DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐVT : Đơn vị tính
HTX : Hợp tác xã
KL : Khối lượng
LMLM : Lở mồm long móng
Nxb : Nhà xuất bản
THCS : Trung học cơ sở
CS : Cộng sự
TT : Thể trọng
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Kết quả công tác phục vụ sản xuất 27
Bảng 2.1. Tình hình nhiễm bệnh hô hấp ở lợn ở HTX Phúc Giang 47
Bảng 2.2. Tỷ lệ lợn nhiễm bệnh đường hô hấp theo lứa tuổi 48
Bảng 2.3. Tỷ lệ lợn nhiễm bệnh đường hô hấp theo tháng 49
Bảng 2.4. Tỷ lệ nhiễm bệnh hô hấp theo mùa trong năm 50
Bảng 2.5. Tỷ lệ và cường độ nhiễm bệnh hô hấp theo tình trạng vệ sinh 51
Bảng 2.6. Tỷ lệ và những biểu hiện lâm sàng của lợn nhiễm bệnh hô hấp 52
Bảng 2.7. Hiệu quả điều trị của hai loại thuốc Matylan và Gentamycin
ở lợn mắc bệnh đường hô hấp 53
Bảng 2.8. Tỷ lệ tái nhiễm bệnh đường hô hấp ở lợn và hiệu quả
điều trị lần 2 54
Bảng 2.9. Chi phí thuốc thú y 55
MỤC LỤC
Phần 1. CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1
1.1. Điều tra cơ bản 1
1.1.1. Điều kiện tự nhiên 1
1.1.2. Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội 3
1.1.3. Tình hình sản xuất nông nghiệp 7
2.3.5. Phương pháp so sánh hiệu quả điều trị bệnh đường hô hấp
bằng Matylan và Gentamycin 42
2.3.6. Các chỉ tiêu theo dõi 44
2.3.7. Phương pháp theo dõi từng chỉ tiêu 44
2.4. Kết quả và phân tích kết quả 47
2.4.1. kết quả điều tra tỷ lệ nhiễm bệnh hô hấp ở lợn thịt nuôi tại
HTX Phúc Giang 47
2.4.2. Kết quả điều tra tình hình nhiễm bệnh hô hấp của lợn theo lứa tuổi 48
2.4.3. Kết quả điều tra tình hình nhiễm bệnh hô hấp của lợn theo
theo tháng 49
2.4.4. Nhiễm bệnh đường hô hấp theo mùa trong năm 50
2.4.5. Tỷ lệ theo tình trạng vệ sinh thú y 51
2.4.6. Biểu hiện lâm sàng của lợn nhiễm bệnh hô hấp 52
2.4.7. Kết quả theo dõi điều trị của hai loại thuốc Matylan và
Gentamycin ở lợn mắc bệnh đường hô hấp 52
2.4.8. Kết quả theo dõi tỷ lệ tái nhiễm bệnh đường hô hấp ở lợn và
hiệu quả điều trị lần 2 54
2.4.9. Chi phí thuốc điều trị bệnh đường hô hấp 55
2.5. Kết luận, tồn tại và đề nghị 56
2.5.1. Kết luận 56
2.5.2. Tồn tại 56
2.5.3. Đề nghị 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
1
Phần 1
CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.1. ĐIỀU TRA CƠ BẢN
cơ bản mang những đặc điểm của vùng núi Việt Bắc - Hoàng Liên Sơn, song
cũng có những đặc điểm riêng, mát và lạnh hơn các tỉnh miền Đông Bắc,
nhưng ấm hơn các tỉnh miền Tây Bắc,
2
Nhiệt độ trung bình cả năm khoảng 21,6
0
C - 23,9
0
C, biên độ nhiệt trong
năm có sự dao động trên 10
0
C và trong ngày cũng từ 6 - 7
0
C. Mùa nóng nhiệt
độ cao tuyệt đối lên đến 40
0
C (tháng 6, 7); ngược lại mùa lạnh nhiệt độ thấp
tuyệt đối là 2,2
0
C (tháng 1).
