Phần I:
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tất
cả các ngành đều được quan tâm, đầu tư về khoa học kỹ thuật. Đặc biệt là các
ngành thế mạnh của đất nước. Trong đó chăn nuôi là một ngành thế mạnh,
đóng vai trò cung cấp thực phẩm chính phục vụ cuộc sống hằng ngày của
người dân và chiếm một phần lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của đất
nước. Động vật nuôi chủ yếu là gồm trâu, bò, lợn, gà, vịt, động vật thủy sản…
Và chăn nuôi gia cầm là ngành góp một phần không nhỏ trong việc cung cấp
thực phẩm phục vụ cuộc sống hằng ngày cũng như trong xuất khẩu. Theo số
liệu của cục thống kê thì số lượng đàn gia cầm của nước ta đến ngày
01/08/2004 là 218,15 triệu con, sản lượng thịt là 316,41 nghìn tấn, sản lượng
trứng là 3,94 tỷ quả. Dự định trong năm nay 2010 tổng đàn gia cầm là 360
triệu con, sản lượng thịt đạt 600 nghìn tấn và sản lượng trứng là 7,4 tỷ quả.
Trong tổng sản phẩm của ngành chăn nuôi gia cầm thì sản phẩm từ chăn nuôi
gà chiếm tỷ lệ cao. Theo cục chăn nuôi thì chăn nuôi gà chiếm 72-73% trong
tổng đàn gia cầm hằng năm. Điều này cho thấy ngành chăn nuôi gà có vai trò
quyết định sản lượng của ngành chăn nuôi gia cầm cả nước. Tuy nhiên song
song với nó thì ngành chăn nuôi gà phải chịu sự rủi ro rất lớn do dịch bệnh
gây ra. Mà gà là một loài động vật nuôi mắc nhiều loại bệnh nhất so với các
loài vật nuôi khác. Có hàng trăm bệnh đối với gà như Gumbro CRD, Cúm gia
cầm, Newcastle, Thương hàn gà, Cầu trùng gà… Trong các bệnh ở gà thì Cầu
trùng là bệnh do đơn bào ký sinh gây ra, rất dễ xảy ra và có tính lây lan mạnh.
Có rất nhiều loài cầu trùng khác nhau, chúng có sức đề kháng cao với các chất
sát trùng, rất dễ quen thuốc đã gây khó khăn cho việc phòng và trị bệnh. Do
đó mà thiệt hại do cầu trùng gây ra đối với nhành chăn nuôi gà là rất lớn, đặc
1
biệt với các cơ sở chăn nuôi gà tập chung. Với kiểu khí hậu ở nước ta là kiểu
khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều thì càng thuận lợi cho cầu
trùng gây bệnh. Và việc sử dụng thuốc nhiều khi không đem lại hiệu quả.
bệnh cầu trùng ở gia súc như bò, chó, mèo, thỏ (Reichel, J., 1910; Nguyễn
Quang Sức, 1994) và đặc biệt là cầu trùng gia cầm được các nhà khoa học
nghiên cứu từ rất lâu về các mặt: Căn nguyên gây bệnh, đặc điểm dịch tễ,
thuốc phòng trị
2.1. CĂN BỆNH
Gần đây nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu và chú ý đến vấn đề sinh
bệnh học trong bệnh cầu trùng gà. Năm 1863 bệnh cầu trùng gà đã được
nghiên cứu bởi Rivelta, ông đã tìm thấy ở phân gà có 1 loại ký sinh trùng.
Đến năm 1864 Eimeria đã xác định đây là một loại nguyên sinh động vật sinh
sản theo bào tử thuộc lớp Sporozoa bộ Coccida, bộ phụ Eimeria.
Ngày nay, người ta đã xác định được hàng mấy trăm loại cầu trùng ký
sinh không những trong cơ thể động vật có xương sống mà cả động vật không
có xương sống. Sự ký sinh của cầu trùng có tính chất riêng biệt, nghiêm ngặt
trên mỗi ký chủ, thậm chí trên mỗi cơ quan, tế bào nhất định. Tính chuyên
biệt nghiêm ngặt của cầu trùng giống Eimeria biểu hiện không chỉ đối với ký
chủ của chúng mà còn đối với nơi chúng ký sinh, trong cơ thể gia súc. Ví dụ:
E.tenella chỉ sống ở màng niêm mạc manh tràng gà, E.acervulina trong tá
tràng gà.
