điều tra tình hình nhiễm bệnh giun xoắn (trichinellosis) trên lợn tại xã ngũ hiệp huyện thanh trì – hà nội - Pdf 24

Báo cáo thực tập tốt nghiệp Phạm Văn Trượng TYA
Lời cảm ơn
Để hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp này, em xin bày
tỏ lòng kính trọng và biết ơn tới thầy giáo Trần Văn Quyên và các
thầy, các cô, các cán bộ trong bộ môn Ký sinh trùng – Kiểm
nghiệm thú sản – Vệ sinh thú y đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và
giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện báo cáo tốt nghiệp.
Đồng thời, em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo cô giáo
trong Khoa thú y – Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã tạo
điều kiện cho em thực hiện và hoàn thành báo cáo.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn sự động viên, giúp đỡ
của các cán bộ trong Trung tâm chẩn đoán thú y TW. Đặc biệt xin
cảm ơn Ban lãnh đạo và các cán bộ của Trung tâm đã giúp đỡ để
em hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp này. Với trình độ còn
một số hạn chế nên báo cáo của em tuy đã có những thành công
nhất định nhưng cũng không khỏi những thiếu sót, em rất mong
nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô và các bạn để em tích
luỹ được kinh nghiệm giúp ích cho công việc sau này.
Hà Nội, ngày … tháng… năm 2014
Sinh viên
Phạm Văn Trượng
1
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Phạm Văn Trượng TYA
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Xã hội ngày càng phát triển, như cầu sinh hoạt của con người ngày
càng cao. Cuốn theo sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu, nền kinh tế
nước ta cũng trên con đường công nghiệp hóa hiện đại hóa. Đất nước thay
đổi từng ngày từng giờ, thế nhưng những tập tục ăn uống lâu đời vẫn không
thay đổi không chỉ ở những vùng sâu vùng xa mà kể cả nhưng người dân

tiến hành thực hiện đề tài nhằm mục đích :
- Điều tra tình hình nhiễm giun xoắn trên lợn tại 03 bản của xã Làng
Chiếu thuộc huyện Bắc Yên – tỉnh Sơn La.
- Thực hiện phương pháp tiêu cơ, phương pháp chẩn đoán miễn dịch
để xác định ấu trùng giun bao trong cơ từ đó so sánh sự chính sác của các
phương pháp trên.
- Tìm hiểu nguyên nhân xẩy ra ổ dịch tại xã Làng Chếu tỉnh Sơn La
- Từ đó đề ra một số biện pháp phòng trừ bệnh tại địa phương

3
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Phạm Văn Trượng TYA
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 MỘT SỐ HIỂU BIẾT VỀ BỆNH GIUN XOẮN (GIUN BAO)
Bệnh giun xoắn là bệnh chung giữa người và đông vật. Việc nhiễm
các loài giun xoắn được xác định thông qua thói quen ăn uống(bao gồm
người ăn thịt chưa chín của thịt động vật khác). Đây là yếu tố chính lây
truyền cho con người. Theo (Porio and Murrll, 2006)
Ở những nước đang phát triển những thông tin về bệnh giun xoắn
trên động vật và con người không rõ ràng, chỉ có một số nước có nền kinh
tế phát triển có những bản báo cáo chính thức về việc nhiễm bệnh trên động
vật và con người, thông qua các ngành thú y, sinh vật học, động vật học,
dịch tễ, những người làm việc với ký sinh trùng.
Trong vòng 20 năm trở lại đây, mặc dù đã tích cực phòng chống
song bệnh giun xoắn vẫn được phát hiện ngày một tăng ở nhiều quốc gia,
thậm chí còn thành dịch. Nhiều nhà khoa học cho rằng cần đưa bệnh giun
xoắn lên hàng bệnh cần báo dịch. Do sự lạm dụng sinh thái xảy ra ở mọi
nơi trên thế giới song lại không thiết lập hệ thống giám sát điều tra chặt chẽ
khiến cho tỷ lệ nhiễm bệnh này tăng lên. Theo thông báo của WHO, tháng