Chế độ mưa ở Hà Giang khá phong phú. Toàn tỉnh đạt bình quân lượng
mưa hàng năm khoảng 2.300 - 2.400 mm, riêng Bắc Quang hơn 4.000 mm, là
một trong số trung tâm mưa lớn nhất nước ta. Dao động lượng mưa giữa các
vùng, các năm và các tháng trong năm khá lớn. Năm 2001, lượng mưa đo
được ở trạm Hà Giang là 2.253,6 mm, Bắc Quang là 4.244 mm, Hoàng Su Phì
là 1.337,9 mm… Tháng mưa cao nhất ở Bắc Quang (tháng 6) có thể đạt trên
1.400 mm, trong khi đó lượng mưa tháng 12 ở Hoàng Su Phì là 3,5 mm, ở
Bắc Mê là 1,4 mm…
Độ ẩm bình quân hàng năm ở Hà Giang đạt 85% và sự dao động cũng
2
, dân số chiếm 49,8%. Điều kiện tự
nhiên thích hợp với các loại cây nhiệt đới, thuận lợi cho việc phát triển nghề
rừng, trồng các loại cây nguyên liệu giấy như bồ đề, mỡ, thông và đây cũng là
vùng tre, nứa, vầu, luồng lớn nhất trong tỉnh,… Ngoài ra đây còn là vùng
trồng các loại cây ăn quả có múi như cam, quýt, chanh,… (nguồn Bộ kế
hoạch và đầu tư, 2011) [20].
1.1.2. Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trong 5 năm gần đây của Hà Giang
đạt 10,5%.
Sản xuất từ Nông - Lâm nghiệp
Nông nghiệp vẫn là thế mạnh và còn có tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế
trong nhiều năm tới. Bởi vậy tỉnh đã tập trung chỉ đạo phát triển sản xuất Nông
- Lâm nghiệp một cách toàn diện trên mọi lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, trồng
và bảo vệ rừng,…
Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng trong ngành sản xuất Nông -
Lâm nghiệp vẫn giữ được ổn định. Diện tích, năng suất, sản lượng các loại
cây trồng chính vẫn tăng năm sau cao hơn năm trước. Năm 2002 sản lượng
lương thực đạt 22,3 vạn tấn, bình quân lương thực đầu người đạt 350kg/ năm.
4
Các loại cây công nghiệp chủ lực cũng tăng đáng kể. Cây chè có 1,3 vạn ha,
sản lượng đạt 2,3 vạn tấn búp tơi. Đặc biệt giống chè San Tuyết được khuyến
khích phát triển. Cây đậu tương có 9.200 ha, sản lượng đạt 6.800 tấn. Cây ăn
quả có 9.000 ha, trong đó có 4.400 ha là cam quýt, sản lượng 1,6 vạn tấn.
Chăn nuôi cũng được chú trọng, giữ được độ tăng trưởng đàn tử 3 - 5%/ năm.
Đàn trâu hiện có 129.800 con, đàn bò có 62.500 con, đàn dê có 76.000 con.
Về lâm nghiệp, công tác trồng, chăm sóc, khoanh nuôi và bảo vệ rừng
đã được các cấp, các ngành quan tâm. Năm 2002 trồng rừng tập trung được
4.500 ha, chăm sóc 5.600 ha, khoanh nuôi phục hồi
đường ô tô, 100% số xã có trường học, trạm xá, trụ sở xây 2 tầng. Các thôn
bản có trụ sở xây cấp 4 trở lên
Thương mại - dịch vụ
Hoạt động của ngành thương mại - dịch vụ cũng đã có bước phát triển.
Đã mở rộng buôn bán trao đổi hàng hoá trong và ngoài nước. Tổng mức bán lẻ
hàng hoá năm 2002 đạt 558,4 tỷ đồng, trong đó kinh tế nhà nước chiếm 40%.
Kim ngạch xuất - nhập khẩu tăng. Tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế chiếm 32%.