3
Nhờ khả năng tái sinh sản cao mà cầu trùng ở tất cả các loài, đặc biệt là
những loài có khả năng gây bệnh cao đã làm tổn thương lan tràn niêm mạc
ruột. Từ đó, một số lượng lớn tế bào biểu bì lớp dưới niêm mạc, các mạch
quản thần kinh bị huỷ hoại. Theo Van Donin Backơ (1975) thì các thể bào tử
E.necatrix thoạt đầu phát triển trong tế bào biểu bì rồi xâm nhập sâu vào trong
các mô liên kết dưới niêm mạc, ở đó chúng bị đại thực bào nuốt và mang tới
vị trí phát triển khác xa hơn.
Mặt khác, tính chuyên biệt của cầu trùng còn thể hiện ở chỗ, nếu ký
chủ nuốt phải noãn nang mà noãn nang không thể ký sinh trong ký chủ đó thì
noãn nang không phát triển và gây bệnh được. Như vậy noãn nang sẽ được
thải ra ngoài môi trường, tiếp tục xâm nhập vào ký chủ thích hợp và gây bệnh.
thấy chúng nữa. Đôi khi nang trứng E.tenella được bảo vệ trong manh tràng,
từ đó chúng thải nang trứng ra ngoài môi trường 1 thời gian dài tới 7,5 tháng.
Ở môi trường ngoài, nang trứng E.tenella phát triển khá bền vững, 1 thời gian
dài vẫn giữ được sức sống và khả năng gây bệnh.
E.tenella cư trú chủ yếu ở manh tràng, đây bộ phận của ruột có tầm
quan trọng về mặt sinh lý, chúng gây tổn thương rất nặng bộ phận này. Các
giai đoạn phát triển nội sinh, nhất là các thể phân lập đời II, khi phát triển với
số lượng lớn trong vách ruột sẽ phá huỷ màng niêm mạc gây ra chảy máu.
Dưới lớp niêm mạc, xoang ruột chứa đầy những tế bào biểu bì bị huỷ hoại,
những yếu tố hữu hình của máu và những dạng cầu trùng ở những giai đoạn
phát triển khác nhau. Do tổn thương nhiều đám lớn trong ruột nên chức năng
tiêu hoá bị rối loạn. Màng niêm mạc bị tổn thương là điều kiện để các vi
khuẩn, các độc tố tạo ra khi phân huỷ các chất chứa trong manh tràng xâm
nhập vào cơ thể.
2. E.necatrix (Johnson, 1930).
Là loại cầu trùng có độc lực cao, mức độ phổ biến nhưng khả năng gây
bệnh thấp hơn loài E.tenella. Nang trứng không có màu, hình bầu dục hay
5
hình trứng và không có lỗ noãn nang, ở 1 trong 2 đầu trứng có hạt cực. Độ lớn
nang trứng 13 - 20 x 11,3 - 18,3 µm. Thời gian sinh bào tử dưới 48h. Sau
khoảng 138h - 140h nó xâm nhập vào cơ thể gà. Gà con 2 - 5 tuần tuổi cảm
thụ mạnh nhất với loại cầu trùng này. Thời gian phát bệnh là 12 ngày. Nang
trứng sau 1 lần nhiễm vào cơ thể thì có thể được thải ra 1 thời gian dài hơn.
Quá trình phát triển nội sinh ở phần giữa ruột non và gây ra bệnh cầu trùng ác
tính thể ruột với tỷ lệ chết cao vào ngày thứ 5, thứ 7 sau khi nhiễm bệnh.
