Tình hình nhiễm bệnh giun đũa lợn ở một số xã của huyện tân yên bắc giang - Pdf 13

DANH MỤC CÁC BẢNG
MỤC LỤC
3
Phần 1
CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
1.1.1. Vị trí địa lý
Tân Yên là một huyện miền núi ở phía tây bắc của tỉnh Bắc Giang, có
diện tích tự nhiên 20.441,85 ha.
- Phía bắc giáp huyện Yên Thế.
- Phía đông giáp huyện Lạng Giang.
- Phía nam giáp huyện Việt Yên và thành phố Bắc Giang.
- Phía tây giáp huyện Hiệp Hòa và tỉnh Thái Nguyên.
Huyện Tân Yên có 5 tuyến đường tỉnh lộ (đường TL 295, 287, 297,
284, 272) chạy qua, phía đông có sông Thương là tuyến đường thủy quan
trọng tạo cho huyện các lợi thế hơn trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa và
quốc phòng với các tỉnh phía bắc và đông Bắc.
1.1.2. Địa hình
Huyện Tân Yên có hướng dốc nghiêng từ tây bắc xuống đông nam. Độ
cao trung bình của huyện từ 10 - 15 m so với mực nước biển, điểm cao nhất là
núi Đót 121,8 m thuộc xã Phúc Sơn, điểm thấp nhất là 1 m thuộc xã Quế
Nham. Địa hình được chia làm 3 vùng địa hình chính là vùng trung du, vùng
đồng bằng và vùng thấp.
Vùng trung du: Có đồi gò, phía đông và phía bắc chiếm khoảng 40%
diện tích tự nhiên.
Vùng đồng bằng: Nằm phía tây của huyện chiếm 55% diện tích tự nhiên.
Vùng thấp: Nằm phía nam của huyện chiếm 5% diện tích tự nhiên.
1.1.3. Khí hậu
Huyện Tân Yên chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa
nóng ẩm, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng
4 năm sau. Đặc điểm chính về khí hậu thời tiết của huyện như sau:

tháng 3 năm sau. Như vậy, chế độ thủy văn trên sông ở Tân Yên có thể chia ra
làm hai mùa rõ rệt; mùa lũ và mùa khô.
1.1.5. Các nguồn tài nguyên
* Tài nguyên đất
Đất của Tân Yên được hình thành do 2 nguồn gốc phát sinh gồm: Đất
hình thành tại chỗ do phong hóa đá mẹ và đất hình thành do phù sa sông bồi
tụ. Do đó huyện có các nhóm đất chính sau:
4
5
+ Nhóm đất phù sa: Là nhóm đất chủ yếu ở địa hình đồng bằng, được
bồi đắp bởi sản phẩm phù sa của sông Thương có diện tích 2.431,37 ha chiếm
11,9% tổng diện tích tự nhiên được chia thành 6 đơn vị đất khác nhau; đất phù
sa không được bồi hàng năm trung tính ít chua; đất phù sa không được bồi
hàng năm, chua, gley yếu; đất phù sa không được bồi hàng năm, chua; đất
phù sa úng nước quanh năm gley mạnh; đất phù sa có sản phẩm feralitic.
Thích hợp cho phát triển cây hàng năm ngắn ngày như lúa, ngô, đậu, đỗ,
+ Nhóm đất xám bạc màu: Với diện tích 8.882,49 chiếm 43,47% tổng
diện tích tự nhiên được chia thành 4 loại sau: Đất bạc màu phát triển trên đất
phù sa cũ có sản phẩm feralitic trên nền cơ giới nặng; đất bạc màu phát triển
trên phù sa cũ có sản phẩm feralitic, trên thành phần cơ giới trung bình; đất
dốc tụ bạc màu có sản phẩm feralitic; đất dốc tụ bạc màu không có sản phẩm
feralitic.
