Khoá luận thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Phấn TCTY
PHẦN THỨ NHẤT
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là một nước có nền nông nghiệp đang phát triển. Trong đó
ngành chăn nuôi gia cầm từ lâu đã chiếm một vị trí rất quan trọng trong kinh tế
hộ gia đình của người nông dân. Chăn nuôi gia cầm là một ngành chăn nuôi cho
sản phẩm nhanh, chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.
Một trong những khó khăn gây trở ngại cho việc phát triển đàn gà trong
những cơ sở chăn nuôi tập chung cũng như trong hộ gia đình là dịch bệnh còn
xảy ra khá phổ biến. Trong đó một số bệnh truyền nhiễm gây nhiều thiệt hại
cho đàn gà cao sản đang nuôi thích nghi trong điều kiện sinh thái ở nước ta.
Thực trạng chăn nuôi này đã đặt ra cho ngành thú y rất nhiều vấn đề cần giải
quyết. Một trong những vấn đề mà ngành thú y cần phải quan tâm và giải quyết
một cách triệt để đó là bệnh cầu trùng.
Bệnh cầu trùng có ở nhiều nước trên thế giới và là một bệnh có hầu hết ở
các động vật nuôi. Bệnh do loài đơn bào giống Eimeria ký sinh ở trong niêm
mạc ruột gây ra. Bệnh thường tiến triển âm ỉ làm cho con vật chậm lớn, yếu
sức, dễ mắc các bệnh khác và khi gặp điều kiện thuận lợi bệnh phát thành dịch
giết hại nhiều gia súc, gia cầm.
Việc nghiên cứu cầu trùng Eimeria ký sinh trên đàn gia súc, gia cầm đã
bắt đầu từ thế kỷ XIX nhưng những kết quả đáng kể phải đến thế kỷ XX. Cho
đến nay thì hàng trăm loài cầu trùng đã được phát hiện ký sinh trên nhiều loại
gia súc, gia cầm như trâu, bò, dê, chó, ngựa, vịt, ngan, ngỗng… Tuy nhiên cũng
chỉ có một số loài cầu trùng có ý nghĩa về gây bệnh và dịch tễ học, trong đó cầu
trùng gà (Coccidiosis avium ) được nhắc đến như là một trong những giống
Eimeria gây tác hại lớn nhất trong chăn nuôi. Chính vì thế, chăn nuôi gà càng
phát triển việc quan tâm phòng trừ bệnh cầu trùng ở gà không thể xem nhẹ.
Ở việt nam do khí hậu nóng ẩm mưa nhiều rất thuận lợi cho việc cầu
trùng phát triển. Hơn nữa, các loài cầu trùng Eimeria ở gà là những nguồn bệnh
Trường ĐHNN Hà Nội
2.1.1. Căn bệnh
Cho đến ngày nay những nghiên cứu về cầu trùng đã được nhiều tác giả
công bố và phần lớn những công trình này được thực hiện ở nước ngoài. Các
công trình nghiên cứu của Rivelta (1863), Eimer (1870), Leuc Kart (1879),
Zublin (1906), Pocne (1913), Bruce (1912)…., đã tìm thấy những loài cầu trùng
khác nhau. Các tác giả cũng khẳng định tất cả các loài cầu trùng gây bệnh cho
động vật nuôi, động vật hoang dã và người đều do một loại nguyên sinh động
vật sinh sản theo bào tử thuộc ngành Potozoa, lớp Sporozoa, bộ Coccidae, họ
Eimeriidae. Bộ này có 2 giống chính liên quan đến thú y và y học là Eimeria và
Iospora.
Ngày nay người ta xác định được hàng trăm loài cầu trùng khác nhau
thuộc giống Eimeria chúng ký sinh và gây bệnh cho những loài động vật khác
nhau. Sự ký sinh của cầu trùng có tính chất riêng biệt, nghiêm ngặt trên mỗi ký
chủ, thậm chí trên mỗi cơ quan, mô bào, tế bào nhất định. Cầu trùng Eimeria có
tính chuyên biệt nghiêm ngặt và chỉ có thể nhiễm vào loại ký chủ mà chúng đã
thích nghi trong quá trình tiến hoá. Ví dụ: các cầu trùng cừu không thể nhiễm
vào bò và các gia súc khác, các cầu trùng thỏ chỉ có thể nhiễm vào ký chủ của
Trường ĐHNN Hà Nội
3
Khoá luận thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Phấn TCTY
nó mà không nhiễm vào các gia súc khác. Tính chuyên biệt nghiêm ngặt của
cầu trùng giống Eimeria biểu hiện không chỉ với ký chủ của chúng mà còn đối
với nơi chúng ký sinh trong cơ thể gia súc. Cụ thể, E.tenella chỉ sống trong
niêm mạc manh tràng gà, E.acervulina trong tá tràng gà, E.bukid nomensis ký
sinh ở niêm mạc ruột non bò trong khi đó E.cylindrica cũng thấy ở những gia
súc trên nhưng chúng chỉ ký sinh trên niêm mạc ruột già, E.stiedae cư trú trong
tế bào biểu bì ống mật thỏ, còn ở ngỗng thì cầu trùng E.trunkata sinh sống ở
màng niêm mạc bể thận bể thận gây ra bệnh cầu trùng niêm mạc ở thận. Mặt
khác, tính chuyên biệt của cầu trùng còn thể hiện ở chỗ nếu ký chủ nuốt phải
noãn nang (Oocyst) mà noãn nang này không thể ký sinh trong ký chủ đó thì
đoạn sinh sản bào tử của cầu trùng trong những điều kiện thuận lợi có thể tiến
triển từ 18 – 48 giờ.
