BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH DỊCH
BỆNH THUỶ SẢN TRÊN ĐỊA
BÀN TP ĐỒNG HỚI
MỤC LỤC
C. KẾT LUẬN, GIẢI PHÁP 21
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ: ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH DỊCH BỆNH
THUỶ SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TP ĐỒNG HỚI
A. MỞ ĐẦU
Ở nước ta, nuôi trồng thuỷ sản được xem là một ngành kinh tế mũi
nhọn đóng góp một phần qua trọng vào GDP của đất nước. Trong đó Quảng
Bình là một tỉnh có tiềm năng rất lớn để phát triển nghàn với đối tuơng nuôi
khá phong phú như: Tom thẻ chân trắng, tôm sú, cua…và các đối tượng nuôi
nước ngọt như: Cá trắm cỏ, coa mè, cá ro phi, cá trê lai, cá chim…
Hiệu quả kinh tế của nghề nuôi thuỷ sản mang lại hiệu quả khá khả
quan, một số hộ đã xoá đói giảm nghèo và vươn lên làm giàu, ngành cũng đã
có sự đầu tư của các nhà đầu tư lớn, ngành không còn ở mức độ hộ gia đình
mà có những trang trại nuôi lớn.
Nhưng những năm gần đây do môi truờng thay đổi, phát triển nghề nuôi
thiếu quy hoạch, con giống không qua kiểm dịch… làm cho tình hình dịch
bệnh gia tăng ảnh hưởng đến hiệu quả của người nuôi.
Xuất phát từ tầm quan trọng của việc nghiên cứu các loại bệnh thường xảy
ra trên các đối tượng thủy sản nuôi chúng tôi đã lựa chọn và nghiên cứu
chuyên đề: “Điều tra tình hình dịch bệnh trên các đối tượng nuôi thủy sản
ở địa bàn Đồng Hới-Quảng Bình".
2
B. NỘI DUNG
I. Tình nuôi thuỷ sản ở tỉnh quảng bình
Đến nay, tổng diện tích nuôi thủy sản mặn lợ của toàn tỉnh Quảng
Bình là 1.622 ha, với sản lượng nuôi 3.320 tấn (trong đó tôm nuôi chiếm
1. Bệnh trên tôm thẻ chân trắng
1.1. Bệnh đốm trắng ( White spot disease )
a) Những hiểu biết chung về bệnh đốm trắng
* Bệnh đốm trắng do virus
Tác nhân gây bệnh:
Tác nhân gây bệnh đốm trắng là virus hội chứng đốm trắng (WSSV) hoặc
virus đốm trắng (WSV), loại virus có DNA mạch đôi (dsDNA).
- Về đặc điểm của nhóm virus này là: Hình que, chiều dài từ 250 – 380 nm,
chiều ngang từ 80 – 120 nm
- Về cấu tạo cơ thể gồm có 3 phần là: Nhân dsDNA, vỏ (capsid) và màng vỏ
( glucid, lipid, protein, men ).Hình 3: Cấu tạo của virus đốm trắng
Dấu hiệu bệnh lý
4
- Tôm thẻ chân trắng bị bệnh đốm trắng thường thể hiện dấu hiệu khả năng
tiêu thụ thức ăn giảm sút rõ ràng, cá biệt có trường hợp tăng cường độ bắt
mồi hơn bình thường, sau vài ngày mới có dấu hiệu bỏ ăn.
- Tôm bệnh thường dạt bờ, bơi lờ đờ với dấu hiệu đặc trưng là xuất hiện các
đốm trắng tròn dưới lớp vỏ kitin, đặc biệt là các đốm trắng tập trung ở giáp
đầu ngực và đốt bụng cùng. Những đốm trắng thường có đường kính từ 0.2
– 2 mm
- Tôm bệnh có thể chuyển sang màu hồng đỏ. Hiện tượng chết có thể xảy ra
ngay sau đó, tỷ lệ chết cao, có thể tới 90 – 100% trong vòng 3 – 7 ngày.