+ Nhóm đất feralitic: Bao gồm 7 đơn vị đất chiếm 22,03% diện tích tự
nhiên. Phân bố chủ yếu ở địa hình đồi núi, được phát triển trên mẫu chất phù
sa cổ, dăm cuội kết và cát kết phiến thạch sét. Các đơn vị đất chính gồm; đất
ferlitic biến đổi do trồng lúa nước; đất feralitic nâu vàng trên phù sa cổ; đất
feralitic nâu tím phát triển trên phiến thạch sét, tầng đất dày, tầng đất trung
bình, tầng đất mỏng; đất feralitic vàng đỏ phát triển trên sa thạch cuội kết,
răm kết; đất feralitic xói mòn mạnh.
Tóm lại: Đất đai của huyện rất thích hợp cho phát triển cây trồng ngắn

hóa phong phú, có nhiều nét độc đáo và giàu bản sắc dân tộc.
Tân Yên luôn là vùng đất có truyền thống văn hóa, truyền thống yêu
nước và truyền thống cách mạng. Nhân dân trong huyện có tinh thần đoàn kết
yêu quê hương, có đức tính cần cù, chăm chỉ, vượt qua khó khăn về kinh tế,
sự khắc nghiệt của thiên nhiên để từng bước đi lên. Đó là những nhân tố cơ
bản và sức mạnh tinh thần để hướng tới sự phát triển kinh tế xã hội, trong xu
hướng hội nhập cả nước, khu vực và quốc tế; thuận lợi để Đảng bộ và chính
6
7
quyền các cấp lãnh đạo nhân dân vững bước tiến lên trong sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá xây dựng huyện Tân Yên giàu, đẹp, văn minh.
1.1.6. Cảnh quan môi trường
Cũng như các vùng trung du, núi thấp ở phía bắc huyện Tân Yên có
cảnh quan thiên nhiên đa dạng (cảnh quan đồng bằng, cảnh quan đồi gò, cảnh
quan rừng núi), trên địa bàn các xã miền núi có nhiều thắng cảnh tự nhiên đẹp
tạo ra nhiều tiềm năng lớn cho phát triển du lịch như khu du lịch Suối Mỡ, hội
Cầu Vồng
Là một huyện miền núi hiện các ngành kinh tế xã hội đang được hình
thành và phát triển nên mức độ ô nhiễm môi trường nước, không khí, đất đai
ở huyện chưa thực sự nghiêm trọng. Trong những năm qua UBND huyện Tân
Yên đã chỉ đạo các xã, thị trấn quy hoạch bãi rác thải, tổ chức thu gom rác
thải ở các thị tự, thị trấn và các chợ.
Cũng như xu hướng chung của tỉnh, điều kiện cảnh quan môi trường
của Tân Yên đang từng bước được cải thiện. Phong trào phủ xanh đất trống,
đồi núi trọc được đẩy mạnh, cây ăn quả được tập trung đầu tư hình thành các
vùng chuyên canh, đồng thời tạo ra các tiểu vùng có hệ sinh thái bền vững.
- Môi trường khu vực nông thôn: Tập quán sử dụng các chất đốt dạng thô
như than đá, củi, rơm rạ, các sản phẩm nhựa, nilon trong sinh hoạt của nhân
dân, sử dụng quá lớn các chất phế phẩm hoá học trừ sâu, phân hóa học trong sản
xuất nông nghiệp, gây ô nhiễm môi trường sinh thái trên địa bàn huyện.

Nền kinh tế của huyện liên tục phát triển với tốc độ khá, giá trị sản xuất
tăng bình quân 10,05%/năm trong đó: Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 9,4%;
công nghiệp - xây dựng cơ bản tăng 18,4%; thương mại, dịch vụ tăng 6,7%.