người. Theo số liệu của Tổng cục thống kê, tính đến năm 2006 toàn tỉnh có
khoảng 384.500 lợn, tuy nhiên phương thức chăn nuôi vẫn chủ yếu là nhỏ
lẻ, hình thức chăn nuôi lợn thả rông vẫn tồn tại, trình độ dân trí thấp, tập tục
sinh hoạt thức ăn chưa nấu chín như món thịt chua (đặc biệt vào các ngày
lễ, đám cưới…) vẫn còn, công tác kiểm soát giết mổ còn yếu kém, bà con
vẫn còn giết mổ tại nhà. Đây là những yếu tố gây nguy cơ nhiễm bệnh cao.
Do giun Trichinella spiralis gây ra, là một bệnh chung của người
và nhiều động vật có vú khác, đặc biệt là lợn, chuột, loài ăn thịt nuôi trong
5
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Phạm Văn Trượng TYA
nhà hoặc dã thú. Động vật nhiễm từ con này sang con khác do ăn thịt nhau
và ăn xác chết, người bị nhiễm do ăn thịt tái hoặc nấu chưa kỹ. Bệnh đã có
từ lâu, năm 1828 lần đầu tiên Peacok thấy vết vôi hoá ở cơ thịt một tử thi,
nhưng không tìm được nguyên nhân. Năm năm sau, Hilton mổ tử thi một
cụ già 70 tuổi thấy hiện tượng trên và cho bệnh tích do ấu trùng Cysticercus
ở thời kỳ đầu gây ra. Hai năm sau (1835), Paget kết luận, vôi hoá ở cơ là do
ký sinh trùng. Trong năm đó, Owen nghiên cứu chi tiết loại ký sinh trùng
này, đặt tên là Trichinella spiralis. Owen, 1855. Năm 1860, Zenker lần đầu
tiên chẩn đoán chính xác bệnh nhân bị chết do giun xoắn, chứng minh
người mắc bệnh là do ăn thịt lợn hun khói hoặc thịt ướp.
2.2 BỆNH GIUN BAO
2.2.1. Hình thái giun Trichinela spiralis Hình ảnh: giun xoắn
Giun trưởng thành ký sinh ở ruột non của người, lợn và nhiều loài động
vật có vú khác, còn ấu trùng sống ở cơ vân. Cơ thể giun chia hai phần, phần
trước nhỏ, phần sau to, thực quản chia hai phần giống hình chuỗi hạt chiếm
tới 1/3 thân thể.
6

đấy chúng bắt đầu lớn lên, sau khi nhiễm 30 ngày đã dài 1 mm và đường
kính 35 m. Chúng bắt đầu cuộn lại 17 - 20 ngày sau khi nhiễm, và kén được
hình thành rõ khoảng 21 ngày, 7 - 8 tuần sau khi nhiễm thành dạng đầy đủ.
Khi ấu trùng có đường xoắn giống cái vặn nút chai. Một ấu trùng hoàn toàn
phát triển thường có 2,5 vòng xoắn. Chúng có thể gây bệnh được ở giai
đoạn này và đã phân biệt được giống. Đầu trước nhọn, đầu sau hơi hẹp, bên
trong đã có các cơ quan như ruột, tế bào ruột, tinh hoàn và buồng trứng tuỳ
theo giống. Đuôi giun thì cụt.
Ấu trùng sống rất lâu trong cơ thể: ở lợn 11 năm, ở người 20 - 24
năm, có khi đến 25 - 31 năm. Tuổi thọ của giun cái chưa biết chắc chắn
nhưng không quá 5 - 6 tuần, của giun đực thì ngắn hơn. Như vậy trong cơ
thể một động vật vừa có giun trưởng thành, vừa có ấu trùng nên vừa là ký
chủ cuối cùng vừa là ký chủ trung gian.
2.2.3. Dịch tễ học
* Đường xâm nhập vào cơ thể: nói chung, các trường hợp mắc bệnh
giun xoắn đều do ăn thịt lợn chưa chín hoặc thịt các động vật khác mang ấu
trùng giun xoắn.
Gần đây, nhiều tác giả rất chú ý tới khả năng truyền bệnh giun xoắn
qua phân. Năm 1938, M.C. Coy lần đầu ấu trùng thải ra trong phân chuột
cống có sức miễn dịch gây nhiễm được cho chuột cống bình thường,
8
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Phạm Văn Trượng TYA
Spindler (1953) cũng dùng phương pháp tương tự gây nhiễm cho lợn.
Olsen (1958) và Zimmerman (1953 – 1960) chứng minh, trong phân của
con vật không chỉ có ấu trùng còn sức hoạt động mà còn có khá nhiều kén
phát triển tốt, bởi vậy con vật nào ăn phải là bị nhiễm bệnh. Charles (1968)
thí nghiệm gây nhiễm giun xoắn cho lợn bằng cách cho ăn phân lợn có
bệnh, thấy, nuôi chung lợn khoẻ và lợn có bệnh hoặc lấy phân lợn bệnh
trộn với thức ăn cho lợn khỏe thì vẫn bị nhiễm giun xoắn. Giun xoắn truyền
qua phân còn phụ thuộc nhiều yếu tố khác. Thí dụ, khi gây nhiễm ấu trùng

