dân tộc
thiểu số. Chính vì mối quan hệ chặt chẽ giữa các hộ dân tộc thiểu số với tài nguyên
rừng nên có thể làm giảm thiểu bất lợi của họ tới tài nguyên rừng VQG bằng những
yếu tố kinh tế khác trên cơ sở ngời dân nhận thức rõ vai trò của tài nguyên rừng với
vấn đề sinh kế của hộ dân tộc [33],[60]. Đây là lý do đề tài nghiên cứu các phơng
thức kinh tế dẫn đến tăng các nguồn sinh kế của hộ dân tộc mà không phải là các
nguồn thu từ việc tác động đến tài nguyên rừng.
Mối quan hệ giữa các hộ dân tộc thiểu số và tài nguyên rừng VQG là hoạt
động có tính xã hội là vì các hoạt động này là của con ngời. Mối quan hệ này bị chi
phối bởi nhiều yếu tố xã hội nh nhận thức của ngời dân về tầm quan trọng của tài
nguyên rừng, ý thức về luật pháp, trách nhiệm của cộng đồng, những thói quen sử
dụng tài nguyên rừng Mối quan hệ còn phụ thuộc vào những vấn đề về thể chế và
chính sách nh chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số, hệ thống quản lý tài
nguyên rừng, việc thực thi luật bảo vệ phát triển rừng Các tổ chức cộng đồng và
những quy định của cộng đồng cũng có ảnh hởng tới những tác động của đồng bào
dân tộc thiểu số và tài nguyên rừng. Sự hiện diện của chúng sẽ hỗ trợ Nhà nớc trong
việc tuyên truyền các chính sách, gắn kết ngời dân thành cộng đồng thống nhất
trong việc thực thi việc quản lý bảo vệ tài nguyên rừng. Mối quan hệ giữa các hộ dân
tộc thiểu số với bảo tồn tài nguyên rừng liên quan chặt chẽ với các yếu tố xã hội, vì
vậy đề tài tiến hành nghiên cứu các thể chế chính sách có tác động tới vấn đề thu
nhập của các hộ dân tộc với vấn đề bảo tồn tài nguyên rừng.
Tài nguyên rừng là một hệ thống tự nhiên, trong đó các thành phần có mối
15


16

2.1.3.2.2. Mối quan hệ giữa nâng cao thu nhập bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học
Qua thực tế cho thấy, khi đặt các hộ dân tộc tham gia vào quản lý đa dạng sinh
học ở cả vùng đệm sinh thái và vùng nông nghiệp (vùng đệm) sẽ đạt đợc cả hai mục
tiêu là bảo tồn tài nguyên rừng và tăng thu nhập, phát triển kinh tế. Từ nhiều thế hệ
nay, đối với đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó nổi bật là ngời Dao, các nguồn thu
nhập dựa trên canh tác nông nghiệp đất dốc không đủ để nuôi sống họ, công việc làm
ăn còn hạn chế vì thế rừng là nguồn thu nhập, là nơi để sản xuất và tạo việc làm.
Kinh nghiệm quản lý vùng đệm ở các VQG cho thấy khi tạo cho ngời dân cơ
hội tiếp cận với tài nguyên rừng thì ngời dân không chỉ bảo tồn, duy trì và sử dụng
hợp lý lâm sản và lâm sản ngoài gỗ mà còn tái tạo tính đa dạng sinh học tại các vùng
đất đồi núi trọc và vùng đất nông nghiệp, vờn nhà. Khi vùng đệm đợc giao cho
ngời dân quản lý để tái tạo và bảo tồn tính đa dạng sinh học thì cộng đồng dân tộc
sẽ quyết định cơ cấu cây trồng đa dạng, lựa chọn các loài có chất lợng, có hiệu quả
kinh tế cao, phát huy những kiến thức bản địa về nhân giống, chăm sóc, thu hoạch,
xử lý chế biến, tiếp thị và chi tiêu. Rõ ràng đồng bào dân tộc thiểu số hành động
nhằm phát triển tính đa dạng sinh học của rừng cùng với phát triển kinh tế nông hộ
dựa vào rừng [35].
2.1.3.2.3. Mối quan hệ giữa nâng cao thu nhập bền vững và bảo tồn đa dạng văn hoá
- Phải coi việc phát triển kinh tế xã hội vùng đệm, nhất là vấn đề bảo tồn và
làm giàu bản sắc văn hóa của cộng đồng dân tộc thiểu số nh là một bộ phận hữu cơ
của việc bảo tồn và phát triển VQG [42]. Cải thiện và ổn định đời sống lâu dài của
đồng bào dân tộc thiểu số ở VQG phải bao gồm cả việc hoạch định các chính sách,
các biện pháp phát triển kinh tế- xã hội và văn hóa của các cộng đồng dân tộc thiểu
số sinh sống ở trong hay rìa ngoài của VQG.
- Không chỉ dừng lại ở mức tạo nên sự gắn kết giữa các hộ c dân với VQG, mà
hơn thế nữa trong nhận thức và hành động thực tiễn phải coi các dân tộc thiểu số
vùng đệm VQG Ba Vì thực sự là ngời quản lý (ngời chủ) VQG. Muốn đạt tới mục
tiêu đó thì cần phải giải quyết hàng loạt các vấn đề, trong đó tạo nguồn sinh kế bền

Bảo tồn văn hoá của ngời dân, của cộng đồng vừa là mục tiêu vừa là phơng
cách phát triển có hiệu quả. Cộng đồng dân tộc thiểu số vùng đệm VQG cng cần
đợc tham gia vào các hoạt động bảo tồn, cùng với việc hỗ trợ là trao quyền hành
động cho họ.

