MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH SÁCH NGƯỜI THAM GIA 1
1.Huỳnh Nữ Bảo Hiệp 1
2.Cao Thị Trúc Ly 1
3.Nguyễn Thị Nhài 1
4.Đào Thị Thúy Phương 1
5.Đoàn Thị Thanh Thảo 1
6.Vũ Thị Thanh Thảo 1
Ngành Nghề Kinh Doanh 9
Định Hướng Phát Triển 12
DANH SÁCH NGƯỜI THAM GIA
1. Huỳnh Nữ Bảo Hiệp
2. Cao Thị Trúc Ly
3. Nguyễn Thị Nhài
4. Đào Thị Thúy Phương
5. Đoàn Thị Thanh Thảo
6. Vũ Thị Thanh Thảo
1
CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP
I. Khái niệm:
Trong xu thế hội nhập toàn cầu về kinh tế như ngày nay, chúng ta thấy rằng
trong bất kì lĩnh vực nào cũng đều có rất nhiều doanh nghiệp cùng tham gia sản
xuất kinh doanh. Trong số đó có rất nhiều doanh nghiệp có nguồn lực dồi dào và
phong phú, đã nổi tiếng từ lâu trên toàn cầu, trong khi các doanh nghiệp của
Việt Nam đa phần là tiềm lực yếu, thời giant ham gia thương trường chưa lâu,
nên có thể cạnh tranh được với các đối thủ trên thì các doanh nghiệp của Việt
Nam phải có một đặc điểm nổi bật làm cho người tiêu dùng luôn nhớ đến doanh
nghiệp, dù họ chưa có nhu cầu về sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp. Khi
họ có nhu cầu thì ngay lập tức họ nghĩ đến doanh nghiệp, thì đặc điểm đó chính
gian, thấm nhuần vào các thành viên trong doanh nghiệp một cách vô thức.
Dựa vào sự hình thành, văn hóa doanh nghiệp có thể nhận biết dưới ba dạng:
1. Văn hóa doanh nghiệp hướng vào cá tính của nhà lãnh đạo hay tập thể nhà
lãnh đạo, mà những người này biết làm cho mình nổi bật lên tất cả mọi hoạt
động của doanh nghiệp được thực hiện qua vai trò của nhà lãnh đạo đó.
2. Văn hóa tổ chức hướng vào một hoạt động hay nghề nghiệp như hãng hàng
không sử dụng hình ảnh chiếc máy bay…
3. Loại hình văn hóa tập trung vào cách cung ứng mang tính cộng đồng, mang
tính gia đình. Loại hình văn hóa này dựa trên cơ sở một sự xã hội hóa sâu rộng
những giá trị, chuẩn mực được chia sẻ rộng rãi như bột giặt Omo quyên góp
đồng phục trắng cho học sinh nghèo đến trường…
IV. Các bộ phận cấu thành văn hóa doanh nghiệp:
1. Triết lý hoạt động của doanh nghiệp
Mục tiêu của doanh nghiệp hướng tới sự phát triển lâu dài bền vững
Định hướng hoạt động của doanh nghiệp vào việc phục vụ lợi ích xã hội
thông qua việc phục vụ khách hàng
Đề cao giá trị con người , đặt con người vào vị trí trung tâm trong toàn bộ
mối quan hệ ứng xử trong doanh nghiệp.
2. Đạo đức kinh doanh
3
Xác định rõ mục tiêu kinh doanh
Xác định rõ quan hệ giữa lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích của khách
hàng
Đạo đức kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ với
quan trọng, góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước, tạo thêm nhiều việc làm và
tăng thu nhập cho người lao động, cải tạo bộ mặt nông thôn ven biển Việt Nam.
2. Thực trạng ngành chế biến thủy hải sản đông lạnh:
a) Sự phát triển của ngành thủy sản trong những năm gần đây:
Tổng sản lượng thủy sản đã tăng từ 0,81 triệu tấn trong năm 1985 lên 2,54 triệu tấn
trong năm 2003. Hiện nay sản lượng hải sản đánh bắt chiếm 56% tổng sản lượng, trong
khi đó tỷ lệ nuôi trồng thủy sản đang ngày càng gia tăng. Trong giai đoạn 1985 - 2003,
tổng giá trị sản lượng thủy sản của Việt Nam tăng 2,6 lần, trong số đó tổng giá trị sản
lượng nuôi trồng thủy sản tăng hơn 4,8 lần.