Zenker và Leuckart cho rằng, lợn nhiễm bệnh chủ yếu là do ăn phải
thịt chuột có ấu trùng giun xoắn, và người ăn thịt lợn có ấu trùng chưa nấu
chín thì nhiễm bệnh. Hai tác giả này cho lợn và chuột là khâu cơ bản nhất
10
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Phạm Văn Trượng TYA
trong vòng tuần hoàn của giun xoắn, còn các động vật khác là mang căn
bệnh thứ yếu và người là con đường tuyệt vọng của giun xoắn. Vòng tuần
hoàn có thể tóm tắt như sau:
Chuột -> Lợn -> Người
Ý kiến trước đây cho rằng chuột có vai trò quan trọng nhất trong
dịch tễ học đã bị bác bỏ. Kết quả nghiên cứu của Spink và Augustin (1935)
về tỷ lệ chuột nhiễm bệnh cho thấy, hơn 42% chuột quanh lò mổ và 12%
chuột ở vùng chợ bị nhiễm bệnh, còn chuột ở trong chuồng lợn hầu như
không nhiễm bệnh. Haul (1938) kết luận, chuột chỉ đóng vai trò thứ yếu
trong việc gây bệnh ở người; lợn thường không ăn thịt chuột cả lúc trong
chuồng lợn có nhiều chuột. Vai trò của chuột về mặt dịch tễ học giảm đi, và
đến nay đã biết ít nhất có 49 loài có vú có thể nhiễm bệnh tự nhiên.
Trong nhiều trường hợp bệnh có vòng lây truyền giữa các dã thú
trong rừng. Người có thể nhiễm bệnh do thịt lợn rừng, gấu, chó, hải mã, hải
cẩu và chồn Bắc cực. Ngoài ra, chim trời ăn xác bệnh, bài tiết ấu trùng theo
phân và côn trùng ăn thịt cũng có vai trò tương tự. Cả hai loại này đầu chỉ
chứa ấu trùng trong thời gian ngắn. Ấu trùng đi qua ruột chồn cũng có thể
gây bệnh cho lợn, nếu lợn ăn phải phân đó.
Kozar (1962) đã tổng hợp tình hình bệnh ở người và động vật trong
nhiễu vùng trên thế giới. Đã thống kê được 49 loài thú rừng có vú nhiễm
căn bệnh ở nhiều vùng bao gồm các dã thú ăn thịt, loài mèo, động vật nuôi
lấy lông, loài gậm nhấm và cả loài ăn côn trùng. Kozar nhận định hai vòng
lây truyền riêng biệt một vòng hẹp của một chu trình ở thành thị hoặc nông
thôn bao gồm lợn nhà, chó, mèo, loài vật nuôi lấy lông, chuột cống, các loài
gặm nhấm, kể cả loài gặm nhấm ăn côn trùng. Một vòng nữa lớn hơn bao

