THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHỐNG TẮC NGHẼN GIAO THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - Pdf 33

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHỐNG TẮC NGHẼN GIAO THÔNG TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
I. THỰC TRẠNG GIAO THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trong nhiều năm qua, tắc nghẽn giao thông đã trở thành vấn đề được nhiều người
quan tâm vì nó ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của đời sống xã hội. Chính quyền Thành
phố thật sự lo ngại khi tình hình ùn tắc giao thông ngày càng phức tạp. Nhiều cuộc họp,
nhiều giải pháp đã được đề xuất thực hiện nhưng tình hình ùn tắc vẫn không giảm. Có
chăng là giảm ở chỗ này thì tắc ở chỗ khác. Báo chí và các phương tiện thông tin đại
chúng khác tốn không biết bao giấy mực cho vấn đề nan giải này. Rất nhiều người, từ các
nhà khoa học đến anh chị em công nhân, kể cả kiều bào về thăm đất nước…cũng đã đề
xuất khá nhiều kiến nghị. Cho tới nay nhiều văn bản, nghị định đã được ban hành, những
chương trình về trật tự độ thị vẫn tiếp tục được triển khai để phần nào giảm thiểu nạn kẹt
xe nhưng các biện pháp trên vẫn chưa được hiệu quả lắm.
1.1. Hệ thống giao thông tại Thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn nhất cả nước, một trong những đầu mối kinh
tế lớn hội đủ các điều kiện thuận lợi về giao thông đường bộ, đường thuỷ, đường sắt,
đường hàng không, nối liền với các địa phương trong nước và quốc tế. Diện tích đất dành
cho giao thông trên địa bàn Thành phố chiếm 10.816,93 ha, bằng 5,16% diện tích tự
nhiên, chiếm 37,62% diện tích đất chuyên dùng, chiếm 66,6% so với đất có mục đích
công cộng. Thành phố HCM có nhiều thuận lợi cho việc phát triển GTCC đô thị do địa
hình bằng phẳng, không có đồi núi nhiều.
1.1.1. Về giao thông đường bộ
Hệ thống đường bộ có Quốc lộ 1A nối liền Thành phố với các tỉnh phía Bắc và các
tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long; Quốc lộ 22 đi Tây Ninh nối liền với Campuchia; Quốc lộ
13 qua Bình Dương, Bình Phước nối liền với Quốc lộ 14 kéo dài suốt Tây nguyên; Quốc
lộ 51 nối liền với Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu; Quốc lộ 50 đi Long An, Tiền Giang và
nhiều tỉnh lộ nối trực tiếp với các tỉnh xung quanh.
Mạng lưới đường bộ của Thành phố bao gồm các trục quốc lộ do Trung ương quản
lý và các đường tỉnh, đường liên tỉnh, đường nội đô do Thành phố quản lý có tổng chiều
dài khoảng 3.038 km; tổng diện tích chiếm đất là 2.373,2 ha.


lại từ 1500 ha xuống còn 886,3 ha.
1.2. Tình hình tắc nghẽn giao thông tại Thành phố Hồ Chí Minh
Cùng với sự phát triển kinh tế, quy mô dân số thành phố Hồ Chí Minh phát triển
không ngừng, từ 3,2 triệu người vào năm 1980, lên 3,7 triệu người vào năm 1985, 7,2
2