- Thường liên quan đến sự xuất hiện của bệnh đỏ thân.
- Những dấu hiệu khác: đầu tiên thấy tôm ở tầng mặt và dạt vào bờ, bỏ ăn,
hoạt động kém, các phần phụ bị tổn thương, nắp mang phồng lên và vỏ có
nhiều sinh vật bám.
Hình 4: Tôm bị bệnh đốm trắng, vỏ đầu ngực thấy rõ các đốm trắng
- Do các hộ nuôi không tuân thủ lịch thời vụ nên tôm dễ bị bệnh và vụ chính
phải hứng chịu bệnh tồn lưu trong môi trường. Trong khi điều tra chúng tôi
thấy một số hộ nuôi đang xuất bán tôm, một số hộ khác mới thả giống, còn
một số hộ nữa thì đang cải tạo ao. Nói chung, ở đây không có sự thống nhất
giữa các hộ nuôi. Đây cũng là nguyên nhân làm cho dịch bệnh dễ bùng phát.
- Do công tác cải tạo ao sau khi tôm bị bệnh chưa đảm bảo nên nhiều hộ
nuôi có tôm bị bệnh liên tục giữa các vụ nuôi.
Biện pháp phòng bệnh
+ Đối với nguồn bệnh:
- Sử dụng tôm bố mẹ không mang mầm bệnh trong sinh sản nhân tạo.
- Chọn đàn giống không nhiễm virus bằng kỹ thuật PCR.
- Hạn chế tối đa không để các loài giáp xác hoang dã nhiễm bệnh trở thành
nguồn bệnh bằng cách khi có ao nuôi tôm bị bệnh không xả nước chưa xử lý
ra kênh làm ô nhiễm nguồn nước. Nước ao khi bị nhiễm WSD cần dùng
chlorine > 70 ppm để xử lý trước khi thải ra môi trường.
- Khi có dấu hiệu bị bệnh phải vớt ngay những con lờ đờ, tấp mé và những
con chết ra khỏi ao để tránh mầm bệnh lây lan.
6
+ Đối với nhân tố trung gian truyền bệnh:
- Nhất thiết phải có ao lắng, nước được xử lý để ít nhất 5 ngày. Xử lý nước
có thể dùng formol 30 – 50 ppm, clorine 30 – 60 ppm để làm mất khả năng
cảm nhiễm tự do của virus trong môi trường nước.
Công nhân, dụng cụ cũng có thể là nhân tố trung gian truyền bệnh.
+ Đối với động vật cảm thụ:
Tăng sức đề kháng cho tôm đặc biệt giai đoạn 1 – 2 tháng sau khi thả nuôi
bằng cách:
Quản lý tốt môi trường nuôi, quản lý tốt thức ăn, bổ sung vitamin C và
khoáng vi lượng
Biện pháp trị bệnh
Đến nay vẫn chưa có thuốc đặc hiệu để điều trị bệnh này. Một số nghiên cứu
chết từ 50-60 % gây thiệt hại đối với người nuôi.
* Bệnh do vi khuẩn
- Mùa vụ xuất hiện: Sau 30-45 ngày
- Tỷ lệ cảm nhiễm: 35-40 %
- Tỷ lệ chết: 20-30%
Trái: Đốm trắng do vi khuẩn Phải: Đốm trắng do virus
Hình 5: Sự khác biệt giữa đốm trắng do vi khuẩn và đốm trắng do virus
1.2 Bệnh đỏ thân
a) Những hiểu biết chung về bệnh đỏ thân
8
Tác nhân gây bệnh
Bệnh do virus gây hoại tử cơ (infectious my one crosis virus IMNV)
Dấu hiệu bệnh lý
- Dấu hiệu đặc trưng là tôm bị đục phần cơ đuôi sau đó lan ra toàn thân.
- Tôm mắc bệnh lúc đầu có dấu hiệu giảm ăn, nổi lên mặt nước. Khi bị
nhiễm nặng tôm bơi lờ đờ, dạt vào bờ rồi chết. Tỷ lệ tôm chết có thể lên tới
40 – 60% trong ao nhiễm, thậm chí cao hơn.