Trong những năm qua cơ cấu kinh tế của huyện đã có sự chuyển dịch,
tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2008 giảm từ 78,4% xuống còn
69,07%; công nghiệp - xây dựng cơ bản tăng từ 10,6% lên 17%; thương mại -
dịch vụ từ 11% lên 13,03%. Kết quả trên đã góp phần đưa giá trị sản xuất
bình quân đầu người từ 3,1 triệu đồng năm 2001 lên 4,8 triệu đồng năm 2008.
8
9
1.2.1.2. Thực trạng phát triển các khu vực kinh tế
* Khu vực kinh tế Nông - Lâm nghiệp: Nhận thức được vai trò quan
trọng của khu vực kinh tế nông nghiệp trong việc ổn định xã hội và tăng
trưởng kinh tế trên địa bàn huyện, trong thời gian qua huyện đã có nhiều chủ
trương về đầu tư cho các vùng sản xuất trọng điểm, triển khai ứng dụng tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tạo ra các cơ chế phù hợp với điều kiện
thực tế của địa phương nên ngành nông - lâm nghiệp, thủy sản của Tân Yên
phát triển khá toàn diện.
Theo báo cáo số 35/BC-UBND huyện Tân Yên năm 2008 cho biết.
- Ngành trồng trọt: Thực hiện chương trình sản xuất nông - lâm nghiệp
theo hướng hàng hoá, huyện đã tập trung chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây
trồng vật nuôi, cơ cấu mùa vụ đồng thời đã trợ giá giống để đưa các cây con có
giá trị kinh tế cao vào sản xuất để thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển.
Năm 2008 tổng diện tích đất gieo trồng hàng năm đạt 23.348 ha bằng
98,5% kế hoạch, tăng 60 ha so với năm 2006. Trong đó, diện tích trồng lúa là
13.920 ha, năng suất 47,5 tạ/ha; diện tích trồng ngô là 1.880 ha, năng suất đạt
30,6 tạ/ha; diện tích trồng lạc là 2.360 ha, đạt năng suất 19,3 tạ/ha; diện tích
trồng rau, màu là 3.100 ha; cây ăn quả là 2.940 ha.
Giá trị sản xuất ngành trồng trọt ước đạt 321,3 tỷ đồng, đưa giá trị sản
xuất bình quân 1 ha canh tác đạt 34,6 triệu đồng.

2,98%; tín dụng, ngân hàng 14,3 tỷ đồng chiếm 6,5%; các dịch vụ khác 113,3
tỷ đồng chiếm 52%. Như vậy, thực hiện đổi mới, lành mạnh hệ thống tài
chính ngân hàng, công tác huy động vốn và cho vay vốn có chuyển biến tích
cực và đáp ứng nhu cầu của xã hội. Nguồn vốn cho vay hàng năm tăng, tập
trung vào xóa đói giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế được quan tâm
thích đáng.
10
11
1.2.1.3. Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật
- Giao thông: Các tuyến giao thông đường bộ của huyện có tổng chiều
dài 1.206 km, gồm 5 tuyến đường tỉnh lộ với tổng chiều dài 70 km, 6 tuyến
đường huyện lộ dài 48 km, còn lại 1108 km là đường xã và giao thông nông
thôn. Ngoài giao thông đường bộ, huyện Tân Yên còn có thể khai thác giao
thông đường thủy trên sông Thương. Các phương tiện vận tải thủy có thể hoạt
động được bao gồm xà lan, tầu, thuyền, canô loại vừa và nhỏ.
- Thủy lợi: Nhìn chung hệ thống kênh mương ở Tân Yên đã được hình
thành, địa bàn huyện có hệ thống thủy nông sông Cầu có diện tích tưới ổn
định cho 6.000 ha đất canh tác. Ngoài 2 tuyến kênh chính dài 26km còn có
các trạm bơm điện đặt ở các sông ngòi trên địa bàn huyện và có 78 hồ đập lớn
nhỏ phục vụ đủ nước tưới cho sản xuất nông nghiệp.