Thời kỳ cầu trùng phát triển trong cơ thể 10 ngày, cầu trùng bắt đầu thải
nang trứng vào ngày thứ 6, thứ 7 sau khi nhiễm vào cơ thể. Số lượng các noãn
nang thải tối đa trong 3 – 4 ngày đầu. Những ngày tiếp theo cường độ thải cầu
trùng giảm nhiều và đến ngày thứ 10 thì hoàn toàn không thấy chúng nữa. Đôi
khi nang trứng E.tenella được bảo vệ trong manh tràng, từ đó chúng thải ra
ngoài môi trường một thời gian dài tới 5 – 7 tháng. Ở môi trường ngoài, nang
trứng E.tenella khá bền vững, một thời gian dài vẫn giữ được sức sống và khả
năng gây bệnh. Theo N.A.Kolpaxki và P.I.Paskin thì cầu trùng loài này giữ
được khả năng gây bệnh sau khi nằm trong đất suốt năm.
Tính độc đáo của E.tenella là do đặc điểm sinh vật học của loài này, nhờ
cư trú chủ yếu ở một bộ phận của ruột có tầm quan trọng về mặt sinh lý manh
tràng, chúng gây tổn thương rất nặng ở bộ phận này. Các giai đoạn phát triển
nội sinh, nhất là các thể phân lập đời II, khi phát hiện một số lượng lớn trong
vách ruột sẽ phá huỷ màng niêm mạc gây chảy máu. Dưới lớp niêm mạc, xoang
ruột chứa đầy những tế bào biểu bì bị phá hoại, những yếu tố hữu hình của máu
và những dạng cầu trùng ở những giai đoạn phát triển khác nhau. Do tổn
thương nhiều đám lớn trong ruột nên chức năng tiêu hoá bị rối loạn. Màng niêm
mạc bị tổn thương là điều kiện để các vi khuẩn, các độc tố tạo ra khi phân huỷ
các chất chứa trong manh tràng xâm nhập vào cơ thể.
Trường ĐHNN Hà Nội
5
Khoá luận thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Phấn TCTY
2. Eimeria acervulina (Tyzzer, 1929)
Là loài cầu trùng độc lực yếu và chỉ gây bệnh cho gà con khi nhiễm cho
chúng một liều lớn nang trứng. Thời kỳ phát triển nội sinh chủ yếu trong tá
tràng và gây quá trình viêm ác tính. Các noãn nang có hình quả trứng gà hoặc
hình ovan. Đầu nhỏ của noãn nang có 1 Micropil, đầu to có nhân phân cực, vỏ
bọc nhẵn, kích thước của noãn nang là 17,7 – 20,2 x 13,7 – 16,3μm. Thời gian
Loài này độc lực yếu. Noãn nang có hình trái xoan,vỏ cứng không màu.
Nhân phân cực nằm ở một bên cạnh hoặc xen kẽ giữa các nguyên bào tử. Kích
thước nhỏ: 16,6 – 27,7 x 14,8 – 19,4μm. Thời gian tạo thành bào tử nang là 24
– 36 giờ. Cầu trùng này khu trú ở ruột non.
7. Eimeria hagani (Levine, 1942)
Loài này có độc lực yếu. nang trứng hình bầu dục, kích thước 15,8 –
29,9 x 14,3 – 29,5μm. Thời gian thành thục là 48 giờ, noãn nang không có lỗ
noãn. Phát triển nội sinh chủ yếu trong tá tràng và nhiễm vào biểu bì. Khi biến
động noãn nang mạnh, niêm mạc có thể có những tổn thương sâu hơn. Các cầu
trùng sau khi nhiễm một lần vào cơ thể phải gần 8 ngày mới được thải ra.