- Diễn biến của bệnh thường chậm, hiếm khi tôm chết hàng loạt. Lúc mới bị
bệnh tôm chết rải rác vài con, sau đó chết nhiều hơn.
- Mùa vụ xuất hiện: Bệnh này thường phát sinh khi nhiệt độ giảm thấp.
Nguyên nhân và biện pháp phòng, trị bệnh
Nguyên nhân
Nguyên nhân dẫn đến dịch bệnh đỏ thân cũng tương tự như đối với bệnh
đốm trắng.
Biện pháp phòng bệnh
- Sử dụng con giống và tôm bố mẹ có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, có qua
kiểm dịch và không mang mầm bệnh.
- Quản lý tốt các yếu tố môi trường, tránh hiện tượng để tôm bị sốc. Thường
xuyên đo các yếu tố như: độ mặn, pH, DO, NH
3
- Tôm có hiện tượng bị đóng rong do các sinh vật bám như động vật đơn
bào, vi khuẩn dạng sợi, nấm bám trên mang và bề mặt cơ thể của tôm. Các
sinh vật này tạo điều kiện cho các chất hữu cơ bám và làm mang tôm chuyển
màu.
- Khi mang tôm bị nhiễm vi khuẩn hoặc nhiễm nấm Fusarium cũng làm xuất
hiện các sắc tố màu đen.
- Điều kiện pH của ao nuôi thấp, có nhiều ion kim loại nặng như sắt (Fe
3+
),
nhôm (Al
3+
), muối của các kim loại này kết tụ trên mang tôm làm cho mang
chuyển màu đen.
Dấu hiệu bệnh lý
- Lúc mới bị bệnh thì dấu hiệu không rõ ràng. Nhưng khi bị nặng tôm giảm
ăn, quan sát trên mang tôm thấy có màu đen, có nhiều sinh vật bám bịt đầy
mang tôm.
- Ngoài ra còn có các dấu hiệu khác như: Tôm có hiện tượng nổi đầu, bơi lờ
đờ…
Nguyên nhân và biện pháp phòng, trị bệnh
10
Nguyên nhân
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tôm bị bệnh đen mang như:
- Do nguồn nước lấy vào ao có mang mầm bệnh.
- Do môi trường ao nuôi bị ô nhiễm tạo điều kiện cho vi khuẩn gây bệnh đen
mang phát triển.
- Do điều kiện thời tiết, khí hậu có nhiều điểm thuận lợi cho mầm bệnh sinh
trưởng và phát triển tốt.
- Do quá trình chăm sóc không đảm bảo, tôm yếu hoặc bị tổn thương tạo
điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập và gây bệnh.
lệ chết từ 2-5%.
1.4 Bệnh mòn đuôi, cụt râu
a) Những hiểu biết chung về bệnh mòn đuôi, cụt râu
Tác nhân gây bệnh
Bệnh mòn đuôi, cụt râu do vi khuẩn sống ký sinh trên tôm có khả năng ăn
mòn lớp vỏ kitin gây ra.
Dấu hiệu bệnh lý
- Cũng giống như bệnh đen mang, lúc mới bị bệnh thường có dấu hiệu
không rõ ràng nên nếu không quan sát kỹ rất khó phát hiện bệnh.
- Khi bị nhiễm nặng, tôm có dấu hiệu giảm ăn, nổi lên mặt nước. Quan sát
tôm bệnh thấy râu và đuôi bị ăn mòn.
Nguyên nhân và biện pháp phòng, trị bệnh
Nguyên nhân
Tương tự như bệnh đen mang
Biện pháp phòng bệnh
- Xử lý nước trước khi cấp vào ao nuôi.
- Quản lý tốt môi trường ao nuôi, tránh hiện tượng nước ao bị ô nhiễm tạo
điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn gây bệnh phát triển.