triệu người vào năm 2009 và dự đoán sẽ đạt 13,5 triệu người vào năm 2020 dẫn đến sự
gia tăng của các phương tiện giao thông cá nhân. Tính đến ngày 31/12/2009, tổng số
phương tiện giao thông cơ giới đường bộ mà thành phố đang quản lý là 4.480.255 xe,
trong đó gồm 408.688 xe ô tô và 4.071.567 xe mô tô, gắn máy đăng ký lưu hành.
Bên cạnh sự gia tăng nhanh chóng của các phương tiện giao thông cá nhân, thành
phố Hồ Chí Minh còn phải đối diện với những bất cập của hạ tầng giao thông hiện hữu.
Thành phố hiện đang có gần 3.800 tuyến đường, tổng chiều dài khoảng 3.670km với mật
độ diện tích đường giao thông so với tổng diện tích của thành phố chỉ mới đạt 1,44
km/km2 (theo Houstrans 2004 ) và đạt 1,56 km/km2 (thống kê năm 2008). Theo tiêu
chuẩn của các nước tiên tiến, để đáp ứng nhu cầu giao thông thông suốt mật độ diện tích
đường so với diện tích chung phải đạt từ 10-20%. Thực trạng trên đã chứng tỏ hệ thống
đường giao thông hiện hữu bị quá tải, không đủ năng lực đáp ứng yêu cầu giao thông khu
vực và lưu thông vào giờ cao điểm.
Bên cạnh đó, một số dự án phải đào đường phục vụ xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô
thị như lắp đặt ống cấp nước, cáp điện, cáp điện thoại... thường xuyên được triển khai trên
nhiều trục đường chính đã làm thu hẹp diện tích mặt đường dành cho giao thông vốn đã
rất thiếu của thành phố và làm ảnh hưởng đáng kể đến sự đi lại của người dân, làm cho
tình hình ùn tắc giao thông ngày càng phức tạp. Thời gian đi lại đã chậm hơn nhiều so với
các năm trước, đặc biệt là xe ôtô hiện rất khó đi lại trong nội đô thành phố. Tốc độ đi lại
của xe hai bánh vào giờ cao điểm chiều hiện nay chỉ còn khoảng 10 km/h, tốc độ hành
trình của các loại xe ô tô trên các trục giao thông chính như Bạch Đằng - Hoàng Văn Thụ,
Lý Thường Kiệt, Nguyễn Kiệm - Hai Bà Trưng, Nguyễn Văn Trỗi - Nam Kỳ Khởi Nghĩa,
Pasteur… chỉ còn khoảng 8km/giờ. Ùn tắc giao thông càng tăng, dẫn tới tình trạng ô

giờ đến 16 giờ, do lượng xe tải quá lớn
2. Ngã ba Âu Cơ - Cách mạng tháng Tám, ngã tư Cách mạng tháng Tám - Tân Kỳ
Tân Quý và kéo dài đến ngã ba Tân Kỳ Tân Quý - Cộng Hòa hình thành nên mạng kẹt xe
liên hoàn vào cả giờ cao điểm và thấp điểm.
3. Từ trục đường Cách mạng tháng Tám kéo dài đến các ngã sáu Công trường Dân
Chủ, ngã tư Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai, ngã sáu Phù Đổng Thiên Vương, ngã
tư Phạm Ngũ Lão, Trần Hưng Đạo... Theo ông Đậu An Phúc, Phó trưởng phòng quản lý
giao thông, Sở GTCC, để giảm kẹt xe trên trục đường này, tới đây sẽ cấm xe ô tô từ các
đường nhánh trên rẽ trái vào trục đường Cách mạng tháng Tám.
4. Cụm đường Nguyễn Thị Minh Khai - Cao Thắng - Nguyễn Thiện Thuật - Điện
Biên Phủ thường kẹt xe vào giờ cao điểm sáng và chiều. Tới đây sẽ cấm xe ô tô đi hai
chiều, chỉ còn một chiều theo hướng rẽ tay phải để hình thành nên một ô hình chữ nhật

4


5. Cụm đường Nguyễn Oanh - Phan Văn Trị, Ngã năm chuồng chó, Hoàng Minh
Giám (công viên Gia Định) – Nguyễn Kiệm thường kẹt vào giờ cao điểm buổi sáng.
6. Trục đường Phan Đăng Lưu với các điểm kẹt xe vào mọi lúc là khu vực chợ Bà
Chiểu kéo dài đến ngã tư Phú Nhuận, ngã ba Hoàng Văn Thụ – Hồ Văn Huê
7.Trục đường Lý Thường Kiệt với các điểm kẹt ở khu vực chợ Tân Bình, ngã ba
Thành Thái, ngã tư Tô Hiến Thành - Lữ Gia
8. Bùng binh Cây Gõ kéo dài đến vòng xoay Phú Lâm thường kẹt vào ban ngày do
lượng xe buýt từ bến xe Chợ Lớn ra vào liên tục.
9. Cụm trục đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, Đinh Bộ Lĩnh thường kẹt mọi lúc kéo dài
từ vòng xoay Hàng Xanh kéo dài ra đến bến xe miền Đông qua đến ngã tư Bình Triệu.
10. Khu vực Chợ Lớn với các điểm thường kẹt vào ban ngày là vòng xoay Phan
Đình Phùng, trục đường Hải Thượng Lãn ông, Hậu Giang là những điểm kẹt xe mới sau
khi hàng loạt công trình Đại lộ Đông Tây, dự án môi trường nước được triển khai với việc
dựng hàng rào, cấm lưu thông trên các tuyến Châu Văn Liêm, Trần Hưng Đạo, dỡ cầu