8. Eimeria brunette (Johnson, 1930)
Là loài cầu trùng có độc lực cao như E.tenella và E.necatrix. Nang trứng
hình bầu dục, không màu, kích thước 20,7 -30,3 x 18,1 -24, 2μm. Noãn nang
không có lỗ noãn, bên trong có thể thấy một hay một số hạt cực. Thời gian sinh
sản bào tử luôn ổn định 24 giờ. Loài cầu trùng này thường ký sinh ở ruột già,
đôi khi phần cuối ruột non, trực tràng và lỗ huyệt. Sau khi gây bệnh một lần cầu
trùng thải ra trong vòng 10 ngày hay hơn nữa.
9. Eimeria mivati (Edgar và Seibold, 1964)
Nang trứng hình trứng, không có màu, kích thước 10,7 – 20 x 10,1 –
15,3μm. Noãn nang có lỗ noãn, có hạt cực. Thời gian sinh bào tử là 18 – 24 giờ.
Thời kỳ phát triển nội sinh của cầu trùng gây tổn thương tế bào biểu bì nhung
mao hay những khe hốc trên suốt phần ruột non. Thời kỳ phát bệnh là 12 này.
2.1.2. Vòng đời
Sự lưu truyền rộng khắp của cầu trùng trên hành tinh chúng ta là nhờ vào
cấu trúc và vòng đời phức tạp cũng như khả năng thích nghi nhanh để tiếp tục
phát triển, tồn tại lâu trong thiên nhiên.
Trường ĐHNN Hà Nội
7
Khoá luận thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Phấn TCTY
Vòng đời của cầu trùng giống Eimeria đặc trưng bằng 3 giai đoạn phát
8
Khoá luận thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Phấn TCTY
nguyên bào tử. Các nguyên bào tử nếu lây nhiễm vào thức ăn nước uống rồi đi
vào cơ thể theo đường tiêu hoá. Ở đó nó được phân chia thành các kén bào tử.
Trong loài Eimeria noãn nang trưởng thành chứa 4 kén bào tử và mỗi kén bào
tử có 2 hạt bào tử.
Các nang trứng khi ra khỏi cơ thể ký chủ cùng với phân, nó phát triển ở
môi trường bên ngoài. Quá trình này gọi là quá trình sinh sản bào tử.
Theo Williams, R.B (1991), noãn nang ở môi trường ngoài khi có những
điều kiện nhất định (nhiệt độ, độ ẩm. ôxy) tế bào chất của nang trứng đầy lên
thành dạng hình cầu và bắt đầu phân chia thành 4 nguyên bào tử, xung quanh
mỗi một nguyên bào tử hình thành màng và nguyên bào tử biến thành túi bào
tử. Bên trong túi bào tử hình thành lưỡi liềm, tức là các thể bào tử và túi bào tử
biến thành bào tử. Lúc này nang trứng (Oocyst) được gọi là nang trứng thành
thục. Ở đây nó kết thúc giai đoạn sinh sản bào tử. Khi noãn nang (Oocyst) vào
cơ thể ký chủ qua thức ăn, nước uống, dưới tác dụng của dịch tiêu hoá vỏ noãn
nang được vỡ ra và giải phóng ra các bào tử thể, chúng xâm nhập vào các tế
bào biểu bì ruột…Và rồi chu kỳ sinh sản cứ thế tiếp diễn.
Sự phát triển của nang trứng (Oocyst) ở môi trường bên ngoài phụ thuộc
vào các yếu tố ngoại cảnh nhất là điều kiện nhiệt độ, độ ẩm. Cho nên thời gian
phát triển của noãn nang ở các loài cầu trùng khác nhau thì thời gian sản sinh
bào tử cũng khác nhau. Đó là đặc điểm vô cùng quan trọng trong phân loại cầu
trùng.
Thời gian xâm nhập của cầu trùng diễn ra rất nhanh. Ở mỹ, bằng thí
nghiệm của Mokher (1939) trên E.acervulina cho thấy là 1 giờ 30 phút sau khi
vật chủ nuốt noãn nang vào, các bào tử được giải phóng ra trong tá tràng, 54
giờ sau khi nhiễm chúng đã có trong tế bào biểu bì ruột. Sau đó 16 giờ bắt đầu
nhân lên, 3 ngày sau khi xâm nhập vào, thế hệ thứ hai đã xâm nhập vào tế bào
biểu bì mới.
Vì vậy trong công tác phòng trị phải đặc biệt quan tâm cắt đứt vòng đời
Theo Abuladze (1990), Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996) cho
thấy bệnh cầu trùng xảy ra ở gà con dưới 3 tháng tuổi, mắc nhiều nhất là gà từ 2
– 8 tuần tuổi trong đó là 3 -4 tuần tuổi mắc nặng nhất và tỷ lệ chết cao nhất.