Thường xuyên syphon đáy để loại bỏ thức ăn dư và chất thải của tôm ra
khỏi ao nuôi nhằm hạn chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh.
- Định kỳ sử dụng men vi sinh.
- Cho tôm ăn đầy đủ chất dinh dưỡng, có thể trộn thêm vitamin C để tăng
sức đề kháng cho tôm nuôi.
Biện pháp trị bệnh
Khi phát hiện tôm bị nhiễm bệnh cần tiến hành khoanh vùng không để
lây lan sang ao khác, đồng thời phải thay nước với lượng thích hợp. Sau đó
đánh thuốc diệt khuẩn (dòng Cl
2
hoặc dòng I
2
virus đốm trắng, đầu vàng, MBV
13
- Bệnh đốm trắng: Nhìn chung ở các ao được khảo sát, tôm chết do virus
đốm trắng tăng hơn 8 lần so với tháng nuôi đầu, có thể phân làm 3: nhóm ao
tôm chết do virus đốm trắng, nhóm ao tôm chết do virus đốm trắng và có thể
cộng hưởng do virus đầu vàng, nhóm ao tôm chết do hội chứng đỏ thân đốm
trắng. Tôm chết có độ tuổi từ 36-56 ngày nuôi, nhiều nhất là ở 40-50 ngày
nuôi.
- Bệnh MBV: Nhìn chung số trường hợp tôm bị nhiễm MBV giảm rõ rệt
(<24%), trong khi tỷ lệ và cường độ nhiễm MBV không khác biệt lắm so với
tháng nuôi đầu. Không ghi nhận được trường hợp tôm chết do MBV gây
nên.
- Bệnh nhiễm khuẩn: Tôm bị nhiễm khuẩn được ghi nhận khá nhiều trong
giai đoạn này, tần suất xuất hiện > 50%, trong đó hầu hết các trường hợp đều
đi kèm với mảng bám hoặc đóng rong. Có 4 trường hợp tôm bị nhiễm khuẩn
và đỏ thân, các trường hợp này tôm đều nhiễm virus đốm trắng và bộc phát
bệnh.
- Bệnh hoại tử mắt: Bệnh này làm cho tôm mất khả năng định vị phương
hướng, chúng bơi lờ đờ sát mặt nước, không ăn được và chết. Bệnh xuất
hiện ít, lẻ tẻ, số lượng tôm bị bệnh chỉ vài con.
- Bệnh mềm vỏ: Các trường hợp tôm bị mềm vỏ xảy ra ở tôm nuôi trong ao
nước ngọt, độ kiềm và độ mặn rất thấp, tần suất xuất hiện khá thấp (<5%).
- Bệnh đỏ thân kèm theo sự biến đổi bất thường của khối gan tụy đã được
ghi nhận, tần suất xuất hiện khá thấp (<5%), các trường hợp này đều bị bộc
phát bệnh đốm trắng một thời gian ngắn sau đó.
c) Bệnh thường gặp ở tháng nuôi thứ ba
- Bệnh đóng rong: Hầu hết các ao (95%) đều ghi nhận trường hợp có tôm bị
mảng bám, một số nhỏ trường hợp tôm bị đóng rong và ký sinh trùng. Tuy
nhiên số lượng tôm bị bệnh này không lớn, đa số chỉ xuất hiện rải rác tần
suất xuất hiện khá nhỏ (<5%).
2.2 Phòng bệnh
Ðể phòng bệnh một cách có hiệu quả, hạn chế thấp nhất thiệt hại có
thể xảy ra, bà con nuôi tôm có thể tham khảo một số nguyên nhân chính sau
đây dẫn đến bộc phát dịch bệnh trên tôm sú nuôi:
15
a) Yếu tố ngoại cảnh
- Vùng đất có kết cấu và tính chất không phù hợp cho hệ thống ao nuôi. Các
vùng đất nhiễm phèn nặng hay quá kiềm dẫn đến khó cải tạo ao gây nên tôm
bị stress hoặc ở vùng chứa nhiều mùn bã hữu cơ làm ao bị thẩm lậu, rò rỉ.