Thành phố có hơn 190 chiếc cầu, nhưng phần lớn chỉ đủ hai làn xe, tải trọng cầu và
đường lại không đồng bộ. Đáng lưu ý là phần lớn cầu đã xuống cấp nghiêm trọng và đều
có nhu cầu làm mới hoặc sửa chữa, mà sửa cầu thì ách tắc giao thông.
Thành phố Hồ Chí Minh chưa có hệ thống cơ sở hạ tầng tương thích để phát triển
hệ thống giao thông công cộng. Hầu như không có tuyến đường nào có thể vạch luồng
dành riêng cho xe buýt; nhiều tuyến đường không có chỗ, không có làn cho xe buýt chạy;
nhiều khu dân cư không có hệ thống giao thông công cộng đi qua...
2.1.2. Không kiểm soát được dân nhập cư
Tính đến cuối năm 2001 có trên 1,2 triệu người nhập cư vào thành phố Hồ Chi
Minh, trong đó chủ yếu là lao động phổ thông và buôn bán nhỏ. Đấy mới chỉ là số dân
nhập cư có đăng ký tạm trú, còn những người không đăng ký thì không thể nào thống kê
được. Hình ảnh rõ nét nhất là vào mỗi sáng thứ hai hàng tuần trên các tuyến đường của
Quận 2, Thủ Đức, cầu Sài Gòn… đổ vào trung tâm thành phố lượng xe đông nghẹt, hoặc
những tuyến đường từ quốc lộ 22 vào Tân Bình, đường Nguyễn Oanh tới ngã năm Gò
Vấp… vào những giờ cao điểm chủ yếu toàn xe hai bánh, gây ùn tắc giao thông.
Vì số dân nhập cư quá lớn, thành phố trở nên quá tải và phình to không theo quy
hoạch. Nhiều quận, huyện phải đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng mới ở các khu dân cư mới
hình thành tự phát, không theo quy hoạch, nhưng cũng không theo kịp với đà tăng dân số.
Đây là một gánh nặng cho cơ sở hạ tầng vốn còn yếu kém của thành phố.
2.1.3. Sự bùng nổ các phương tiện giao thông
Tình hình quản lý giao thông trên địa bàn TPHCM ngày càng phức tạp do sự phát
triển của các phương tiện xe cơ giới cùng với sự phát triển kinh tế và gia tăng dân số, đặc

7


biệt sự gia tăng đột biến lượng xe gắn máy hai bánh và xe ô tô cá nhân là một trong
những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng kẹt xe.
Trong năm 2009, mức phát triển chóng mặt của lượng phương tiện cá nhân trên
11% khiến tình hình ùn tắc không giảm mà ngày càng nghiêm trọng. Thống kê số liệu