Đánh bắt hải sản: đã phát triển nhanh chóng vào cuối năm 1980 và đầu năm 1990. Tuy
nhiên, do hầu hết các tàu thuyền đánh bắt với kích cỡ nhỏ, nên phạm vi hoạt động đánh
bắt hải sản tập trung chủ yếu ở ven bờ. Gần đây, các hoạt động đánh bắt ven bờ đã suy
giảm rõ rệt. Ngành thủy sản chỉ có thể tăng sản lượng đánh bắt chủ yếu bằng cách mở
rộng các hoạt động đánh bắt xa bờ. Sự chuyển dịch từ đánh bắt ven bờ sang đánh bắt
xa bờ cũng đồng nghĩa với sự chuyển dịch từ đánh bắt với giá trị thấp sang đánh bắt
với giá trị cao. Tỷ lệ xuất khẩu trong tổng sản lượng đánh bắt hải sản tăng từ 20% năm
1998 lên 25% năm 2002. Tuy nhiên các chuyên gia thủy sản đều cho rằng Việt Nam
đang tiến gần đến ngưỡng giới hạn của sự tăng trưởng nguồn lợi hải sản.
Nuôi trồng thủy sản: khác với lĩnh vực đánh bắt hải sản, nuôi trồng thủy sản vẫn còn
có thể tiếp tục phát triển. Sự tăng trưởng nhanh chóng của nuôi trồng thủy sản chỉ diễn
ra từ đầu những năm 1990, và từ năm 1999, lĩnh vực này đã thực sự phát triển mạnh cả
về diện tích nuôi trồng và đa dạng hóa chủng loại sản phẩm. Những sản phẩm có thể
xuất khẩu như tôm sú, tôm hùm, tôm càng xanh và cá da trơn là các sản phẩm chủ đạo,
trong đó tôm sú đen và cá da trơn là hai mặt hàng xuất khẩu chính. Những sản phẩm
5
khác vẫn còn bị hạn chế về sản lượng, hoặc khả năng cạnh tranh còn yếu trên thị
trường thế giới.
b) Việc làm
Theo cuộc Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản được tiến hành trong năm
2001, thì số hộ gia đình và tỷ trọng các hộ gia đình tham gia vào nuôi trồng thuỷ sản,
ngành thủy sản đạt mức kỷ lục là 6.316 tỷ đồng.
Nguồn vốn trong nước chiếm khoảng 86% trong tổng vốn đầu tư, trong đó nguồn vốn
huy động từ dân chiếm khoảng 18,6%. Xét dưới góc độ phân bổ nguồn vốn cho các
lĩnh vực, bắt đầu từ năm 2001, đầu tư cho các nhà máy chế biến sản phẩm thủy sản
chiếm khoảng 30,5% quỹ đầu tư. Các khoản đầu tư lớn khác là đầu tư cho khai thác hải
sản chiếm 27,9%, và nuôi trồng thủy sản chiếm 25,5%. Hơn nũa, 16,2% tổng vốn đầu
6
tư cho lĩnh vực thủy sản là dành cho lĩnh vực dịch vụ. Gần đây, xu hướng phân bổ vốn
đầu tư đã thay đổi đáng kể (xem bảng 2). Rõ ràng là đã có sự đầu tư nhiều hơn vào lĩnh
vực nuôi trồng thủy sản.
Đầu tư cho lĩnh vực thủy sản là rất có hiệu quả. Từ năm 1996 - 2000, đầu tư cho ngành
đã góp phần làm tăng tỷ trọng của ngành thủy sản trong GDP của Việt Nam từ 3% lên
3,2%, mặc dù tỷ lệ đầu tư cho ngành trong tổng vốn đầu tư phát triển lại rất thấp, chỉ
chiếm 1,8%. Tuy nhiên, nhu cầu về đầu tư phát triển cho ngành này vẫn còn rất lớn.