- Ấu trùng các loài ruồi (Musca) đều có thể nuốt rất nhiều kén ấu
trùng giun xoắn, duy trì khả năng truyền bệnh tới ngày thứ tám. Dã thú và
12
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Phạm Văn Trượng TYA
lợn có thể nhiễm bệnh do ăn phải những loài côn trùng này hoặc nhộng của
ruồi. Trong điều kiện tự nhiên, những côn trùng này là ký chủ dự trữ tạm
thời của giun và trở thành khâu phụ trong việc lây truyền từ xác chết đến
các động vật ăn thịt, động vật ăn tạp và động vật ăn côn trùng. Loài chim
ăn tạp có tác dụng nhất định trong việc bảo tồn và gieo rắc giun xoắn.
Căn cứ tài liệu trên đây, có thể xác định nguồn dịch nguyên thuỷ của
bệnh giun xoắn ở trong nhóm sinh vật trong rừng, trong đó bao gồm tất cả
mọi động vật dã sinh – vật mang giun xoắn. Nguồn dịch kế phát của bệnh
giun xoắn ở trong nhóm sinh vật có liên hệ với người có thể gồm 3 khâu:
- Mèo, chó, chuột nhà. – Lợn - Người.
Trong các động vật mang giun xoắn thì tỷ lệ nhiễm giun cao nhất là
dã thú, kế đó là mèo, chuột nhà và chó, cuối cùng là lợn.
Nguồn dịch nguyên thuỷ lây truyền sang nguồn dịch kế phát là do
sản phẩm săn bắn. Cách giải thích này của Merkuchev có ý nghĩa thực tiễn
trong công tác phòng chống bệnh giun xoắn.
* Sức đề kháng của căn bệnh: ấu trùng sống rất lâu trong cơ thể.
Khi kén già thì màng bọc quanh ấu trùng dày hơn và bị thấm vôi. Sau khi
thành kén, chúng sống rất lâu. ở lợn 11 năm, ở người 20 -24 năm, có khi tới
25 -31 năm nhưng khả năng gây nhiễm giảm đi nhiều.
Sức đề kháng của ấu trùng giun trong xác chết rất mạnh. Sau khi con
vật chết, thịt thối, chúng vẫn sống được 2 -3 tháng, có khi trên 4 tháng,
những động vật có khả năng nhiễm giun xoắn nếu ăn phải thịt này thì vẫn
mắc bệnh. Các cách xử lý như nấu chín, làm lạnh, ướp muối và gần đây
chiếu bằng tia X, đều làm chết ấu trùng. Ở nhiệt độ 70
0
C, ấu trùng trong

như động vật. Thí dụ, tỷ lệ thú rừng nhiễm giun ở Italia cùng gần như ở
Đức, nhưng tỷ lệ người bị bệnh ở Đức lại cao hơn ở Italia rất nhiều. Ở
Trung Quốc, người hầu như không bị bệnh, nhưng bệnh lại có ở thú rừng
và gia súc với tỷ lệ: cáo 47,1%, lợn – 0,88%, chuột 2,2%, chó 28,6%
* Phân bố theo địa lý và tình hình nhiễm giun xoắn ở Việt Nam.
Nói chung bệnh giun xoắn ở người, gia súc và thú rừng đã được phát hiện ở
khắp các vùng trên thế giới (Kozar, 1962). Bệnh phân bố khá rộng ở nhiều
nước thuộc Châu Âu, Châu Á, Châu Mỹ la – tinh. Riêng ở Châu Úc ít khi
gặp. Hiện nay Đan Mạch được coi là một nước đã thanh toán xong bệnh
giun xoắn. Bệnh đang phát triển mạnh nhất ở Ba Lan và vùng Bắc cực.
Theo Cameron (1962), bệnh thường có trong một số loài ăn thịt Bắc cực.
Do thói quen ăn uống của người Eskimô và sự thiếu dần đun nấu, bệnh có
nhiều ở Cameron (1962), có khi cả bộ lạc bị chết hết trong mùa đông.
14
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Phạm Văn Trượng TYA
Ở Việt Nam: Đầu năm 1970 phát hiện ổ dịch giun xoắn ở Nghĩa Lộ từ
lợn truyền cho người vì ăn thịt lợn sống.
Ngoài ra, các năm 1967, 1968 cũng phát hiện được hai ổ dịch giun
xoắn do ngoại lai. Hiện nay ta đã biết ký chủ nhiễm giun xoắn ở Việt Nam
có mèo, chó, lợn và người.
Dưới đây là thống kê kết quả điều tra ký chủ nhiễm giun xoắn ở Việt
Nam và Lào.
Tình hình nhiễm giun xoắn ở động vật (Việt Nam và Lào)
Ký chủ
Số
kiểm
tra
(con)
Số có
(con)