3. E.maxima (Tyzzer, 1929).
Thuộc loại cầu trùng có độc lực cao nhưng khả năng gây bệnh thấp hơn
2 loài nêu trên. Nang trứng màu nâu vàng, thường có hình trứng đôi khi có
dạng bầu dục. Vỏ nang trứng hơi sần sùi, ở đầu hẹp có lỗ noãn nang và hạt
cực. Khối nguyên sinh chất trong cầu trùng chưa hình thành bào tử thì có
cầu trùng phát triển nội sinh ở phần đầu ruột non. Qua 96h sau khi nhiễm vào
cơ thể trong các tế bào biểu bì nhung mao thấy có những thể phân lập thành
thục gồm 6 - 24 thể phân loại.
7. E.preacox (Johnson, 1930).
Loài này có độc lực yếu, nang trứng hình bầu dục, không có màu. Khối
nguyên sinh chất có dạng hạt tròn, có nhân ở giữa, hạt cực trông rất rõ, lỗ
noãn nang không có. Kích thước nang trứng thay đổi từ 16,6 - 27,7 x 14,8 -
19,4 µm. Sinh sản bào tử kéo dài 24 - 36h. Phát triển nội sinh tại tế bào biểu
bì lớp niêm mạc phần đầu ruột non.
8. E.hagani (Levine, 1938).
Loài này có độc lực yếu, nang trứng hình bầu dục, không có lỗ noãn,
hạt cực nhìn thấy được trong 1 - 2 ngày. Sau khi sinh sản bào tử, độ lớn nang
trứng từ 15,8 - 20,9 x 14,3 - 19,5 µm. Phát triển nội sinh trong tá tràng và
nhiễm vào tế bào biểu bì. Khi biến động noãn nang mạnh, niêm mạc có thể
tổn thương sâu hơn. Các cầu trùng sau khi nhiễm 1 lần vào cơ thể phải 8 ngày
mới được thải ra.
9. E.mivati (Edgar và Seibold, 1964).
Nang trứng hình trứng hay bầu dục, chúng không có màu. Ở 1 trong 2
đầu nang trứng có lỗ noãn, bên cạnh còn thấy cả hai cực. Độ lớn nang trứng
thay đổi từ 10,7 - 20 x 10,1 - 15,3 µm. Sinh sản bào tử tiến triển trong 18 -
21h. Thời kỳ phát triển nội sinh của cầu trùng gây tổn thương tế bào biểu bì
nhung mao hay những khe hốc trên suốt phần ruột non. Thời kỳ phát bệnh là
12 ngày.
7
Bảng 2.1. Hình thái và đặc tích sinh học của các loài cầu trùng gà
Cầu trùng
Noãn nang Thời gian
hình
thành
Sporozoit
2.2. VÒNG ĐỜI PHÁT TRIỂN CỦA CẦU TRÙNG
Đây là cơ sở khoa học cần thiết giúp ta đưa ra biện pháp phòng bệnh
hiệu quả nhất nhằm hạn chế mức thiệt hại tối thiểu do bệnh gây ra, đồng thời
tránh phát tán mầm bệnh.
Sự lưu truyền rộng khắp của cầu trùng là nhờ vào cấu trúc và vòng đời
phức tạp cũng như khả năng thích nghi nhanh để tiếp tục phát triển, tồn tại lâu
trong thiên nhiên.
8
Tuy đã được nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu và làm sáng tỏ nhưng cầu
trùng gây bệnh rất phức tạp. Theo V.Tstran (1986), Kassait (1988) và Phan
lục thì thấy rằng vòng đời của cầu trùng giống Eimeria đặc trưng bằng 3 giai
đoạn phát triển:
- Giai đoạn sinh sản vô tính (Schigony)
- Giai đoạn sinh sản hữu tính (Gametogny)
- Giai đoạn sinh sản bào tử (Sporogony)
Hai giai đoạn đầu tiến hành trong cơ thể ký chủ hay còn gọi là giai
đoạn nội sinh (Endogen). Giai đoạn 3 (giai đoạn bào tử) diễn ra ở ngoài thiên
nhiên còn gọi là giai đoạn ngoại sinh (Exogen).