Văn hoá, xã hội
Thành phố Hà Giang rộng 130,3 km² và có 67 nghìn nhân khẩu gồm 22
sắc tộc khác nhau trong đó người Kinh chiếm 55,7% và người Tày chiếm
22%. (nguồn ) [21].
Toàn tỉnh đạt chuẩn quốc gia phổ cập tiểu học (từ năm 1999). Y tế tập
trung đầu tư chăm sóc sức khoẻ cộng đồng tốt hơn. Các vấn đề xã hội được
giải quyết kịp thời.
Trong những năm tới, tỉnh tập trung đẩy mạnh phổ cập trung học cơ sở.
Đến năm 2007 đạt chuẩn quốc gia phổ cập THCS, năm 2010 có 1/3 số xã đạt
chuẩn quốc gia trung học phổ thông. Tỷ lệ trẻ em được huy động đến trường
đạt trên 97%. Thực hiện xã hội hoá giáo dục. Thực hiện tốt các mục tiêu chư-
6
ơng trình y tế quốc gia. Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Thực hiện tốt
công tác kế hoạch hóa gia đình, hạ tỷ lệ tăng dân số tự nhiên mỗi năm từ 0,5
đến 0,7%. Nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân. Năm 2010 tỷ lệ phủ
sóng phát thanh và truyền hình đạt 100%, đảm bảo 80% số hộ được sử dụng
điện và được xem truyền hình. Phấn đấu giảm nhanh tỷ lệ hộ đói nghèo. Năm
2005 không còn hộ đói, hộ nghèo giảm còn dưới 10%. Năm 2010 sẽ có 50%
số hộ khá, giàu.
Có thể nói trong những năm qua, tình hình kinh tế - xã hội của Hà
Giang đã thu được những kết quả khả quan. Kinh tế tăng trưởng, cơ sở hạ
tầng được củng cố và phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện. Tỷ lệ đói
Với diện tích vườn rộng thì trại trồng một số cây ăn quả như: na, bưởi,
quất hồng bì và một số cây công nghiệp như: keo, mỡ,… một phần đất vườn
dùng để trồng rau, tùy theo mùa mà trồng các loại rau khác nhau như: mùa
Xuân thì trồng chủ yếu là xu hào và cải bắp, mùa Hè trồng rau muống, rau
đay, rau ngót, rau bí,… trồng rau để phục vụ cho công nhân viên trong trang
trại là chủ yếu.
1.1.3.2. Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi
Trang trại chăn nuôi một số động vật như: gà, lợn.
- Chăn nuôi gia cầm:
Chủ yếu là phục vụ cho công nhân viên trong trang trại. Trang trại nuôi
một số giống gà như: gà Ai Cập với số lượng 50 con với mục đích lấy trứng,
300 gà Lương Phượng và gà Sasso để lấy thịt.
- Chăn nuôi lợn:
Trang trại đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện. Hiện tại lợn thịt
cung cấp ra thị trường 24.943 kg thịt ra thị trường. Trang trại chăn nuôi lợn với
hình thức chăn nuôi công nghiệp, sản xuất theo quy trình khép kín nhưng quy
mô còn nhỏ. Hiện tại trang trại đang nuôi 4 con lợn đực và 52 con lợn nái.
+ Chăn nuôi lợn đực giống: Hiện tại trại có 4 con lợn đực giống, 1 con
Duroc, 1 con Landrace, 1 con Pidu 50 (50% máu Pietrain 50% máu Duroc), 1
con Pidu 75 (75% máu Pietrain 25% máu các giống Duroc, Yorkshire,
Hampshire). Cả 4 con lợn đực đều được nhập từ trung tâm giống lợn
DABACO Bắc Ninh.
8
+ Chăn nuôi lợn nái: Hiện trại có 52 con lợn nái, toàn bộ số lợn nái
thuộc dòng nái C22 và được nhập từ trung tâm giống lợn PIC Đồng Giao -
Ninh Bình.