nằm, bốn chân cứng thẳng, có khi thuỷ thũng ở mắt, chân. Triệu chứng trên
kéo dài khoảng 1 tháng, sau đó không rõ rệt.
Triệu chứng ở người biểu hiện rất nặng và điển hình: Trong 5 -15 ngày
đầu của bệnh, giun trưởng thành gây ra ỉa chảy, nôn mửa giống như ngộ
độc thức ăn cấp tính. Ấu trùng xâm nhập vào sợi cơ gây viêm cơ, đau bắp
thịt, có thể nhẹ hoặc rất nặng. Khi nhiễm nặng, khó thở, khó nhai, khó nuốt,
khó nói. Thủy thũng quanh mặt và hai bên mặt, thân nhiệt thường cao, tăng
bạch cầu ái toan. Do viêm cơ tim nặng, mạch đập yếu, bị tái tim, huyết áp
hạ nhanh, người bệnh mê man. Rối loạn thần kinh như viêm thần kinh, mù,
mê sảng, viêm não. Theo tài liệu ở nước ta (1971), thấy một số triệu chứng
chủ yếu ở 63 bệnh nhân như sau:
Đau cơ chiếm tỷ lệ 95,5%, sốt 93,6%,;
Phù các loại 84,1%, ỉa chảy 79,6% ;
Bạch cầu ái toan tăng 79,6%, đau quặng bụng 50,7%;
Mỏi cơ 20,6%, nhức đầu 15,8%, nổi ban 14,4% vân vân.
* Bệnh tích :
Giai đoạn trưởng thành ở ruột, giun gây viêm ruột, khi nhiễm nặng có
thể ỉa chảy, có máu, viêm ruột cata cấp tính, niêm mạc dầy, sưng, phủ nhớt,
có nhiều điểm xuất huyết. Ít khi thấy người chết vào tuần đầu nhiễm bệnh.
Sau khi nhiễm 15 ngày, ấu trùng vào cơ triệu chứng lâm sàng biểu hiện như
16
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Phạm Văn Trượng TYA
sau: viêm cơ cấp tính sốt và đau bắp thịt, khó nhai, khó nuốt, khó đi lại, khó
thở, phù ở mặt, rõ nhất ở mí mắt, ăn ít, gầy sút nhanh. Bệnh tích thường
thấy trong cơ vân (cơ hoành, cơ liên sườn…), cũng có ở phổi, ở tim và ở
óc. Hiện nay có tác giả cho rằng, ấu trùng thường vào những cơ có hệ
thống mao quản phân bố nhiều và máu lưu thông nhiều. Nhận xét này được
V.Britov (1959) xác nhận bằng thực nghiệm. Tác giả dùng một cái nẹp kim
khí áp vào chi sau của chó và gây tổn thương, kết quả ở cơ chi này có tới
29% ấu trùng nhiễm vào nhưng vẫn ít hơn so với chi khoẻ.