Phương thức sinh sản vô tính diễn ra khi gà ăn phải thức ăn có lẫn noãn
nang cầu trùng đa thành thục (đã hình thành thể bào tử Sporozoit), noãn nang
vào đường tiêu hoá. Theo Pugatch (1968), nguyên nhân cơ giới và men
trypsin đóng vai trò quan trọng phá vỡ vỏ noãn nang giải phóng ra các bào tử
(Sporozoit). Sporozoit chui vào tế bào biểu bì niêm mạc ruột phát triển về
khối lượng và hình thành dạng bầu dục, tròn rồi biến thành các thể phân lập
(Schizont). Nhân của mỗi thể phân lập đó phân chia nhiều lần tạo thành tế bào
nhiều nhân (thể phân lập đời I). Bên trong thể phân lập đó hình thành những
dạng ký sinh trùng đầu có nhân gọi là các thể phân đoạn (Merozoit).
Với sự hình thành các thể phân đoạn, thể phân lập được chia nhỏ ra và
phá huỷ vách biểu bì tế bào ruột. Các thể phân đoạn giải phóng ra 1 lần nữa
lại xâm nhập vào các tế bào biểu bì ruột tạo ra các thể phân lập đời II, III. Bởi
noãn nang thải ra ngoài có 1 đỉnh cao nhất sau đó giảm xuống, nếu gà không
tái nhiễm thì cũng không phát hiện được nữa.
Theo Williams, R.B (1991), noãn nang ở môi trường ngoài khi có
những điều kiện nhất định (nhiệt độ, độ ẩm, oxy) tế bào chất của nang trứng
đầy lên thành dạng hình cầu và bắt đầu phân chia thành 4 nguyên bào tử,
xung quanh mỗi nguyên bào tử hình thành màng và nguyên bào tử biến thành
túi bào tử. Bên trong túi bào tử hình thành những lưỡi liềm, tức là các thể bào
10
tử và túi bào tử biến thành bào tử. Lúc này, nang trứng (Oocyst) được gọi là
nang trứng thành thục. Tại đây nó kết thúc giai đoạn sinh sản bào tử. Khi
noãn nang (Oocysyt) vào cơ thể ký chủ qua thức ăn, nước uống, dưới tác
dụng của dịch vị tiêu hoá vỏ noãn nang được vỡ và giải phóng ra các bào tử
thể, chúng xâm nhập vào các tế bào biểu bì ruột…và rồi chu kỳ sinh sản cứ
tiếp tục diễn biến.
Sự phát triển của noãn nang trứng ở môi trường bên ngoài phụ thuộc
vào các yếu tố ngoại cảnh nhất là điều kiện nhiệt độ, độ ẩm. Cho nên, trong
thời gian phát triển của noãn nang các loại cầu trùng khác nhau thì thời gian
sinh trưởng bào tử cũng khác nhau.
Thời gian xâm nhập của cầu trùng diễn ra rất nhanh. Ở Mỹ, bằng thí
nghiệm của Mokher (1939) trên E.acervullina cho thấy là 1giờ 30 phút sau
khi vật chủ nuốt noãn nang vào, các bào tử được giải phóng ra trong tá tràng,
54 giờ sau khi nhiễm chúng đã có trong tế bào biểu bì ruột, sau đó 16 giờ
chúng bắt đầu nhân lên. Ba ngày sau khi vật chủ nuốt phải noãn nang, thế hệ
thứ II đã xâm nhập vào trong tế bào biểu bì mới.
Orlov (liên Xô, 1970), Davies (Anh, 1963), Fellerdy (Hungari, 1965)
cho rằng: giai đoạn nội sinh là 7 ngày, còn giai đoạn ngoại sinh là 48 giờ.
Vì vậy trong công tác phòng trị phải đặc biệt quan tâm cắt đứt vòng đời phát
triển của cầu trùng để giảm thiệt hại do bệnh gây nên.
11
Hình 2.1. Vòng đời phát triển của cầu trùng giống Eimeria
ngột cũng là điều kiện thuận lợi cho cầu trùng phát triển.
Bệnh cầu trùng thường phát triển vào mùa xuân và mùa hè. Số liệu điểu tra
của bộ môn Thú y thuộc trung tâm nghiên cứu gia cầm Trung Ương năm
1986 - 1988 cho thấy tỷ lệ mắc cấu trùng qua các mùa là: Xuân 30,6%, hè
12,14%, đông 7,25%.