- Hệ thống điện: Hệ thống lưới điện trên địa bàn huyện phát triển mạnh
100% xã có điện lưới quốc gia, lưới điện trên địa bàn huyện được bàn giao
cho ngành điện quản lý và thành lập 26 hợp tác xã dịch vụ điện ở 22 xã. Đến
nay các xã đi vào hoạt động ổn định và từng bước đầu tư sửa chữa cải tạo
nâng cấp lưới điện đảm bảo chất lượng điện cung cấp cho sinh hoạt và cho
sản xuất.
1.2.2. Thực trạng phát triển xã hội
* Giáo dục và đào tạo: Hệ thống trường lớp được phân bổ và phát triển
hợp lý, đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân các dân tộc trong
huyện. Đến nay toàn huyện có 78 trường học các cấp và 01 trung tâm giáo

6 Mật độ dân số Người/km
2
833
(Nguồn số liệu: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Tân Yên)
Theo kết quả thống kê năm 2008 dân số của huyện Tân Yên là 169.840
người. Với tổng số hộ là 42.460 hộ sống trên toàn huyện. Số người trong độ
tuổi lao động là 91.522 người chiếm 53,9% dân số của huyện, với số lao động
12
13
nông nghiệp là 69.022 lao động chiếm 75,4% số người trong độ tuổi lao động
và lao động phi nông nghiệp là 22.500 người chiếm 24,6%. Dân cư trên địa
bàn huyện chủ yếu là lao động nông nghiệp.
Tỷ lệ gia tăng dân số của huyện là 0,88%, mật độ dân số bình quân 833
người/km
2
và có sự chênh lệch khá lớn giữa các xã, cao nhất là thị trấn Nhã
Nam 2.444 người/km
2
và thấp nhất là xã Phúc Hòa 568 người/km
2
. Những
năm qua, huyện đã tổ chức thực hiện khá tốt các chương trình, mục tiêu và
các dự án phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo. Các chính sách xã
hội được quan tâm chăm lo giải quyết kịp thời, đúng chế độ; hoạt động đền ơn
đáp nghĩa, từ thiện nhân đạo, chăm sóc giúp đỡ người có công, vận động ủng
hộ đồng bào bị thiên tai được phát triển sâu rộng.
* Văn hóa, thông tin: Thực hiện nghị quyết trung ương 5 (khóa VIII)
và đề án phát triển văn hóa; phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống
văn hóa" được các cấp các ngành quan tâm chỉ đạo và có chuyển biến về
nhiều mặt. Phong trào văn nghệ quần chúng và hệ thống thư viện, tủ sách

tại chỗ. Nhu cầu quỹ đất để phát triển công nghiệp, dịch vụ, phát triển các cơ
sở hạ tầng (giao thông, thủy lợi, điện, nước, văn hóa, thể thao ) là rất lớn.
Những nhu cầu đó đòi hỏi phải có những hoạch định, chính sách và biện pháp
sử dụng đất cụ thể, khoa học, chính xác nhằm thỏa mãn nhu cầu phát triển
kinh tế, nhu cầu nơi ăn chốn ở và đời sống văn minh tinh thần của dân cư, an
ninh quốc phòng trên địa bàn huyện.
1.3. NỘI DUNG VÀ CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.3.1. Nội dung
14
15
Được sự giúp đỡ của Nhà trường, thầy giáo hướng dẫn và cán bộ cơ sở
từ những thuận lợi và khó khăn của cơ sở và nhiệm vụ của mình tôi đã xây
dựng nội dung công việc trong thời gian thực tập như sau:
Kết hợp học đi đôi với hành, khiêm tốn học hỏi sống lành mạnh.
Tuyên truyền kiến thức cho nhân dân về kỹ thuật chăn nuôi thú y.