18

2.1.3.3. Mối quan hệ giữa nâng cao thu nhập bền vững với mục tiêu bảo tồn Vờn
quốc gia và thị trờng

Bảo tồn
Vờn
quốc gia
Tạo
nguồn
sinh kế

Thị
trờng

Hình 2.2: Mối quan hệ giữa nâng cao thu nhập bền vững với bảo tồn và thị trờng
t mc tiờu nõng cao thu nhp mt cỏch bn vng cn lm rừ mi quan h
gia nõng cao thu nhp bn vng vi bo tn VQG v vn th trung. Ba vòng
tròn hỡnh 2.2 xác định ba mục tiêu khác biệt nhng lại có mối quan hệ với nhau trong

ứn
g

các mục tiêu của nân
g
cao thu nhậ
p
bền
vững. Trên thực tế, nhữn
g

g
iải
p

p
chỉ có
thể đá
p
ứn
g
đợc một ha
y
hai mục tiêu, cũn
g

có khả năn
g
đợc đa vào nếu nh nhữn
g

p

u tiên nên là nhữn
g

g
iải
p

p
thuộc
p
hạm vi
giao điểm.
Thị trờng
Bảo tồn
19

Nói một cách khác, giải pháp tốt nhất đối với nâng cao thu nhập bền vững là
những giải pháp có tất cả các đặc điểm sau đây:
Hiệu quả bảo tồn:
Có khả năng hỗ trợ bảo tồn hay sử dụng bền vững
những nguồn tài nguyên.

Tính bền vững
của các nguồn sinh kế:
Có khả năng tạo nguồn sinh kế của hộ dân tộc
sao cho phù hợp với hoàn cảnh của các hộ, có
nghĩa là những giải pháp có thể áp dụng đợc
thực sự giúp cho các hộ dân tộc nâng cao thu

Cơ sở sinh thái đợc giải thích bằng các yếu tố vật lý sinh học, đợc chia làm
2 loại: những yếu tố không thể kiểm soát đợc nh khí hậu, thuỷ văn, địa hình và
những yếu tố có thể kiểm soát đợc hoặc hạn chế đợc nh xói mòn, lũ lụt, sâu bệnh,
lửa rừng, hạn hán, Những yếu tố kiểm soát hoặc hạn chế đợc cần đợc nghiên cứu
bằng các giải pháp khoa học công nghệ. ảnh hởng
- Các yếu tố văn hoá
- Các
y
ếu tố thể chế,
chính sách
- Các yếu tố kinh tế
- Các
y
ếu tố sinh thái,
công nghệ.

hộ dân tộc và cộng đồng dân tộc.
2.1.3.4.2. Quan điểm bảo tồn - phát triển
Trong nhiều năm qua, khi gặp trở ngại trong việc quản lý các Khu bảo tồn thiên
nhiên và Vờn quốc gia, đặc biệt là những Khu bảo tồn thiên nhiên và Vờn quốc gia
đợc thành lập tại những vùng có mật độ dân c cao, nhiều nớc trên thế giới đã quan
tâm đến việc làm sao quản lý đợc các Khu bảo tồn thiên nhiên và Vờn quốc gia và
đáp ứng đợc nhu cầu của ngời dân địa phơng. Đây là lý do dẫn đến sự hình thành
các quan điểm bảo tồn - phát triển.
Theo Gilmour, D.A và Nguyễn Văn Sản (1999) [19
], quan điểm bảo tồn và phát
triển là để liên kết việc bảo tồn tài nguyên và những nhu cầu phát triển địa phơng,
nói chung bao gồm 3 thành phần chính (cách tiếp cận) sau:
- Thứ nhất là nếu nhu cầu phát triển các hộ dân tộc thiểu số tại địa phơng đó
có thể đợc đáp ứng bởi các nguồn thay thế khác thì ảnh hởng của nó lên tài nguyên
sẽ đợc giảm bớt và tài nguyên đợc bảo tồn: Cách tiếp cận các giải pháp thay thế
sinh kế.
- Thứ hai là nếu các hộ khó khăn về mặt kinh tế, không thể nào quan tâm đến
việc bảo tồn đợc vì những nhu cầu thiết yếu của các hộ dân tộc vẫn còn cha đợc
đáp ứng thì trớc hết cần phải nỗ lực cải thiện nền kinh tế - xã hội của họ đủ tốt để họ
có thể quan tâm hơn đến việc bảo tồn tài nguyên:
Cách tiếp cận phát triển kinh tế.
- Thứ ba là các hộ dân tộc đó cũng đợc đồng ý với việc bảo tồn tài nguyên
thiên nhiên nếu nh họ có thể đợc tham gia một cách tích cực vào việc quy hoạch và
quản lý sử dụng tài nguyên và đợc chia sẻ lợi nhuận từ tài nguyên đó. Theo cách
này, tài nguyên có thể đợc bảo tồn trong khi ít nhất một số nhu cầu cơ bản của đồng
bào dân tộc có thể đợc đáp ứng thông qua việc sử dụng và khai thác tài nguyên một
cách hợp lý và bền vững:
Cách tiếp cận tham gia quy hoạch.
Những tác động của các hộ dân tộc ảnh hởng tiêu cực tới tài nguyên rừng. Tuy
22