bệnh có thể tách khỏi phần còn lại của sợi. Màng sợi dầy dần lên do lắng
đọng các chất. Sau 3- 4 tuần kén đã hình thành rõ, ấu trùng bị hao trong
một tổ chức dầy, đồng nhất, hình hạt chanh, ở mỗi đầu màng bọc dầy hơn
và những tế bào mỡ phát triển từ các đầu vào sợi ở xung quanh làm cho
toàn thể tổ chức có hình bầu dục. Thường chỉ có một ấu trùng trong một
kén, đôi khi có hai, nhiều hơn nữa thì rất ít. Kén lớn 400 - 700
µ
, thường
tách từng cái một nhưng có khi làm thành cuỗi hoặc tập hợp lại làm thành
một bệnh tích hình hạt.
Sau khi kén bị biến đổi, thoái hoá thành bã đậu dẫn tới canxi.
Thường thấy canxi hoá vào tháng thứ 6 sau khi nhiễm. Rối loại dinh dưỡng
ở cơ, kèm theo tích luỹ canxi, cường độ trao đổi chất giảm. Bắt đầu ngấm
vôi hai đầu, sau thấm dần vào bao rồi vào giun và giun bị chết. Thời gian
bắt đầu canxi hoá thay đổi tuỳ theo ký chủ, ở thỏ thấy vào 3 tháng và hoàn
toàn canxi vào tháng thứ 7, ở lợn vào tháng thứ 5 và hoàn toàn vào tháng
thứ 9, còn ở chuột nhắt thì chậm hơn, sau 1 năm vẫn thấy một số kén không bị
canxi, ở người có thể dài hơn từ 14 – 40 năm. Nói chung canxi hoá hoàn toàn
xảy ra trong 15 -24 tháng sau khi nhiễm. Thấy điểm vôi hoá ở đầu cực kén,
hoặc ở mô liên kết gần cực. Sau đó các cực bị canxi hoá có hình hạt chanh.
Quá trình vôi hoá theo nhiều đường, lúc đầu vôi thấm ở màng mỏng
toàn bộ kén. Lúc đầu ấu trùng còn sống, sau đó lớp vôi dày dần và ấu trùng
18
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Phạm Văn Trượng TYA
chết. Kén có hình bầu dục. Có nhiều trường hợp, vôi tích ở cực và tràn
xuống, kén hai cực liên kết và bao phủ cả ấu trùng.
Kén canxi hoá dễ thấy bằng mắt thường, đặc biệt ở chỗ nối gân với
cơ. Đi đôi với các bệnh tích trên, có thể có biến đổi ở tim; cơ tim màu nhợt
nhạt tới màu sẫm, đôi khi thoái hoá mỡ, cơ tim nhão và có tắc mạch.
Về vi thể, cơ tim có thuỷ thũng và có những ổ sợi cơ hoại tử phân

xoắn.
- Xác định kháng thể kháng ấu trùng giun xoắn
+ Phương pháp huyết thanh học bao gồm ELISA, Western Blot.
IFAT; trong đó phương pháp ELISA (kháng nguyên E/S) được khuyến cáo
dùng trong các chương trình điều tra huyết thanh học.Về mặt thú y, cần
kiểm tra giun xoắn ở thịt lợn và các loài gia súc vật khác đảm bảo cung cấp
thịt hợp vệ sinh. Cần cải tiến kỹ thuật kiểm tra giun xoắn theo ba nội dung:
- Nghiên cứu vị trí cơ thịt kiểm tra giun xoắn. Đã so sánh các loại cơ
và thấy cơ chân hoành cách mô bị nhiễm giun nhiều nhất, vì thế thường lấy
cơ này để kiểm tra.
Cải tiến trang thiết bị và kỹ thuật kiểm tra giun xoắn. Đã nghiên cứu
chế máy cắt thịt thành miếng nhỏ và máy phóng ảnh kiểm tra giun xoắn tự
động hàng loạt.
- Nghiên cứu biện pháp xử lý thịt lợn có giun xoắn ở nhiệt độ thấp.
Việc chẩn đoán giun xoắn ở lợn và các súc vật khác nhau khi mổ
thường dùng phương pháp ép cơ: lấy thịt ở chân hoành cách, khoảng 40
-50g, dùng kéo cong cắt lấy 20 – 24 miếng nhỏ bằng đầu tăm, rồi dàn đều
trên phiến kính kiểm tra giun xoắn, ép mạnh hai đầu phiến kính cho thịt nát
ra, đặt vào kính soi giun xoắn hoặc kính hiển vi có độ phóng đại 40 – 50
lần. Phương pháp này thường dùng kiểm tra giun xoắn ở các lò mổ lợn,
kém chính xác, năng suất thấp.
20
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Phạm Văn Trượng TYA
Phương pháp tiêu cơ: lấy một lượng cơ hoành cách, độ 3 – 4g cho
vào lọ thuỷ tinh hoặc đĩa lồng, thêm 5 -7 ml dung dịch tiêu cơ (pepsin 1%,
HC1 1%^ và NaCL 0,2%) giữ ở nhiệt độ khoảng 36 -39
0
C trong 6 -12 giờ,
cơ thịt bị tiêu đi, còn lại ấu trùng giun xoắn. Phương pháp này độ chính xác
cao, mất nhiều thời gian, chỉ dùng trong điều tra, nghiên cứu.