- Rèn luyện khả năng nghề nghiệp thông qua việc chăm sóc nuôi
dưỡng, điều trị bệnh cho gia súc và vệ sinh thú y trong chăn nuôi. Học hỏi
kinh nghiệm từ cán bộ cơ sở, áp dụng những kiến thức khoa học vào thực tiễn
sản xuất từng bước nâng cao tay nghề.
- Cùng với cán bộ thú y cơ sở điều tra tình hình dịch bệnh tiến hành
cách ly kịp thời tránh lây lan dịch bệnh.
- Cùng với nhân dân phát hiện kịp thời dịch bệnh và tiến hành điều trị
những gia súc ốm một cách nhanh nhất, góp phần dập dịch bệnh nhanh.
- Tiến hành tổ chức tiêm phòng những bệnh truyền nhiễm thường xảy
ra ở địa phương.
- Dành thời gian thực hiện chuyên đề nghiên cứu khoa học của mình.
1.3.1. Phương hướng công tác phục vụ sản xuất
- Để thực hiện tốt nội dung trên chúng tôi đề ra biện pháp thực hiện sau:
+ Nhanh chóng hoàn thành đề cương thực tập tốt nghiệp, xin ý kiến của
thầy giáo hướng dẫn, được sự giúp đỡ của lãnh đạo trạm, tích cực bám sát cơ

để giảm thiệt hại cho đàn gia súc chết hàng loạt những bệnh thường xuyên
xảy ra như: lở mồm, long móng, tụ huyết trùng, dịch tả lợn, nhiệt thán, mà
chúng ta không thể cứu vãn được, khi đó nó sẽ gây tổn thất lớn cho ngành
chăn nuôi, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, gây thiệt hại lớn đến kinh tế của
người dân. Nếu có dập tắt được thì mầm bệnh vẫn còn tồn tại trong đất, nó có
16
17
thể phát bệnh bất cứ lúc nào, vì vậy công tác tiêm phòng là rất quan trọng.
Hơn nữa tiêm phòng thường xuyên và định kỳ giúp hạn chế được những dịch
bệnh thường xuyên xảy ra trong năm và tăng thêm thu nhập cho người dân và
sản phẩm xuất khẩu.
Xuất phát từ lợi ích kinh tế lớn của việc tiêm phòng và đây cũng là yêu
cầu của người dân để bảo vệ đàn gia súc, gia cầm. Qua điều tra tình hình dịch
bệnh, cùng với sự hướng dẫn của cán bộ thú y cơ sở, chúng tôi tham gia vào
việc tiêm phòng đợt 1 vào vụ xuân hè năm 2005 các loại vacxin: vacxin tụ
dấu lợn, vacxin tụ huyết trùng trâu, bò, phòng bệnh dịch tả lợn, Newcastle gà.
Chúng tôi đã cố gắng tuyên truyền vận động, mà kết quả đạt được vẫn
chưa cao. Tỷ lệ đạt được so với tổng đàn còn thấp.
Kết quả tiêm phòng sau khi tiêm an toàn 100%.
1.4.3. Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh
Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh là một nhiệm vụ bao trùm nhất
trong công tác thú y. Vì vậy việc phát hiện và điều trị kịp thời những gia súc
ốm là một khâu quan trọng nhằm ngăn chặn lây lan dịch bệnh ra vùng khác,
giúp con vật phục hồi sức khỏe nhanh chóng và giảm thiệt hại do bệnh gây ra.
Đồng thời nó có tác dụng bảo vệ môi trường sinh thái.
Với kiến thức đã học được trong nhà trường và học hỏi kinh nghiệm
thực tế, trong thời gian thực tập cùng với sự giúp đỡ của cán bộ thú y cơ sở tôi
đã chẩn đoán và điều trị một số bệnh sau:
1.4.3.1. Bệnh ở lợn
+ Bệnh tụ huyết trùng ở lợn

2,5%, Bcomplex liều 2
5ml/lần/ngày. Kết quả điều trị 12 con khỏi 11 con.