1.2. NHẬN ĐỊNH CHUNG
1.2.1. Thuận lợi
Trại chăn nuôi có một địa hình tương đối bằng phẳng, phù hợp cho việc
1.3. NỘI DUNG THỰC HIỆN
1.3.1. Nội dung công tác
- Theo dõi tỷ lệ nhiễm bệnh đường hô hấp trên đàn lợn từ 2 đến 5
tháng tuổi nuôi tại hợp tác xã.
- Theo dõi Biểu hiện triệu chứng lâm sàng của lợn mắc bệnh đường hô hấp.
- Đánh giá hiệu lực điều trị của hai loại thuốc Matylan và Gentamycin.
- Áp dụng kiến thức đã học vào thực tế sản xuất.
1.3.2. Biện pháp thực hiện
- Theo dõi tỷ lệ nhiễm bệnh đường hô hấp ở lợn từ 2 đến 5 tháng tuổi
nuôi tại hợp tác xã.
- Theo dõi tỷ lệ nhiễm hội chứng hô hấp theo lứa tuổi.
- Theo dõi tỷ lệ nhiễm hội chứng hô hấp qua các tháng.
- Theo dõi tỷ lệ nhiễn hội chứng hô hấp theo mùa trong năm.
- Theo dõi tỷ lệ nhiễm bệnh hô hấp theo tình trạng vệ sinh.
- Theo dõi hiệu lực của hai loại thuốc Matylan và Gentamycin.
- Tuân thủ nghiêm túc nội quy, quy chế của cơ sở thực tập.
- Mạnh dạn áp dụng kiến thức đã học vào thực tiễn.
- Bám sát cơ sở sản xuất, phát huy những thuận lợi và khắc phục những
khó khăn để hoàn thành tốt công việc.
10
1.4. KẾT QUẢ CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.4.1. Công tác chăn nuôi
Nhằm nâng cao trình độ và tay nghề với mỗi sinh viên trong quá
trình học tập tại giảng đường, sinh viên cần vận dụng các kiến thức đã học,
không ngừng học hỏi, chăm chỉ thực hành tại nơi thực tập. Các công tác
chăn nuôi tại trại thực hiện tốt.
* Công tác giống
Công tác giống tại trại rất được chú ý, giúp cho đàn lợn phát triển
nhanh về số lượng và chất lượng của đàn lợn tại trại.
trên 17 nái đạt 14 nái tỷ lệ đạt 82,3%
* Công tác chăm sóc nuôi dưỡng các loại lợn
Trong kỹ thuật nuôi dưỡng lợn nái ngoại thì các yếu tố kỹ thuật là rất
quan trọng đối với sự thành công của một cơ sở chăn nuôi lợn. Giống, thức
ăn, chuồng trại, thú y, công tác quản lý sẽ quyết định đến năng suất và chất
lượng, giá thành và lợi nhuận. Với yêu cầu như vậy trang trại của HTX cũng
đã tiến hành phân loại lợn để có kế hoạch và phương pháp chăm sóc cho
đúng, để đàn lợn tiêu tốn thức ăn/1kg tăng khối lượng là ít nhưng vẫn đảm
bảo nhu cầu dinh dưỡng cho sự phát triển của đàn lợn.
Trong quá trình làm việc hàng ngày luôn làm đủ đúng các công tác
chăm sóc lợn tại trại.
Sáng sớm dậy kiểm tra đàn lợn, kiểm tra tình hình bệnh tật, tình hình an
ninh trại lợn, sau đó cho lợn ăn và điều trị bệnh cho đàn lợn nếu có.
Công tác vệ sinh chuồng trại luôn được chú ý, sau khi cho lợn ăn thì cùng
công nhân ra làm công tác vệ sinh chuồng trại.