nghiệp, 169 cơ sở dạy nghề phần lớn phân bố ở nội thành với 458.769 học viên. Những
học sinh, sinh viên này cũng đổ ra đường và hướng vào trung tâm thành phố ở những giờ
qui định vào buổi sáng cũng như ra về vào tan tầm buổi trưa và buổi chiều. Đặc biệt, hiện
tượng cha mẹ phụ huynh đưa con em đi học đã trở thành phổ biến, tạo nên những luồng di
chuyển đan xen nhau rất phức tạp. Ở đây chưa nói đến những người làm việc trong các
công sở cũng đi làm vào những giờ qui định, hoặc những người đến liên hệ các cơ quan
để làm các thủ tục hành chính cũng thường vào đầu giờ… tạo nên tình trạng lưu thông
quá tải, nhất là trong giờ cao điểm sáng.
Thành phố Hồ Chí Minh còn có hàng chục cảng sông, cảng biển, chợ đầu mối nằm
ngay trong nội thành nên lượng người và hàng hóa hàng ngày qua lại thành phố rất lớn.
Nhiều người cho rằng trong giờ cao điểm ở thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 2 triệu
người tham gia giao thông trên mặt đường.
2.1.5. Hệ thống vận tải hành khách công cộng còn nhiều hạn chế
Hệ thống vận tải khách công cộng bằng xe buýt, một phương tiện nhằm hạn chế
ách tắc giao thông lại phát triển rất chậm chạp. Hiện trên địa bàn TP có 84 tuyến vận tải
khách công cộng, với tổng chiều dài 1.405 km, cự ly trung bình: 16,5km. Trong đó bao
gồm 31 tuyến xe buýt với tổng chiều dài tuyến là 576,2km, cự ly trung bình 18,6
km/tuyến. 53 tuyến xe lam và xe bốn bánh với tổng chiều dài 829km, cự ly trung bình
15,6 km/tuyến. Tình trạng xe quá cũ, mục nát, trên 75% sản xuất từ trước năm 1975.
Hoạt động vận tải công cộng ở thành phố mới chỉ đáp ứng khoảng 4 - 5% nhu cầu đi lại
của người dân thành phố, hoạt động chủ yếu mang tính chất duy trì, chưa có khả năng thu
hút hành khách. Theo kết quả nghiên cứu của Sở Khoa học Công nghệ-Môi trường
TPHCM và cơ quan quản lý năng lượng Pháp, vận tải công cộng trong giờ cao điểm tại
thành phố chỉ chiếm 2%, trong khi vận tải bằng phương tiện xe máy cá nhân trung bình
chiếm 64% và trong giờ cao điểm là 68%.
Về công tác tổ chức vận tải xe buýt, hiện TP.HCM có 28 đơn vị Hợp tác xã, một
đơn vị liên doanh và một đơn vị quốc doanh. Hoạt động của hệ thống xe buýt công cộng
ngày càng hạn chế do thiếu một chiến lược đầu tư lâu dài. Nhiều tuyến xe buýt trở nên

vi phạm, vừa phân luồng và điều khiển hệ thống tín hiệu. Theo số liệu của Phòng cảnh sát
giao thông đường bộ, quân số lực lượng cảnh sát làm việc ngoài đường là 410 người,
trong đó lực lượng tuần tra bằng phương tiện mô tô, xe Jeep là 164 người, lực lượng bố trí
tại các điểm thường xảy ra ùn tắc là 90 người, lực lượng làm việc tại các chốt đèn là 156
người. Trong khi trên địa bàn TP hiện có 300 dàn đèn tín hiệu giao thông được bố trí tại
300 giao lộ, trong đó dàn đèn do Phòng cảnh sát giao thông đường bộ quản lý là 211 dàn,
quận huyện quản lý 89 dàn. Do thiếu lực lượng nên chỉ có 70 giao lộ trên tổng số 211
giao lộ do phòng cảnh sát giao thông đường bộ quản lý có lực lượng cảnh sát làm việc,
trung bình 1 chốt có 2 người. Trong khi ý thức chấp hành luật lệ của người dân kém, lại
thiếu lực lượng kiểm soát nên tình trạng vi phạm luật lệ giao thông ngày càng gia tăng.

10


Điều kiện làm việc của cảnh sát giao thông cũng còn rất hạn chế, hiện phòng cảnh
sát giao thông đường bộ có 88 xe mô tô và 10 xe Jeep phục vụ công tác tuần tra, 8 xe tải
chở cán bộ chiến sĩ đến làm việc tại các chốt đèn, 4 xe cẩu nhỏ để cẩu kéo xe bị hư trên
đường. Trang bị mô tô cho lực lượng chốt đèn theo quy trình của Bộ công an hiện nay
chưa thực hiện được. Lực lượng làm việc tại chốt đèn phải đưa rước bằng xe ô tô, do đó
việc xử lý các đối tượng cố tình vi phạm tại các chốt đèn gặp rất nhiều khó khăn hoặc
không xử lý được do đối tượng bỏ chạy, lực lượng cảnh sát không có phương tiện truy
đuổi. Việc xử lý tạm giữ các phương tiện xe 3 bánh cũng gặp nhiều khó khăn do không có
phương tiện chuyên dùng để cẩu đưa xe vi phạm về trụ sở, kho tạm giữ… Trang bị thông
tin mặc dù thời gian gần đây đã được cải thiện nhưng chưa đáp ứng yêu cầu vì mới trang
bị được 40 chốt trên tổng số 70 chốt đèn có lực lượng cảnh sát làm việc. Việc liên lạc
chưa thông suốt do không đủ pin để làm việc thường trực trên đường… Điều kiện làm
việc của Cảnh sát giao thông cũng hết sức khó khăn: nắng không có chỗ trú, mưa không
có chỗ che. Hàng ngày phải làm việc trong điều kiện khắc nghiệt như vậy nhưng thu nhập
lại rất thấp. Đấy là chưa kể ban đêm còn phải tham gia chống đua xe, nhiều khi còn nguy
hiểm đến tính mạng.