Tuy nhiên theo Bạch Mạnh Điều (2004) cho rằng sự sai khác giữa các
mùa là không rõ, luôn có tỷ lệ gần như nhau, tỷ lệ nhiễm cầu trùng gà ở mùa
thu (26,07%) thấp hơn 3 mùa kia (P<0,05). Như vậy, trong những thời gian
này cần tập trung cao độ các khả năng phòng bệnh cầu trùng cho đàn gà.
Theo Phạm Văn Khuê và Phan Văn Lục (1996) thì nguồn bệnh là
những gia cầm ốm hoặc những gia cầm mắc bệnh ở thể ẩn. Từ quan điểm
đánh giá cao khả năng truyền lây từ nguồn bệnh là gà mắc bệnh ở thể ẩn (ở gà
lớn) là nguồn bệnh tiềm tàng nguy hiểm. Tác giả Lê Văn Năm (2006) nhấn
mạnh: Tuyệt đối không nuôi chung gà con với gà lớn.
Sự truyền lây thông qua thức ăn, nước uống, máng ăn, máng uống, chất
độn chuồng, độ dày của chất độn chuồng, các dụng cụ chăn nuôi, mật độ
13
trong không gian chuồng nuôi, độ ẩm của nền chuồng, độ ẩm của không khí,
thức ăn không đủ chất dinh dưỡng…đều ảnh hưởng lớn trong lây lan bệnh cầu
trùng (Peter Long, Leid W. Wedcolm, 1982).
Đường nhiễm bệnh là do gà nuốt phải noãn nang cầu trùng có sức gây
nhiễm.
2.3.2. Sức đề kháng
Sở dĩ cầu trùng phổ biến rộng rãi là do sức đề kháng của cầu trùng rất
cao. Theo Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996) thì khi noãn nang bị hút vào
trong bụng ruồi vẫn còn khả năng gây bệnh trong thời gian 24 giờ. Trong đất
ẩm cầu trùng có thể sống được 4 - 5 năm (Charles, 1967). Noãn nang vẫn tiếp
tục sinh sản bào tử sau nhiều ngày tiếp xúc với dung dịch KMnO
4
0,1%,
thanh và đường huyết giảm, một số enzyme bị giảm hoạt tính gây rối loạn quá
trình hấp thu các acide amin, giảm khả năng sinh trưởng và phát triển của gà.
Tế bào ruột bị phá huỷ gây rối loạn chức năng hấp thu và vận động của ruột
dẫn tới gà tiêu chảy, mất nước, mất cân bằng điện giải. Nếu mất nước 10-15%
gà sẽ chết.
Hệ thống thần kinh trung ương bị độc tố tác động gây mệt mỏi, gà liệt
nhẹ hai cánh và chân, vận động loạng choạng, mất cân bằng.
Các tế bào niêm mạc ruột sau khi bị phá huỷ tạo điều kiện thuận lợi
cho các hệ vi sinh vật khác nhau phát triển và xâm nhập vào cơ thể làm cho
ký chủ đã ốm yếu lại càng lắm bệnh cùng một lúc. Điều này khiến cho triệu
chứng lâm sàng và bệnh tích càng phức tạp hơn.
2.5.TRIỆU CHỨNG
Bệnh thường xảy ra ở những đàn gà 10-90 ngày tuổi, nhưng nặng nhất
là ở gà 18-45 ngày tuổi (Lê Văn Năm, 2006).
Thời gian nung bệnh là 4-7 ngày, phụ thuộc vào chủng loại cầu trùng,
nơi khu trú và mức độ nhiễm bệnh, số lượng căn nguyên xâm nhập vào cơ thể
và tình trạng chung sức khoẻ đàn gà.
Bệnh có 3 thể biểu hiện: Cấp tính, mãn tính và thể mang trùng (không
có triệu chứng lâm sàng ).