Thực tế cho thấy rằng ở nhiều tỉnh, đầu tư vào cơ sở hạ tầng và dịch vụ là không đủ
mạnh để hỗ trợ cho sự tăng trưởng của ngành thủy sản.
d) Sự phát triển của ngành chế biến thủy sản
Ngành chế biến thủy sản đã phát triển mạnh mẽ cả về công suất lẫn công nghệ chế
biến. Đến năm 2003, ngành đã có trên 300 nhà máy chế biến thủy sản, trong đó có 60%
nhà máy đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, giúp các nhà xuất khẩu Việt Nam
đáp ứng được các yêu cầu nghiêm ngặt về chất lượng và an toàn thực phẩm của EU và
của Mỹ. Những điều kiện thuận lợi này đã tác động tích cực tới việc thâm nhập thị
trường và mở rộng qui mô xuất khẩu. Từ tháng 11 năm 1999, các sản phẩm thủy sản
của 18 công ty đã lọt vào danh sách I xuất khẩu tới EU, tức là được cấp EU code. Năm
2002, số doanh nghiệp có EU code lên tới 62. Hiện nay Việt Nam đã có 100 doanh
nghiệp có EU code. Ngoài ra còn có 53 doanh nghiệp khác đang được đề nghị cấp EU
code. Cũng trong thời gian này, 126 doanh nghiệp đã nhận được chứng chỉ phân tích
mối nguy hiểm kiểm soát điểm tới hạn (HACCP) để xuất khẩu vào Mỹ. Doanh thu của
các doanh nghiệp này chiếm 80% tổng giá trị xuất khẩu. Những doanh nghiệp khác
đang tiến hành nâng cấp doanh nghiệp mình để đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn vệ sinh của
doanh 30.000 tấn thuỷ hải sản các loại, tổng doanh thu 1.000 tỷ đồng. Trong đó, kim
ngạch xuất khẩu trên 30 triệu USD xuất qua các nước Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Hồng
Kông, Trung Quốc, Úc, EU (Pháp, Tây Ban Nha, Hà Lan, Đức, Ý), các nước Asean.
Hàng hải sản chế biến đông lạnh và hàng khô của Công ty có khả năng cạnh tranh cao
về chất lượng và giá cả tại các thị trường Nhật, Mỹ, EU, Hàn Quốc. Công ty cũng chú
trọng đẩy mạnh chương trình kinh doanh nội địa với mạng lưới tiêu thụ trên 350 điểm
được phân bổ trên phạm vi cả nước: TP.HCM, Hà Nội, Đà Nẵng, các tỉnh cao nguyên,
các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh miền Đông.
APT Co luôn đảm bảo hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO,
HACCP, đạt Code EU và tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm.
Với các nhà máy mới được xây dựng theo tiêu chuẩn HACCP và EU, máy móc thiết bị
tiên tiến ở Khu Công Nghiệp và vùng nguyên liệu, với đội ngũ cán bộ quản lý kinh
nghiệm, lực lượng công nhân lành nghề có ý thức tổ chức, với phương châm chất
lượng và phục vụ đáp ứng mọi yêu cầu khách hàng, đây là một điều kiện thuận lợi để
APT Co có thể mở rộng và phát triển thị trường mới. Ngoài ra, việc xây dựng nhà máy
tại vùng nguyên liệu sẽ tạo điều kiện cho Công Ty thực hiện quy trình khép kín trong
lãnh vực nuôi trồng : “ Trại ươm giống – Trại nuôi – Nhà máy SX thực phẩm nuôi
trồng – Nhà máy SXCB – Xuất khẩu “, giúp APT Co kiểm tra được sản phẩm theo tiêu
chuẩn sản phẩm sạch, đồng thời hạ giá thành, nâng cao nâng cao năng lực cạnh tranh.
Năm 2008, APT Co tiếp tục theo đuổi các định hướng:
+ Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu song song với củng cố, khôi phục thị trường nội địa
+ Tiếp tục phát triển hoạt động nuôi trồng theo hướng chủ động quỹ đất, thực hiện mô
hình khép kín: Xây dựng Trại ươm giống, Trại nuôi cá thương phẩm, Nhà máy chế
biến thực phẩm nuôi trồng thủy sản, Nhà máy chế biến thủy sản.
+ Tìm mọi biện pháp mở rộng hoạt động thương mại dịch vụ, khai thác tốt các cơ sở
vật chất, nhà xưởng, mặt bằng góp phần tăng lợi nhuận.
8
Đối với xuất khẩu, APT Co tiếp tục chiến lược đa dạng hoá mặt hàng, đa phương hoá
thị trường, duy trì và phát triển thêm khách hàng ở thị trường truyền thống (Nhật, Mỹ,
Hàn Quốc), đồng thời tìm mọi biện pháp mở rộng khách hàng, thị trường mới ở các
Sản xuất chế biến và kinh doanh các mặt hàng thủy hải sản, nông sản, thực phẩm, nước
mắm, thức ăn gia súc, công nghệ phẩm, kim khí điện máy,…Kinh doanh ăn uống, dịch
vụ vui chơi giải trí.