Trung Quốc là một nớc đông dân nhất thế giới xấp xỉ 1,13 tỉ. Theo thống kê,
diện tích rừng của Trung Quốc tổng cộng là 10.137 tỉ m
2
với tỉ lệ đất phủ rừng là
23

13,29% chiếm 3% diện tích toàn thế giới. Trong đại gia đình các dân tộc Trung
Quốc, dân tộc Dai ở Vân Nam đã nổi tiếng là thông minh vận dụng thiên nhiên một
cách tinh vi và kinh tế.
Trong thời gian dài thực hành các loại cây, ngời Dai đã tìm ra phơng pháp
nhận diện "tìm ra cái khác trong giống, tìm ra cái giống trong các khác nhau", xây
dựng "hệ thống hai chỉ định để phân loại cây". Họ giáo dục con cháu họ cách sử
dụng các loại cây từ đời này sang đời khác dới dạng các bài thơ trào phúng và các
câu tục ngữ do tổ tiên để lại. Ví dụ khi thu hoạch tre, độ dài nhất có thể cắt đốn đi
nên ngắn hơn 25% tổng độ dài, những câu tục ngữ "Đốn tre chừa lại búp non". Sử
dụng tài nguyên thực vật một cách thích hợp, bền vững trong thời gian dài, dân tộc
Dai đã hình thành nền văn minh canh tác riêng của họ. Ngời Dai đã hiểu ra lợi ích
của việc bảo vệ rừng: "không có rừng thì không có nớc, không có nớc thì không có
đất, không có đất thì không có thức ăn và không có thức ăn thì không có sự sống" và
"đốn cây làm bạn giầu lên trong thời gian ngắn, nhng những quả đồi trọc làm thế hệ
sau nghèo khổ bần cùng".
Nh vậy đa dạng sinh thái có ảnh hởng đến đa dạng văn hoá, và đa dạng văn
hoá bảo tồn sẽ thúc đẩy đa dạng sinh học.
Nhiều nớc trên thế giới nh
Australia, New Zealand, Canada, Inđônêxia có
những kinh nghiệm trong việc phối hợp giữa Nhà nớc với ngời dân địa phơng
trong quản lý các Vờn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên. ở Inđônêxa có 13 bản
làng ngời dân địa phơng sinh sống ở đó và việc săn bắn cổ truyền của họ vẫn tồn
tại. ở Khu bảo tồn Nerfu ở Zambia Luangua, các cộng đồng dân tộc địa phơng vẫn
đợc quyền thực hiện việc săn bắn truyền thống. ở Vờn quốc gia Sagarmatha tại

sinh sống. Từ 1986 VQG Annapurna tiến hành dự án ACAP (Annapura Consevation
Area Projiect) nhằm đáp ứng yêu cầu về phát triển kinh tế và bảo vệ môi trờng. Dự
án tiến hành các hoạt động dựa trên sự tham gia của nhân dân địa phơng (50% nhân
viên ACAP). Dự án tập trung chủ yếu vào nhân dân địa phơng và coi họ nh là
những ngời hởng thụ dự án. Ngoài ra còn thu hút nhân dân vào các khâu trong quá
trình dự án, từ việc thành lập quy hoạch, kế hoạch đến các quyết định và quá trình
triển khai thực hiện. Thông qua đó dự án thực hiện nguyên tắc bền vững: bền vững về
tài chính của dự án và bền vững về khai thác tài nguyên.

25

Trích đoạn Vai trò hoạt động tập huấn kỹ thuật nông nghiệp Tác dụng của khuyến nông và kỹ thuật đối với nâng cao thu nhập bền vững ở các hộ dân tộc thiểu số vùng đệm VQG Ba Vì Vai trò của các tổ chức trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình dân tộc thiểu số Quan hệ giữa các tổ chức cộng đồng với nâng cao đời sống các hộ dân tộc thiểu số vùng đệm VQG Ba Vì Sản phẩm thị truờng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status