2.5.1. Thể cấp tính
Bệnh chủ yếu xảy ra ở gà con. Thời gian phát bệnh nhanh, những triệu
chứng lâm sàng điển hình là: Gà ủ rũ, lười đi lại, nằm hoặc đứng một chỗ. Khi
gà đứng thì đầu gà thường vẹo sang một bên, mắt nhắm nghiền, hai cánh sã
xuống nền chuồng, lông xù ( khoác áo tơi). Gà kém ăn hoặc bỏ ăn nhưng lại
uống nước nhiều do khát nước. Lúc đầu mới phát bệnh gà ỉa khó, có biểu hiện
táo bón, sau mấy tiếng đồng hồ thì gà ỉa chảy toàn nước. Phân sống, lúc đầu
có nhày màu nâu vàng sau chuyển thành sáp nâu, cuối cùng lẫn máu. Đặc biệt
15
nếu gà nhiễm E.tenella thì ở một số gà hậu môn chảy ra máu tươi. Lông xung
quanh lỗ huyệt dính phân và máu. Đôi khi còn thấy gà có triệu chứng thần
78
thì cả ruột non phình rất to,
chứa nhiều hơi, phân lẫn máu. Sau khi mổ bụng gà ra và quan sát bên ngoài
ruột thì thấy có vô số nốt đỏ, nốt trắng. Các nốt đỏ thì là điểm xuất huyết còn
nốt trắng là tụ điểm tăng sinh của tế bào bị nhiễm các thể phân lập và có rất
nhiều căn nguyên tập trung tại đây.
Khi mổ những đoạn ruột nói trên thì thấy: Phân gà sống lẫn máu hoặc
phân gà và niêm mạc ruột có màu nâu nhạt, đặc biệt rõ nhất là ở ruột già. Các
biến đổi khác của cơ thể tuỳ thuộc vào tình trạng còi cọc và thiếu máu của gà.
2.7. CHẨN ĐOÁN
Chẩn đoán bệnh cầu trùng phải kết hợp nhiều mặt. Cần phân tích và
chú ý đến dịch tễ, triệu chứng và bệnh tích. Để chẩn đoán chính xác nhất thì
phải dựa vào kết quả xét nghiệm phân trong phòng thí nghiệm.
- Dịch tễ: Gà bị ốm thường sau 10-14 ngày tuổi, bệnh tích nặng nhất từ
18-45 ngày tuổi , từ 45-90 ngày tuổi luôn ở thể mãn tính, sau 90 ngày tuổi là
thể mang trùng.
- Lâm sàng: Với những triệu chứng lâm sàng như đã mô tả ở trên cho
phép ta có cơ sở nghi là bệnh cầu trùng.
- Mổ khám bệnh tích: Phụ thuộc vào chủng căn nguyên và vị trí khu trú
của chúng. Khi mổ khám ta thấy rất rõ những biến đổi về niêm mạc và thành
ruột ở những vùng ruột, đoạn ruột khác nhau. Ruột mù phình to chứa nhiều
hơi, viêm xuất huyết. Phân lẫn máu, các tế bào niêm mạc ruột bị hoại tử,
thành ruột thừa và ruột non sưng dày lên, có rất nhiều nốt xuất huyết hoặc
từng dải xuất huyết dọc theo đường ruột. đôi khi thấy trong ruột có dịch nhày
fibrin màu vàng nâu và một số nốt sần màu trắng đục. Các cơ quan khác
không có gì biến đổi lớn ngoài các biểu hiện thiếu máu, cơ thể khô, còi cọc.
17
- Xét nghiệm phân: Sử dụng phương pháp này để khẳng định và phân
loại chủng cầu trùng. Có rất nhiều phương pháp xét nghiệm nhưng thông
dụng nhất là xét nghiệm bằng phương pháp Darling và phương pháp
18
6. Nhóm Chinolin và các dẫn xuất gồm: Buquinolat (Antagonal),
Decoquinat, Nequinat (Methylbenzoquat).
7. Nhóm Pyrimidin và các dẫn xuất gồm: Rigecoccin (Clopydol,
Coyden, Methylclopydol, Methylchlopyndol ).
Khi Rigecoccin kết hợp với Chlotetracyclin thì tác dụng tốt hơn rất nhiều.