- Nuôi trồng thủy sản nước lợ, nước ngọt
- Kết hợp với các tỉnh, địa phương có nguồn nguyên liệu khai thác thủy hải sản.
- Nhập khẩu thức ăn nuôi trồng thủy sản, nông ngư cụ.
- Nhập khẩu các mặt hàng kim khí điện máy, điện gia dụng, hàng tiêu dùng.
Kim ngạch xuất khẩu hàng năm: 45-50 triệu USD.
Thị trường chính:
Mỹ, Eu, Nhật, Hàn Quốc, Nga, Trung Quốc, Singapore, Hong Kong, Thái Lan,
Malaysia, Đài Loan, Trung Đông
2. Tên Doanh nghiệp: Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại Thuỷ sản
Tên giao dịch: INCOMFISH
Địa chỉ: Lô A 77/1 Ðường số 7, KCN Vĩnh Lộc, Quận Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh
Tỉnh, Thành phố: Hồ Chí Minh
Điện thoại: (84) 8 7653142/7653145
Fax: (84) 8 7652162/7653136
E-mail: mailto:
Website:
Công ty cổ phần Đầu tư Thương mại Thủy sản (INCOMFISH) được thành lập
01/9/1999 với lĩnh vực hoạt động chính là đầu tư, kinh doanh xuất nhập khẩu hàng
thủy sản đông lạnh.
Là Công ty được thành lập trên cơ sở đóng góp của các cổ đông là thể nhân và pháp
nhân mới dưới hình thức Công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp.
Đến năm 2001, căn cứ theo kế hoạch định hướng khi thành lập đảm bảo phát triển
Công ty bền vững và lâu dài, đồng thời để chủ động nguồn cung cấp sản phẩm cho
xuất khẩu, Công ty đã triển khai dự án xây dựng Nhà máy chế biến thủy sản đông lạnh
tại Khu công nghiệp Vĩnh Lộc – Tp. Hồ Chí Minh.
Sau hơn một năm xây dựng từ năm 2001 đến tháng 6/2002, Nhà máy chế biến thủy sản
đông lạnh xuất khẩu với công suất sản xuất ổn định các mặt hàng có giá trị gia tăng là
khoán Hà Nội và đã giao dịch phiên đầu tiên ngày 18/12/2006 và sau đúng một năm
giao dịch tại Hà nội, Công ty đã chuyển vào giao dịch tại Sở Giao dịch Chứng khoán
Tp. Hồ Chí Minh (HoSE) theo Quyết định số 170/QĐ-SGDHCM ngày 11/12/2007 của
HoSE.
Tầm nhìn
Trở thành nhà cung cấp thủy sản giá trị gia tăng hàng đầu Việt Nam và khu vực Đông
Nam Á
Sứ mệnh
Được lãnh đạo bởi một đội ngũ có kinh nghiệm trong ngành công nghiệp chế biến thủy
sản và thành thạo trong phát triển, tiếp thị sản phẩm, với tiêu chí "Chất lượng hôm
nay - Thị trường ngày mai". INCOMFISH cam kết sẽ phát huy tối đa năng lực của
mình để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của khách hàng cũng như của người tiêu
dùng trong và ngòai nước, không ngừng học hỏi kinh nghiệm, chuyên môn nhằm sản
xuất ra các sản phẩm có chất lượng tốt nhất, phù hợp với các tiêu chuẩn cao nhất về an
tòan vệ sinh thực phẩm và tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường.