Ngoài công tác chăm sóc chung cho đàn lợn thì từng loại lợn có quá trình
chăm sóc nuôi dưỡng khác nhau.
a. Đối với lợn nái hậu bị
Việc nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái hậu bị phải đúng kỹ thuật, đảm bảo
lợn không được quá béo hoặc quá gầy. Lợn nái béo sẽ động dục thất thường
hay không động dục, hay phối đi phối lại nhiều lần, tỷ lệ thụ thai kém, hay
chết phôi, nuôi con vụng, còn quá gầy sẽ gây nên hiện tượng không động
12
dục hay chậm động dục hoặc động dục không đều đặn, giảm khả năng sinh
sản, hay tốc độ sinh trưởng chậm không đủ tiêu chuẩn phối giống (mặc dù
đã đến tuổi phối giống). Cho nên việc nuôi dưỡng chăm sóc lợn nái hậu bị
rất quan trọng.
Buổi sáng kiểm tra tình hình bệnh tật, tình hình an ninh thì phải kiểm
tra lợn động dục, dựa vào biểu hiện của lợn và âm hộ để kiểm tra động dục
Theo Phạm Hữu Doanh và CS, 1997 [3] yêu cầu chính của giai đoạn
nuôi này cần đảm bảo đủ dinh dưỡng để bào thai phát triển và cho sinh trưởng
của lợn mẹ đẻ lứa đầu, do cơ thể lợn mẹ còn tăng trưởng.
Lợn nái chửa cần được chăm sóc chu đáo, tránh va chạm và không vận
chuyển xa, dễ gây xảy thai.
Trước khi đẻ 2 tuần, chuyển lợn sang ô nuôi lợn đẻ và nuôi con.
Tẩy giun sán nhằm tránh lây từ mẹ sang con.
Trước khi đẻ 1 tuần, giảm thức ăn đạm để phòng bệnh viêm vú do căng
sữa sau khi đẻ.
Lợn chửa cần cho thêm rau xanh. Ăn rau nhằm bổ sung một số nguyên
tố cho lợn nái, đồng thời tăng độ choán trong dạ dày để lợn không có cảm
giác đói. Cần tăng chất khoáng và vitamin để lợn chuyển hóa tốt thức ăn và
phòng táo bón.
Cần chú ý đề phòng lợn sẩy thai: không cho thức ăn ôi mốc, thiếu các
nguyên tố khoáng và vitamin, nền chuồng trơn, dốc.
Thời gian chửa của lợn nái chia ra làm 2 giai đoạn, giai đoạn chửa kỳ I
là lợn nái có chửa 84 ngày đầu tiên và giai đoạn chửa kỳ II là thời gian từ
ngày chửa thứ 85 đến ngày đẻ.
Tại trại dinh dưỡng cho nái chửa chia làm 2 giai đoạn, giai đoạn chửa
kỳ I và giai đoạn chửa kỳ II.
Nuôi dưỡng: + Trong giai đoạn chửa kỳ I bào thai chưa phát triển
mạnh, vì vậy nhu cầu dinh dưỡng chủ yếu cho lợn nái giai đoạn này là để duy
14
trì cơ thể lợn nái, một phần không đáng kể dùng để nuôi thai. Đối với lợn nái
tơ chửa lần đầu dưới 24 tháng tuổi, có thể tăng khẩu phần lên 10-15%, vì
ngoài việc nuôi bào thai còn cho sự phát triển cơ thể của lợn nái. Thức ăn cho
lợn nái giai đoạn này cần đảm bảo năng lượng trao đổi 2800 Kcal, tỷ lệ
protein 13%, mức cho ăn tùy theo thể trạng của nái gầy hay béo mà ta cho ăn
khác nhau từ 1,8 - 2,2 kg/con/ngày, nước uống tự do.
lợn mẹ đi 20 - 30%, ngày cai sữa cho ăn ít hoặc nhịn ăn, uống nước hạn chế
để tránh hiện tượng sốt sữa. Sau ngày cai sữa cho ăn 1 - 2kg sau đó duy trì ở
mức 3 - 4kg.
d. Chăm sóc lợn nái chửa và lợn nái nuôi con
- Hiện tượng sắp đẻ: Theo Phạm Hữu Doanh và CS, 1997 [3] khi thấy
lợn căng bầu vú, nặn đầu vú có sữa trong tiết ra (sữa đầu), mông bị sụt là lợn
sắp đẻ (khoảng sau 2-3 giờ). Trước đó khoảng 2 ngày, âm hộ lợn sưng to, lợn
đi lại quanh chuồng, bỏ ăn, ỉa phân cục không vào chỗ nhất định, ủi máng ăn,
máng uống kể cả nền chuồng. Khi lợn tìm chỗ nằm, âm hộ chảy nước nhờn là
lợn bắt đầu đẻ.