tự quản về vấn đề này.
- Giáo dục trong nhà trường:
+ Khẩn trương hoàn chỉnh chương trình giáo dục pháp luật về trật tự an toàn giao
thông trong nhà trường, đưa vào giảng dạy chính khóa ở tất cả các cấp học. Tiếp tục thực
hiện thí điểm giáo dục trật tự an toàn giao thông cho học sinh cấp tiểu học.
+ Đẩy mạnh vận động “học sinh, sinh viên gương mẫu thực hiện và vận động gia
đình chấp hành nghiêm túc luật giao thông do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động. Thường
xuyên đôn đốc kiểm tra các trường thực hiện Chỉ thị 52/2007/CT-BGDĐT về tăng cường
công tác giáo dục ATGT trong các cơ sở giáo dục.
2. Tổ chức đưa đón học sinh, sinh viên đi học bằng xe buýt:
+ Chuẩn bị thực hiện thí điểm việc đưa rước 2.000 học sinh ở 14 trường phổ thông
ở các khu vực thường xuyên bị tắc nghẽn giao thông vào giờ tan trường (Trường Phan
Văn Trị, Lương Định Của, Hồng Hà, Nguyễn Du, Trần Văn Ơn, Đức Trí, Lê Quí Đôn, Lê
Lợi, Hồng Bàng, Tân Bình, Nguyễn Gia Thiều, Ngô Quyền, Lê Hồng Phong, Nguyễn
Thượng Hiền).
+ Tiến đến xây dựng chương trình cụ thể để mở rộng việc đưa đón học sinh, sinh
viên trong những năm sau.
3. Ổn định trật tự lòng lề đường, giải quyết nạn lấn chiếm lòng lề đường, vỉa hè,
đường đầu cầu làm nơi họp chợ. Quy hoạch sử dụng hệ thống vỉa hè và tăng cường quản
lý các bãi giữ xe hai bánh, xây dựng nếp sống văn minh đô thị.
4. Thực hiện chương trình chống ngập nội thị trong mùa mưa. Đẩy mạnh tiến độ
thi công các dự án thoát nước để xóa dần các điểm ngập, đặc biệt phải khắc phục hậu quả
12


các khu vực ngập khi triều cường. Thường xuyên nạo vét, khai thông các cống rãnh hiện
hữu và hoàn thành các công trình lắp đặt cống thoát nước theo kế hoạch đang triển khai.
Nghiên cứu lắp đặt hệ thống van một chiều tại các cửa xả ra sông Sài Gòn
5. Nghiên cứu phân bố lại các khu dân cư, các cơ quan, xí nghiệp, bệnh viện,
trường học trên địa bàn thành phố và tăng cường công tác quản lý trật tự đô thị