Giá trị cốt lõi
- CON NGƯỜI LÀ MỤC TIÊU CHO MỌI NỖ LỰC
11
- ĐẶT CHẤT LƯỢNG & AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM LÊN HÀNG ĐẦU
- QUAN TẤM TỐI ĐA BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
- LẤY TRUNG THỰC LÀM THƯỚC ĐO MỌI HOAT ĐỘNG
- ĐẢM BẢO CHỮ TÍN - GIAO HÀNG ĐÚNG HẠN
- QUÁN TRIỆT PHƯƠNG CHÂM “CHẤT LƯỢNG HÔM NAY - THỊ
TRƯỜNG NGÀY MAI”
Vị thế của Công ty INCOMFISH trong ngành thủy sản VN
Incomfish là một trong những công ty thủy sản được đầu tư trang thiết bị hiện đại,
đồng bộ với kỹ thuật tiên tiến thế giới; đội ngũ cán bộ quản lý và kỹ thuật chuyên môn
có hơn 20 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực chế biến, xuất nhập khẩu thủy sản … góp
phần quan trọng trong việc hiện đại hóa, tăng sản lượng và giá trị ngoại tệ xuất khẩu
cho ngành thủy sản Việt Nam.
trình xây dựng và dự kiến Nhà máy sẽ đi vào hoạt động trong tháng 10/2008, góp phần
đáp ứng nhu cầu rất lớn ngày càng tăng của người tiêu dùng trên toàn thế giới hiện tại
và trong tương lai.
Thực hiện Nghị quyết của Đại hội đồng Cổ đông thường niên năm 2006, tổ chức ngày
20/4/2007 và Đại hội bất thường ngày 10/8/2007 nhằm mở rộng hoạt động sản xuất
kinh doanh, Công ty đã thành lập Công ty Incomfish khu vực Hoa Kỳ và Bắc Mỹ (đặt
tại Hoa Kỳ) và khu vực Châu Âu (đặt tại Bỉ) để chế biến, đóng gói, phân phối các sản
phẩm của Công ty tại hai thị trường lớn nhất thế giới hiện nay. Công ty Incomfish EU
đã đi vào hoạt động từ cuối năm 2007, Công ty Incomfish US đã có Giấy phép hoạt
động của nước sở tại và đã bước đầu triển khai các thủ tục cần thiết liên quan để chính
thức đi vào hoạt động trong tháng 10/2008.
Ngoài ra, với chiến lược phát triền về trung và dài hạn, Công ty cũng đã quyết định đầu
tư vào lĩnh vực bất động sản, thương mại với việc góp vốn vào các dự án như Linh
Xuân đang lập Báo cáo khả thi và Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Saga để xây
dựng cao ốc văn phòng cho thuê tại số 32 đường Mạc Đĩnh Chi, Phường Đakao, Quận
1, Tp. Hồ Chí Minh. Đây là một vị trí mang tính chiến lược tọa lạc tại trung tâm thành
phố Hồ Chí Minh.
Nhãn hiệu thương mại
Ngoài những nhãn hiệu của khách hàng, Công ty còn có các nhãn hiệu truyền thống đã
được các khách hàng biết đến là SHRIMP ONE; LEADER FISH; UNCLE
HUNDREDS, SAIGON PACIFIC;… đến nay vẫn duy trì và phát triển tốt các nhãn hiệu
thương mại này đối với thị trường trên thế giới và trong tương lai không xa sẽ phát triển
các thương hiệu này tại thị trường trong nước. Các nhãn hiệu này đã được Công ty đăng
nhãn hiệu hàng hóa ngay từ năm 2002, 2003.
Chính sách chất lượng
Với phòng kiểm nghiệm riêng cùng các thiết bị kiểm tra đảm bảo thực hiện việc kiểm
tra phân tích sinh - hóa - lý, kháng sinh trên nguyên liệu, dây chuyền sản xuất và thành
phẩm, INCOMFISH cam kết quản lý chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm bằng
13
cách thực hiện nghiêm ngặt các quy định HACCP, GMP và SSOP trong suốt tiến trình
Với sự đầu tư đúng mức, với 29 năm kinh nghiệm trên thị trường thế giới và thị trường
nội địa, chắc chắn Công ty Cổ Phần Thủy Đặc Sản sẽ đạt được những thành công vượt
bậc về cung cấp hàng hóa chất lượng, dịch vụ kịp thời, nhanh chóng, tiện ích.
Lĩnh vực sản xuất:
Chuyên sản xuất và sản xuất thực phẩm đông lạnh,tiệt trùng và khô từ hải sản và xúc
sản,nông sản.
- Kinh doanh và phân phối thị trường trong và ngoài nước các sản phẩm thực phẩm
của công ty.
14
- Nuôi trồng thủy sản.
- Kinh doanh dịch vụ :cho thuê kho lạnh,sân bãi,ủy thác xuất nhập khẩu .
- Liên kết đào tạo
BẢN SẮC THƯƠNG HIỆU
- Đáng tin cậy.
- Tận tụy.