8. Nhóm Guanidin và các dẫn xuất: Đại diện là Robenidin
(Robensiden).
9. Nhóm Imidazol và các dẫn xuất: Đại diện là Glycamid.
10. Nhóm Sulfonamid
Nhóm này rất phổ biến và được sử dụng rộng rãi: Sulfathiazol,
Sulfadimethoxin, Sulfadimedin, Sulfaquinoxalin, Sulfaguanidin,
Sulfachlorpyridazin, Sulfachlorpyrazin (Sulfaclozin)
11. Nhóm kháng sinh - Antibiotic gồm: Salinomycin, Monenzin,
Chlortetracyclin, Tetracyclin, Penicillin G ,Semduramycin
*Cơ chế tác động của thuốc:
Mỗi nhóm thuốc nói chung và mỗi loại thuốc nói riêng có tác dụng kìm
hãm, tiêu diệt cầu trùng theo những cơ chế riêng biệt. Những thuốc như
Amprolium thì ức chế hoạt động chuyển thiamine (Vitamin B
1
); Dclazuril:
Phá vỡ quá trình hình thành vỏ tế bào; Lerbek: Ức chế sự hô hấp của ty thể
(Điểm đặc biệt của cầu trùng); Nicarbazin: Ức chế oxidative phosphorylation;
Robenidin:Ức chế phân chia nhân (Schizont); Sulfonamid: Ức chế sinh tổng
hợp acid folic; Ionophores: Điều hoà vận chuyển cation qua màng, phá vỡ cân
bằng áp lực thẩm thấu.
- Thuốc có cơ chế cạnh tranh thiamine (Vitamin B
1
):
Đó là thuốc Amprolium diệt cầu trùng bằng cơ chế cạnh tranh
không mở xoắn, không tổng hợp được RNA, trình tự tổng hợp DNA của cầu
20
trùng bị ức chế, rối loạn. Sự ngăn cản này làm cho di truyền sai lệch, tạo ra
những protein di chất, không dùng cho tế bào và cầu trùng tự huỷ diệt. Mặt
khác, thuốc còn ức chế Acetyl - Coenzim A làm ảnh hưởng đến chu trình
Krep trong cầu trùng.
- Thuốc có cơ chế ngăn trở quá trình trao đổi năng lượng của cầu trùng
Đó là những thuốc Clopidol, Methylclopidol, Coyden, Rigecocein.
Thuốc có tác động trực tiếp lên cầu trùng bằng cách phong bế hệ thống enzim
có nhóm –SH biến dưỡng glucoza của cầu trùng làm cho cầu trùng không thể
phát triển được ở tất cả các giai đoạn. Ngoài ra, thuốc còn kết hợp mạnh với
hệ thống vận chuyển điện tử trong sự phân chia bào tử, do đó cầu trùng không
có năng lượng cho quá trình phân chia bào tử.
Hiện nay, ở nước ta có một số loại thuốc chống bệnh cầu trùng mang
lại hiệu quả tốt như: Coccistop 2000 ( Hãng Intervet, Hà Lan), Esb
3
(Hãng
Ciba, Thuỵ Sĩ), Coccibio (Pháp), Dnaprol (Hãng Jakarta, Indonesia), Cygro
(Hãng Bayer, Đức), Vetpro 60% (Hãng Cipla, Ấn Độ), Coxymax, Baycox
2.5% (Hãng Bayer, Đức) Ngoài ra, các Công ty trong nước cũng đã sản xuất
được thuốc phòng trị bệnh cầu trùng khá tốt như: Anticoccid (Công ty vật tư
Trung ương), Coccistop - Esb3, Han-Eba30% (Công ty Hanvet), Bio-Anticoc
(Công ty Bio- Pharmachemie)…
* Một số phác đồ điều trị bệnh cầu trùng:
Cách 1:
+ Vinacoc. ACB (Cocci-Stopo-ESB3): 20g
+ Vitamin K 1%: 10ml
Thuốc pha vào 15 lít nước cho 100kg thể trọng gà/ngày, 3-5 ngày liền.