chua.
- Kiểm tra chặt chẽ thịt lợn, không để thịt bị nhiễm giun xoắn bán ra
thịt trường. Cần nghiêm túc thực hiện chế độ kiểm nghiệm giun xoắn ở tất
cả các lò mổ và phải coi biện pháp này có tính chất pháp lệnh.
- Chăn nuôi lợn hợp vệ sinh, không thả rông, thức ăn phải sạch sẽ,
nhất là không để phân chuột lẫn vào thức ăn hoặc nền chuồng lợn.
- Tăng cường biện pháp diệt chuột, vì đây là nguồn truyền bệnh cho
lợn và từ lợn truyền cho người.
- Xử lý thịt lợn và các loại thịt thú rừng đã biết là có nhiễm giun
xoắn. Phương pháp xử lý có thể là: đun sôi trong 2 giờ để tủ lạnh ở nhiệt độ
– 15
0
C trong 20 ngày.

22
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Phạm Văn Trượng TYA
PHẦN III :
NỘI DUNG,ĐỊA ĐIỂM,PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.1. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Thực hiện dề tài với các nội dung sau :
- Xác định tình hình nhiễm giun xoắn trên lợn ở xã Làng Chiếu – huyện
Bắc Yên – tỉnh Sơn La
- Dùng phương pháp chẩn đóan huyết thanh và phương pháp tiêu cơ để
chẩn đoán từ đó so sánh 2 phương pháp trên
- Nuôi cấy cho chuột phòng thí nghiệm để nhiễm giun bao
3.2.ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
3.2.1. Tình hình nhiễm giun xoắn ở xã Làng Chiếu – huyện Bắc Yên –
tỉnh Sơn La
Tháng 6 năm 2008 tại xã Làng Chiếu huyện Bắc Yên – Sơn La đã xảy ổ

C.
Bắc Yên là một huyện vùng cao của tỉnh Sơn La nằm dọc theo hai bờ hồ
sông đê có diện tích tự nhiên 1.090, 78 km
2
, trong đó đất công nghiệp
chiếm 3%; đất lâm nghiệp là 58,3%, còn lại đất chuyên dụng, núi đá, đồi
trọc.
24
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Phạm Văn Trượng TYA
Hình ảnh: Xã Làng Chếu- Bắc Yên- Sơn La
Dân trong xã Làng Chiếu – Bắc Yên – Sơn La chủ yếu là người dân tộc H

mông. Cuộc sống rất khó khăn nguồn lương thực chủ yếu tự cung, tự cấp.
Chăn nuôi lợn cò rất lạc hậu, không có chuồng trại; lợn thường được thả
rông, thức ăn cho lợn cũng do lợn tự kiếm xung quanh nhà và đồi, rừng.
Do địa điểm miền núi ,gần gũi với thiên nhiên, nên gia súc dễ nhiễm các
bệnh có tính chất nguồn dịch thiên nhiên như bệnh giun bao V.V
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status