- Lợn đẻ: Khi trực đỡ lợn đẻ cần tuân thủ những bước sau.
Bƣớc 1. Chuẩn bị dụng cụ bao gồm:
- Thùng úm, bóng đèn hồng ngoại, kìm cắt nanh, kìm cắt đuôi, kìm
bấm tai, panh, kẹp, kim, xi lanh, bột rắc lợn con.
- Cồn Iot sát trùng, các loại thuốc thú y cần thiết
- Rẻ lau, bao tải lót ổ úm và sàn đẻ
Thùng úm đã được kỳ cọ sạch, sát trùng, phơi khô. Các dụng cụ đỡ đẻ
đã được rửa sạch, hấp tiệt trùng, trước khi sử dụng ngâm cồn Iot.
Bƣớc 2. Thao tác đỡ đẻ:
- Đi lại làm việc nhẹ nhàng tránh sốc, khó chịu cho lợn mẹ, tạo mọi
điều kiện cho lợn mẹ đẻ một cách thoải mái và tự nhiên.
16
- Vệ sinh lợn nái trước khi đẻ: vệ sinh bộ phận sinh dục và bầu vú bằng
VIKON, rửa sạch và lau khô.
- Khi lợn mẹ sinh con dùng rẻ sạch lau khô nhanh mồm, mũi và toàn
thân lợn con, sau đó thả lợn con vào thùng có chứa bột rắc lợn con xoa bột
toàn thân trừ mồm mũi và mắt, sau đó thả vào ổ úm.
- Nếu lợn mẹ có cơn dặn yếu dẫn đến khó đẻ cần hỗ trợ bằng tiêm
Oxytoxin với liều 4 ml/con.
mảnh răng vụn sắc khi nào lợi bằng thì thôi.
- Thao tác cắt đuôi, rốn: sau khi dùng dụng cụ cắt xong phải nhỏ cồn
sát trùng vào những vị trí đã cắt.
e. Chăm sóc lợn nái sau khi đẻ và lợn con theo mẹ
Sau khi ra nhau dùng nước ấm rửa sạch vú và âm hộ. Cho uống đầy đủ
nước sạch có pha điện giải vì sau khi đẻ lợn thường khát do mất máu.
Hàng ngày theo dõi lợn nái có bị viêm tử cung, âm hộ có mủ chảy ra không?
Nếu bị viêm vú thì vú sưng đỏ, nóng cần đo nhiệt độ hàng ngày sau khi
đẻ 2 - 3 ngày.
- Chăm sóc lợn con theo mẹ: Cân khối lượng sơ sinh. Loại bỏ những
con sơ sinh quá yếu, quá nhỏ mà không thể khắc phục được.
Đối với những con lợn sơ sinh nhỏ phải cố định bú ở vú đầu.
Đối với lợn con mới sinh ra ta phải chú ý đến nhiệt độ của thùng úm để
đảm bảo nhiệt độ 33 - 35
0
C trong hai ngày đầu và giảm dần xuống ngày thứ 7
từ 24 - 26
0
C.
Trong 7 ngày đầu chăm sóc thường xuyên và quan sát lợn sơ sinh, kiểm
tra những biểu hiện bất thường của đàn lợn con, phát hiện những con xù lông,
kém ăn để điều trị kịp thời, giai đoạn này lợn con non nớt rất hay bị đè nhất là
vào mùa nóng cần có những biện pháp chống chết đè.
18
Khi lợn con được 3 ngày tuổi tiến hành tiêm Dextran - Fe phòng thiếu
sắt cho lợn con và cho uống Baycoc phòng bệnh cầu trùng.