Cách 2:
+ Han Eba 30% ( hoặc Bio- Coccis 33%): 20g
chim bồ câu, chim sẻ
Không nuôi chung gà con với gà lớn và gà đẻ trong cùng một chuồng
hay cùng một khu nuôi. Thay đổi chất độn chuồng thường xuyên, sát trùng
môi trường bên ngoài đều đặn.
Phải cách ly triệt để những gà bị bệnh. Xác gà chết phải nhặt ra ngay
khỏi chuồng, mổ xác chúng trong những khu quy định riêng.
22
Tăng cường khả năng kháng bệnh cho gà bằng cách chăm sóc, nuôi
dưỡng tốt, đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật chăn nuôi.
2.8.2.2. Phòng bệnh bằng thuốc đặc hiệu
Đây là phương pháp kinh điển nhưng có hiệu quả. Trong khoảng
10 năm trở lại đây ngành hoá dược thú y đã có những tiến bộ, có rất
nhiều loại thuốc chống cầu trùng mới được ra đời và khả năng phòng
bệnh cũng rất tốt như: Baycox 2,5%, Esb
3
, Coccistop 2000, Bio-
Anticoc,
Vì gà khi ở các giai đoạn khác nhau thì khả năng kháng được các
yếu tố gây bệnh là khác nhau nên ta phải dùng thuốc phòng theo giai
đoạn tuổi của gà mới đem lại hiệu quả cao trong phòng bệnh cho gà.
* Giai đoạn từ 7- 45 ngày tuổi
- Cần dùng thuốc phòng cầu trùng khi gà đạt 7 ngày tuổi trở lên.
- Giai đoạn này gà thường mắc một số bệnh do nhiễm khuẩn như
Bạch lỵ, CRD,… nên phải dùng thuốc phòng cầu trùng đồng thời có tác
dụng diệt khuẩn cao. Các loại thuốc này thường chứa Sulfachlozin như:
Sulfaquinoxalin, sulfadimedin, sulfadimethoxin, sulfaguanidin,…
- Giai đoạn này dùng thuốc theo liều phòng 3 ngày liên tục rồi
nghỉ 3 ngày, cho uống như vậy đến 45 ngày tuổi.
- Trên thị trường có một số thuốc sử dụng phòng bệnh cho giai
đoạn này rất tốt như: Han Eba30% ( thành phần là Sulfaquinoxalin) do
cớ sở chăn nuôi gà và có thể lặp lại khi gà 15-18 ngày tuổi.
24
Phần III:
ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - NGUYÊN LIỆU
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Hai giống gà thịt Sasso lai Lương Phượng và Mía lai Lương Phượng
(lứa tuổi từ 1-8 tuần tuổi) nuôi tại trại gà của công ty TNHH Song Thái.
Trong đó: Gà Sasso lai Lương phượng là con lai giữa Trống Sasso và
Mái Lương Phượng, còn gà Mía lai Lương Phượng là con lai giữa Trống Mía
và Mái Lương Phượng.
Trống Sasso, Trống Mía và Mái Lương Phượng đều được nuôi tại trại
gà của công ty TNHH Song Thái.
3.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
+ Nghiên cứu tình hình nhiễm cầu trùng trên hai giống gà nuôi thịt
Sasso lai Lương Phượng và Mía lai Lương Phượng tại trại gà của công ty
TNHH Song Thái.
- Nghiên cứu tình hình nhiễm cầu trùng ở đàn gà Sasso lai Lương
Phượng từ 1 - 8 tuần tuổi.
- Nghiên cứu tình hình nhiễm cầu trùng ở đàn gà Mía lai Lương
Phượng từ 1 - 8 tuần tuổi.
+ Quan sát triệu chứng, bệnh tích của gà bị bệnh cầu trùng.
+ Xác định hiệu lực phòng bệnh cầu trùng của vaccine Coccivac - D.
+ Xác định hiệu quả điều trị bằng một số thuốc khác nhau.
3.3. VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
+ Các dụng cụ, máy móc, trang thiết bị và hoá chất cần thiết cho các
nội dung nghiên cứu.
25