* Bệnh giun tròn đường tiêu hóa
Bệnh giun tròn đường tiêu hóa rất phổ biến đặc biệt là loài giun
đũa và giun lươn. Chúng tôi đã gặp một số con lợn có biểu hiện, gầy
còm, lông sù, gầy gộc, chậm lớn Những con nhiễm nhẹ thì triệu chứng
không biểu hiện rõ.
Chúng tôi đã tiến hành kiểm tra phân bằng phương pháp phù nổi
Fullerborn qua kiểm tra những con có triệu chứng trên đều nhiễm giun.
18
19
Điều trị: Dùng 2 loại thuốc levamisol hoặc menbendazol trộn vào thức
ăn sau 2 tuần tiến hành kiểm tra phân đều đã sạch trứng, lợn trở lại bình
thường, ăn uống tốt.
1.4.3.2. Bệnh ở trâu bò
+ Bệnh tụ huyết trùng trâu, bò
Trong thời gian thực tập tại cơ sở chúng tôi đã gặp một trường hợp con
bệnh có triệu chứng sốt cao 41 - 42
0
C, niêm mạc mắt mũi, nước dãi chảy
nhiều, gia súc khó thở, thở nhanh.
Với những triệu chứng trên chúng tôi chẩn đoán gia súc đó mắc bệnh tụ
huyết trùng và tiến hành điều trị như sau:
Tiêm: Analgin - 30% để hạ sốt cho con vật.
Tiêm gentamycin liều 6 - 8 ml/100kg thể trọng/lần. Phối hợp tiêm
penicilin liều 10.000 - 20.000 UI/kg thể trọng tiêm bắp ngày 2 lần và tiêm
thuốc trợ sức trợ lực cho con vật như: vitamin B
1
2,5%, vitamin C liều 5 - 10
ml/lần/ngày. Sau 3 - 5 ngày điều trị thấy con vật hồi phục trở lại.

Triệu chứng: Chó sốt, đờ đẫn bỏ ăn, uống nước nhiều, mất nước ngoại
bào, sôi bụng, thành bụng căng, nôn mửa, sau đó ỉa phân có màu máu cá, mùi
tanh hôi.
Điều trị: tiêm atropin giảm nôn, liều lượng 0,15 - 0,6ml/10kg thể trọng.
Dùng kết hợp với lincomycin tiêm bắp liều 1ml/4 - 8kg thể trọng và kết hợp
dùng các loại thuốc trợ sức, trợ lực như vitamin B
1
1 - 3ml. Điều trị 2 - 3 ngày
con vật tiến triển tốt.
Ngoài công tác tiêm phòng chẩn đoán và điều trị bệnh cho gia súc, gia
cầm, tôi và các cán bộ thú y của trạm còn tham gia công tác kiểm soát giết mổ
tại chợ và giúp đỡ bà con đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất như:
20
21
tiêm dextran - Fe cho lợn con ở 3 - 7 ngày tuổi, thiến lợn đực, thiến lợn cái,
phối giống cho lợn cái, kết quả đạt được ở bảng sau:
Bảng 1.2. Kết quả công tác phục vụ sản xuất
STT Nội dung công việc
Số lượng
(con)
Kết quả
Số lượng
(con)
Tỷ lệ
(%)
I Tiêm vacxin phòng bệnh An toàn
1 Tụ huyết trùng lợn 50 50 100
2 Dịch tả lợn 50 50 100
3 Tụ huyết trùng trâu bò 20 20 100
4 Lasota 30 30 100

1.5.3. Đề nghị
Do hiểu biết của người dân về thú y còn hạn chế, cần tuyên truyền sâu
rộng cho người dân hiểu về chăn nuôi thú y, từ đó biết áp dụng những biện
pháp khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi.
- Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ.
- Tiêm phòng định kỳ cho đàn gia súc, gia cầm.
- Ủ phân diệt trứng giun sán.