sơn khu vực dừng cho làn xe chờ rẽ trái.
2. Điều khiển giao thông
+ Kết hợp sử dụng có hiệu quả hệ thống đèn tín hiệu giao thông hiện hữu với các
trung tâm điều khiển và hệ thống đèn tín hiệu giao thông mới được xây dựng nhằm tổ
chức điều khiển giao thông một cách khoa học, hạn chế tối đa nạn ùn tắc giao thông bằng
sự điều tiết kịp thời và hợp lý về mật độ lưu thông trên các tuyến đường.
+ Bổ sung và hoàn thiện hệ thống biển báo giao thông, tín hiệu sơn đường và hệ
thống đèn tín hiệu giao thông trên đường phố
+ Đẩy nhanh tiến độ hoàn thành, đưa vào sử dụng có hiệu quả Trung tâm điều
khiển giao thông và các hệ thống đèn tín hiệu giao thông thuộc các dự án vay vốn ODA
của Cộng hòa Pháp và Tiểu dự án “Tăng cường năng lực quản lý giao thông đô thị
TP.HCM” vay vốn của Ngân hàng thế giới.
+ Thực hiện chương trình thông tin nhanh về ùn tắc giao thông và kẹt xe trên sóng
FM của Đài Tiếng nói nhân dân thành phố.
3. Cải tạo, mở rộng các nút số nút giao thông hay bị ùn tắc
+ Cải tạo, mở rộng một số nút giao thông thường bị ách tắc và một số đường hẹp.
Trong những năm tới, phải lập kế hoạch cụ thể cho việc cải tạo mở rộng đối với từng
tuyến đường, từng nút giao thông để xác định kinh phí và tiến độ.
+ Xây dựng một số cầu hoặc hầm vượt dành riêng cho xe 2 bánh và người đi bộ tại
những đoạn đường (giao lộ) thường bị tắc nghẽn giao thông và trên các trục đường lưu
thông với tốc độ cao (đường phố chính cấp I).
4. Đầu tư xây dựng hệ thống bến bãi và phát triển mạng lưới vận tải hành khách công cộng

+ Đầu tư xây dựng 6 bãi đậu xe vận tải tại các cử ngõ ra vào thành phố.
+ Quy hoạch xây dựng các bãi chứa, các gara nhiều tầng để dậu xe ôtô 4 chỗ ngồi;
bến bãi đậu xe vận tải nhẹ, bãi để xe 2 bánh ở nội đô.
+ Đầu tư phát triển mạng lưới vận chuyển hành khách công cộng bằng xe buýt.
+ Nghiên cứu hoàn chỉnh mạng lưới vận tải hành khách công cộng có kế hoạch và
tiến độ thực hiện theo từng năm.
14

bàn Thành phố. Tuy không có gì mới mẻ, xong để giải quyết triệt để thực trạng ùn tắc
giao thông hiện nay cần có một lộ trình rõ ràng, thực hiện nhiều giải pháp song đồng bộ,
15


có sự chỉ đạo thống nhất, thường xuyên, liên tục, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành,
các cấp cộng với ý thức trách nhiệm của từng người dân.
III. Kiến nghị
Để việc chống kẹt xe đạt hiệu quả, Thành phố cần chỉ đạo các cơ quan, ban ngành
chức năng phối hợp triển khai thực hiện các vấn đề sau :
1. Ngắn hạn:
- Mở rộng đường xá, nâng cấp cơ sở hạ tầng giao thông đã hư hỏng, xuống cấp.
- Tăng cường đội ngũ giao thông: Thanh tra giao thông, Cảnh sát giao thông, Tình
nguyện viên giao thông…
- Thay đổi chính sách ưu tiên của các loại xe ưu tiên cho chuyên chở hành khách
công cộng, tăng cường xe búyt.
- Phân lọai luồng giao thông, giao thông cơ giới riêng, đi bộ hợp lý, bổ sung các
tuyến đường một chiều
- Tăng thuế, tiền phí giao thông vào các khu trung tâm
2. Trung hạn
Xác định chuyên chở công cộng là phương tiện hữu hiệu nhất trong giao thông đô
thị, vì xe các phương tiện GTCC chỉ đi vào những tuyến cố định nên cần phải có quy
hoạch, kế hoạch triển khai.
3. Dài hạn
- Khi mật độ dân số qua cao thì không có cách nào để giải quyết vân đề kẹt xe vì
vậy cần phải giải quyết gốc rễ của vấn đề. Thay vì quản lý giao thông thì cần quy họach
đô thị trước nhất về mặt dân số và mật độ dân số.
- Quy họach phải hiệu quả, nhà ở phải gần trường học, chợ, công sở. Đặc biệt lưu ý
khi quy họach các công sở bởi vì công sở là nơi tập trung người di chuyển cao nhất, nhất
là giờ cao điểm.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status