Khi lợn con được 5 ngày tiến hành thiến con đực. Trước khi thiến cần
vệ sinh ô chuồng sạch sẽ, tiêm thuốc bổ hỗ trợ lợn con.
Tăng cường cho lợn tập ăn sớm từ 5 - 7 ngày tuổi, trộn men tiêu hóa
10 - 14 ngày sau đẻ tiêm vaccine đa giá (Farrowsure) phòng bệnh lepto,
đóng dấu, pavo (khô thai), bảo vệ thai lứa tiếp theo.
15 ngày sau đẻ tiêm ADE tăng tiết sữa, tụ thai, mắn đẻ.
Đối với lợn nái đẻ lứa thứ 2 trở đi không cần tiêm vaccine E.coli và
Aradicater và lúc trước khi đẻ 5, 6 tuần.
Trong quá trình thực tập tôi đã tham gia tiêm phòng cho đàn lợn nái:
Farrowsure 15 liều, E.coli 30 liều, Dịch tả 25 liều, LMLM 40 liều tỷ lệ an
toàn đạt 100%.
- Lợn con được tiêm vaccine và các thuốc kháng sinh phòng bệnh:
7 ngày tuổi: Tiêm vaccine suyễn lần 1.
14 ngày tuổi: Tiêm vaccine dịch tả lần 1.
21 ngày tuổi: Tiêm vaccine phó thương hàn lần 1 và vaccine suyễn lần 2.
28 ngày tuổi: Tiêm vaccine phó thương hàn lần 2.
35 ngày tuổi: Tiêm vaccine dịch tả lần 2 và vaccine lở mồm long móng.
60 ngày tuổi: Tiêm vaccine dịch tả lần 3 và tụ dấu.
Trong quá trình thực tập, tôi đã tham gia tiêm vaccine cho đàn lợn con:
vaccine suyễn tiêm được 215 liều, dịch tả tiêm được 350 liều, phó thương hàn
tiêm được 215 liều, độ an toàn đạt 100%.
Công tác điều trị bệnh
Trong quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn tôi còn tham gia điều trị
một số bệnh mà đàn lợn mắc phải.
20
Bệnh lợn con phân trắng:
Bệnh xảy ra trong giai đoạn lợn con theo mẹ, chủ yếu vào thời gian lợn
con được 3 - 21 ngày tuổi.
Bệnh xảy ra quanh năm nhưng chủ yếu vào vụ Đông Xuân, Xuân Hè là
những lúc thời tiết thay đổi đột ngột, những ngày ẩm ướt, độ ẩm cao. Bệnh
xảy ra chủ yếu ở giai đoạn lợn con từ sơ sinh đến cai sữa.
+ Nguyên nhân
Cho lợn con uống Baytril 0.5% hoặc Baycoc 5% với liều lượng 1 ml/2 kg
thể trọng cho uống liên tục 3 ngày.
Phác đồ 2:
Norgencin: dạng nước cho uống 0,5 - 1ml/con/lần, ngày 2 lần, dùng
liên tục 3 - 5 ngày. Thành phần của Norgencin: Norfloxacin, Atropinsulphate.
Phác đồ 3:
COLI ORAN cho uống trực tiếp trong 2 - 4 ngày
Lợn con dưới 10 ngày tuổi 3 - 7 giọt/con/lần.
Lợn con trên 10 ngày tuổi 9 - 13 giọt/con/lần. (Thành phần thuốc:
Colistine sulfate 45MUI, M.Parahydroxybenzoate 2,4mg, Acid sorbic 1.600mg,
dung môi dạng siro vừa đủ 100ml).
Trong quá trình thực tập, tôi đã tham gia điều trị 115 con lợn phân
trắng, tỷ lệ khỏi đạt 100%.
Bệnh tiêu chảy ở lợn con sau cai sữa
+ Nguyên nhân: Do vi khuẩn đường tiêu hóa gây nên, do thay đổi thức
ăn đột ngột, môi trường sống thay đổi bất thường, vệ sinh chuồng trại kém, do
thời tiết, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng,…