- Không đủ nước cấp cho hệ thống nuôi dẫn đến việc tiến hành mùa vụ bị
trậm trễ, không đủ nước thay khi ao bị bẩn hay xử lý hóa chất cần thay nước.
Hệ thống kênh thoát không tốt dẫn đến việc thoát nước không kịp thời, hay
tồn đọng nước bẩn gây nhiễm bẩn cho khu nuôi. Ðối với các khu nuôi bán
thâm canh và thâm canh tập trung, việc không có hệ thống xử lý nước thải
tốt là yếu tố nguy cơ chính dẫn đến nhiễm bẩn hữu cơ nghiêm trọng cho
vùng nuôi chỉ trong vòng 2-5 năm.
- Không ngăn chặn sinh vật mang mầm bệnh (trong đó tôm hoang dã, giáp
xác nhỏ, phù du sinh vật, ấu trùng, côn trùng) xâm nhập dẫn đến nguy cơ
nhiễm bệnh, nhất là bệnh truyền nhiễm (đốm trắng, đầu vàng) tăng lên.
b) Yếu tố kỹ thuật
Ðây là khâu quan trọng, nếu thực hiện tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi
cho quá trình quản lý ao, góp phần rất lớn cho vụ nuôi thành công. Các trở
ngại thường gặp là:
- Thiếu hệ thống thiết bị công trình phụ trợ phù hợp nhằm đảm bảo các điều
kiện môi trường tối ưu cho tôm nuôi.
- Không gây màu nước đạt yêu cầu (thường gặp ở các ao nuôi thâm canh
hiện nay) dẫn đến tôm thiếu thức ăn tự nhiên trong giai đoạn đầu vụ nuôi.
Ðây được xem là yếu tố rất quan trọng để tôm nuôi phát triển tốt trong giai
đoạn tiếp theo.
- Quản lý chất lượng nuớc ao: lượng ôxy hòa tan thấp, NH3 cao, dao động
nuôi.
- Ðề ra các giải pháp, các quy định bảo vệ cho cộng đồng khu vực nuôi khi
có dịch bệnh xảy ra như: biển báo ao có tôm bị bệnh, thông báo việc thải
nước từ các ao có tôm bị bệnh.
- Xây dựng các khuyến cáo về tính mùa vụ cho người nuôi tôm.
II. BỆNH TRÊN CÁ
17
1 Bệnh xuất huyết ở cá trắm cỏ
a) Hiểu biết chung về bệnh xuất huyết ở cá trắm cỏ
- Tác nhân gây bệnh: Do loài Reovirus gây ra. Nhân có mang ARN, không
có vỏ, hình khối cầu.
- Đặc điểm dịch tể học:
Xuất hiện vào cuối xuân đầu hè ở nhiệt độ 24 – 30
0
C. Gặp chủ yếu ở
giai đoạn cá giống, giai đoạn trưởng thành ít gặp.
- Dấu hiệu bệnh lý:
+ Có hiện tượng cá chết, màu sắc nhợt nhạt, xuất hiện trên thân và mang, da
màu tối sẫm và nổi lờ đờ trên mặt nước.
+ Toàn bộ cơ quan bên trong bị xuất huyết.
- Phương pháp chẩn đoán:
+ Dựa vào đặc điểm dịch tể học
+ Dấu hiệu bệnh lý
+ Phương pháp mô bệnh học
- Phương pháp phòng, trị bệnh:
+ Áp dụng các biện pháp phòng chung.
+ Tiêm vacxin phòng bệnh
b) Nhận xét tình hình bệnh trong quá trình điều tra
- Mùa vụ xuất hiện: cuối mùa xuân
- Tỷ lệ cảm nhiễm: 40 – 50%
+ Phòng bệnh: Dùng vôi nung 20ppm rắc xuống ao 1 tuần/ lần.
Sử dụng muối ăn NaCl 3 – 4% tắm trong vòng 5 – 10 phút.