- Thức ăn nước uống phải hợp vệ sinh, sạch sẽ,
- Thực hiện công tác kiểm dịch động vật, kiểm soát giết mổ thường
xuyên tránh lây lan dịch bệnh.
1.6. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
Qua thời gian thực tập tại cơ sở, được sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy
giáo hướng dẫn và cán bộ trạm thú y huyện Tân Yên - Bắc Giang cùng với sự
22
23
nỗ lực của bản thân tôi đã đạt được một số kết quả nhất định mặc dù kết quả
còn nhiều hạn chế, nhưng qua đó tôi đã rút ra được bài học kinh nghiệm cho
bản thân mình.
- Về chuyên môn: Cần học hỏi hơn nữa những người đi trước để nâng
cao tay nghề, từng bước tích lũy kinh nghiệm cho bản thân mình. Phải say mê
nghề nghiệp tìm hiểu những kiến thức khoa học tiến bộ và áp dụng vào thực
tiễn sản xuất.
- Về quản lý tổ chức: Để làm tốt công tác chuyên môn, người cán bộ
không những cần phải giỏi về chuyên môn, vững về tay nghề mà phải có trình
độ quản lý, tổ chức thực hiện công việc. Do đó cần phải luôn trau dồi kiến
thức học hỏi kinh nghiệm.
Trong công việc phải hòa đồng gần gũi với nhân dân, đi sâu, đi sát
với cơ sở và tăng cường công tác dân vận, tuyên truyền về lợi ích của khoa
học kỹ thuật giúp người dân tiêm phòng đảm bảo an toàn dịch bệnh cho gia
súc, gia cầm.

2.2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Bệnh ký sinh trùng đường tiêu hóa là những bệnh tiến triển ở thể mãn
tính, triệu chứng không rõ ràng thường bị triệu chứng của các bệnh khác che
lấp. Cho nên những con vật bị nhiễm đã trở thành nguồn lây nhiễm sang con
khác làm cho bệnh càng có điều kiện phát sinh mạnh, ảnh hưởng đến khả
năng sinh trưởng phát triển của con vật.
2.2.1.1. Đặc điểm sinh lý tiêu hóa của lợn
Lợn là loài ăn tạp, có khả năng tiêu hóa thức ăn thô, xanh cao, quá trình
tiêu hóa thức ăn của lợn bắt đầu từ miệng, thức ăn ở đây chịu 2 tác động: tác
động cơ học và tác động hóa học, dưới tác động của các men tiêu hóa amilaza
và maltaza (các men này có trong nước bọt và được tiết ra tuyến mang tai,
tuyến dưới hàm, tuyến dưới lưỡi). Thời gian thức ăn ở miệng không lâu sau
đó chuyển xuống dạ dày. Dạ dày lợn là dạ dày trung gian giữa dạ dày đơn và
dạ dày kép. Thức ăn trong dạ dày chịu hai tác động: tác động vật lý, tác động
hóa học. Do dạ dày lợn co bóp yếu nên thức ăn được xếp lần lượt. Nên men
của nước bọt cũng được góp phần đáng kể vào việc tiêu hóa. Trong dịch vị dạ
dày, men pepsin có tác dụng phân giải protit, men kimonaza (có nhiều ở lợn
con) có tác dụng ngưng kết sữa: men lipaza có tác dụng tiêu hóa lipit. Ngoài ra
trong dịch vị dạ dày còn có axit HCl có tác dụng làm tan, trương nở protit, hoạt
hóa men pepxinopzen, diệt khuẩn, giữ độ an toàn của dịch vị. Sau khi tiêu hóa ở
dạ dày, thức ăn được chuyển xuống ruột non, ở đây quá trình hấp thụ xảy ra
mạnh nhờ tác dụng cơ học và tác dụng hóa học ở dạ dày.
- Tác dụng cơ học: Làm cho thức ăn hòa lẫn, nhào trộn với dịch mật,
dịch tụy, dịch ruột.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status