- Giàu kinh nghiệm.
- Chuyên nghiệp.
- Sẵn sàng thích ứng.
TẦM NHÌN
- Phát triển vượt bậc về quy mô lẫn độ chuyên sâu, trở thành doanh nghiệp dẫn đầu
trong lĩnh vực Thủy hải sản và Thực phẩm chế biến trong nước, vươn ra chinh phục
khu vực châu Á lân cận.
- Trở thành một doanh nghiệp kinh doanh đa ngành nghề lấy lĩnh vực chủ đạo là Sản
xuất và Kinh doanh Thủy hải sản - Thực phẩm chế biến làm nòng cốt.
4. Tên Doanh nghiệp: Công ty Cổ phần Thuỷ sản số 1
Tên giao dịch: SEAJOCO VIETNAM
Được thành lập từ năm 1988, Xí Nghiệp Mặt Hàng Mới hay Factory No.1 là một
doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu Thủy sản đầy uy tín. Đến tháng 7/2000, xí
nghiệp được cổ phần hóa và đổi tên là Công ty Cổ Phần Thủy sản Số 1 (Tên giao
dịch: SEAJOCO VIETNAM).
5. Công suất kho lạnh: 1200 tấn
6. Các máy móc chuyên dùng trong chế biến thủy sản như: máy xay, máy trộn, máy
hấp, máy dò kim lọai…
7. Hệ thống xử lý nước 250 m3/ngày. Máy làm đá vảy 20 tấn / ngày.
8. Phòng thí nghiệm sinh – hóa: kiểm nghiệm nguồn nguyên liệu, nguồn nước và
sản phẩm hàng ngày theo tiêu chuẩn ngành, quốc gia và theo yêu cầu của khách
hàng.
Ngoài ra, chúng tôi còn có một nguồn tài sản vô cùng quí báu, đó là:
- Hơn 600 kỹ sư và công nhân lành nghề, tận tâm
- Chứng chỉ ISO 2001, BRC, HACCP
- Chứng nhận An Tòan Vệ sinh Công Nghiệp do Bộ Thủy Sản cấp
- Giấy phép xuất khẩu vào thị trường Châu Âu: DL01 & DL157
Sản phẩm
Sản phẩm tẩm bột
Sản phẩm giá trị gia tăng
Tôm, cá, ghẹ.
Kết luận:
16
CHƯƠNG III:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO VĂN HÓA DOANH NGHIỆP NGÀNH CHẾ BIẾN
THỦY HẢI SẢN
1. Trước hết cần bổ sung, hoàn thiện văn hóa doanh nghiệp tạo cơ sở vững
chắc cho sự phát triển của doanh nghiệp
2. Cần nâng cao nhận thức về văn hóa doanh nghiệp trong doanh nghiệp:
Trước hết các phương tiện thông tin đại chúng nên tiến hành phổ cập các
kiến thức về văn hóa doanh nghiệp. Nhằm định hướng hành vi của nhân
viên.
Tổ chức các lớp học cho nhân viên về văn hóa của doanh nghiệp, chọn lựa
dịch và xuất bản một số sách có uy tín của nước ngoài về đề tài này… Nên
phát triển. Là một quốc gia đang phát triển, mới tham gia vào tiến trình toàn
cầu hóa, những phạm trù như văn hóa kinh doanh, đạo đức kinh doanh còn
khá mới mẻ ở Việt nam. Được biết trong thời gian tới, chính phủ Việt Nam
đang có chủ trương nâng cao trình độ nhận thức cho người dân và doanh
nghiệp về các vấn đề có liên quan đến hội nhập KTQT và toàn cầu hóa. Bộ
Giáo dục và Đào tạo cũng đang khuyến cáo các trường Đại học và Cao đẳng
cần đổi mới chương trình đào tạo cho phù hợp với trình độ chung trên thế
giới. Có được những yếu tố thuận lợi này và truyền thống đạo đức lâu đời
của người Việt Nam, hy vọng là trong thời gian tới, nhận thức của người VN
về DDKD sẽ nhanh chóng được nâng cao, góp phần duy trì sự phát triển bền
vững và nâng cao chất lượng đời sống cho người dân Việt Nam .
4. Cần kiểm soát chặt chẽ các thông tin trong nhân viên nhằm ngăn chặn sự
chống phá ngầm của một số nhân viên và của các đối thủ cạnh tranh
18