+ Trị bệnh: Sử dụng thuốc tím 5ppm tắm cho cá trong vòng 10 – 30 phút.
Sử dụng Oxytetracyline: 50 – 100g/ 1kg cá.
Chế phẩm sinh học điều chế từ thảo dược KN – 04 – 12 với kiều lượng: 2 –
4g/ kg cá/ ngày.
b) Nhận xét tình hình bệnh trong quá trình điều tra
- Mùa vụ xuất hiện: Mùa xuân
- Tỷ lệ cảm nhiểm: 20%
- Tỷ lệ chết: 5 – 10%
=> Nhận xét: Ta thấy rằng tỷ lệ cảm nhiểm và tỷ lệ chết bệnh này trên cá
chim trắng tương đối thấp.
19
3. Bệnh nấm thủy mi
Tác nhân gây bệnh
Nguyên nhân gây ra bệnh này là 2 giống nấm thường có trong nước, nhất
là nước bẩn và trong bùn ao là Saprolegnia và Achlya, thuộc họ
Saprolegniaceae. Sợi nấm dài và trong, có phân nhánh hoặc không phân
nhánh, không có vách ngăn. Phần dưới cắm sâu vào tổ chức cơ thể cá, phần
trên lơ lửng trong nước trông như bông, vì thế người nuôi cá miền Nam gọi
là bệnh "bệnh bọ gòn".
Đặc điểm dịch tể học
Bệnh nấm thủy mi có thể ký sinh và gây tác hại lớn cho các loài cá nước
ngọt từ trứng (trong trại sản xuất giống) đến giai đoạn cá thịt.
Mùa vụ phát triển: vào mùa xuân, mùa thu đặc biệt là mùa đông ở miền
bắc. Nhiệt độ nước 18-25
o
c
Dấu hiệu bệnh lý
Khi mới ký sinh, mắt thường khó nhìn thấy, phần cuối sợi nấm đâm sâu
tránh rét, hoặc đầu bờ phía đông bắc sâu, trên bờ phía đông bắc cần phải
trồng cây chắn gió. Cá nuôi trong ao không nên thả mật độ quá cao. Cần cho
cá ăn tích cực trong những ngày mát trời.
Cách trị
Để trị bệnh này có thể dùng các phương pháp:
Dung dịch muối ăn 3% tắm cho cá 15-20 phút.
Dung dịch thuốc tím (KMnO4) nồng độ 10-20 ppm tắm cho cá từ 20 phút
đến 1giờ.
21
C. KẾT LUẬN, GIẢI PHÁP
Dịch bệnh là mối nguy hiểm đối với người nuôi thuỷ sản, qua quá
trình điều tra cho thấy ở TP Đồng Hới số bệnh phát hiện cũng là những bệnh
phổ biến trong khu vực, không có bệnh mới xuất hiện. Nhưng dịch bệnh vẫn
gây ảnh hưởng đến thu nhập của người nuôi thuỷ sản do đó cần nên thực
hiện một số giải pháp để hạn chế dịch bệnh trong nuôi trồng thuỷ sản ở trên
địa bàn TP Đồng Hới như sau:
- Về con giống cần chọn giống ở những nguồn tin cậy, con giống phải khoẻ
mạnh và đã qua kiểm dịch, xử lý con giống trước khi thả xuống ao.
- Yêu cầu kỹ thuật: Công trình đảm bảo, chọn đúng mùa vụ, con giống phù
hợp, chú ý đến mật độ nuôi, quản lý các yếu tố trong ao nuôi, tuân thủ các
nguyên tắc kỹ thuật…
- Giải pháp về quy hoạch: Giữa người nuôi vác các sở ban ngành cần có sự
thống nhất, tránh hiện tượng phát triển thiếu quy hoạch dẫn đến ảnh hưởng
tới môi trường, phát triển không theo hướng bền vững.
- Sau khi phát hiện dịch bệnh nên cách li và báo cho cơ quan chuyên trách,
hạn chế sự bùng phát dịch sang các ao lân cận.
22