Theo Lê Văn Năm (2006) gà nhiễm cầu trùng nặng nhất vào giai đoạn 20
– 56 tuần tuổi, nếu không được chữa trị kịp thời đàn gà có thể bị chết đến
100%. Từ những dẫn liệu trên đây cho thấy lứa tuổi là yếu tố liên quan đến mức
Trường ĐHNN Hà Nội
10
Khoá luận thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Phấn TCTY
độ nhiễm cầu trùng ở gà. Vấn đề này cần vận dụng phòng đón trước những lứa
tuổi bị nhiễm cao.
Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996), gia cầm nuôi nhốt chật chội,
ẩm độ môi trường cao, thức ăn không đủ dinh dưỡng, chăm sóc kém đều ảnh
hưởng tới mức độ nhiễm cầu trùng, ẩm độ môi trường cao, nhiệt độ thay đổi đột
ngột là điều kiện thuận lợi cho cầu trùng phát triển.
Bệnh cầu trùng thường xảy ra vào mùa xuân và hè, bệnh có thể phát ra ở
bất cứ thời gian nào ở những trại gà lớn, khi nuôi nhiều, chuồng trại chật, chưa
kịp phân chia ô chuồng, chất thải quá nhiều chưa kịp thay đổi chất độn chuồng,
độ ẩm trong chuồng nuôi tăng nhanh.
Số liệu điều tra của bộ môn thú y thuộc Trung tâm nghiên cứu gia cầm
Trung Ương năm 1986 -1988 cho thấy:
Mùa Xuân Hè Đông
Tỷ lệ (%) 30,6 12,14 7,25
Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996), thì nguồn bệnh là
những gia cầm ốm hoặc những gia cầm mắc bệnh ở thể ẩn. Từ quan điểm đánh
giá cao khả năng truyền lây từ nguồn bệnh là gà mắc bệnh ở thể ẩn (ở gà lớn) là
nguồn bệnh tiềm tàng nguy hiểm.
Tác giả Lê Văn Năm (2006) nhấn mạnh: tuyệt đối không nuôi chung gà
con với gà lớn. Sự lây truyền thông qua thức ăn, nước uống, máng ăn, máng
uống, chất độn chuồng, độ dày của chất độn chuồng, các dụng cụ chăn nuôi,
o
C,nhiệt độ thích hợp nhất là 25 – 30
o
C.
Ở 0
o
C nang trứng bảo tồn tối đa là 2 tháng, để vào nhiệt độ thích hợp chúng lại
phân chia.
Palimpsestor và Litvis (1958) cho biết: noãn nang cầu trùng tồn tại trong
đất tốt nhất là ở độ sâu 5 – 7cm, noãn nang chết dưới tác dụng của các huyễn
dịch Formol, dầu hoả, Xalixin - Nhựa thông, Formol - Nhựa thông với nồng độ
5 -10%, ở nhiệt độ 40 – 45
o
C noãn nang bị chết đi bởi dung dịch Creolin 5%.
Noãn nang đó là noãn nang non và thành thục sau 20 - 30 giây, noãn nang chết
ngay tức khắc trong nước nóng 80
o
C.
Ngoài tự nhiên, noãn nang tồn tại rất lâu. Theo Kogan (1959) chúng có
thể giữ được khả năng gây bệnh sau 5 tháng. Đem sấy khô ở nhiệt độ 40
o
C sau
4 ngày , giữ trong điều kiện thiếu không khí được 30 ngày.
* Gây nhiễm nhân tạo
Shirley (1995) đã làm thí nghiệm gây bệnh nhân tạo trên gà và theo dõi
thời gian thải noãn nang theo phân, ông cho biết:
E.tenella gây nhiễm bằng 500 đến 2.000 noãn nang/ gà, phát hiện noãn
nang trong phân sau đó 5 đến 6 ngày.
E.maxima gây nhiễm bằng 500 đến 2.000 noãn nang/ gà, phát hiện noãn
nang trong phân sau đó 6 đến 8 ngày.
Một biến đổi có ý nghĩa to lớn trong quá trình sinh bệnh cầu trùng đó là
sự rối loạn trao đổi nước. Nguyên nhân chính là do các thể sản sinh của cầu
trùng và hệ vi khuẩn có trong đường ruột xâm nhập tấn công các tế bào ruột gây
Trường ĐHNN Hà Nội
13
Khoá luận thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Phấn TCTY
viêm, gây rối loạn chức năng hấp thụ và vận động của ruột dẫn tới ỉa chảy. Quá
trình viêm càng tăng dịch phân tiết càng nhiều, mất cân bằng nước càng trầm
trọng. Biểu hiện lâm sàng: gà rất khát nước. Nếu mất 10 – 15% lượng nước
trong cơ thể gà sẽ bị chết.
2.1.5. Triệu trứng
Đối với gà bệnh thường xảy ra ở những đàn độ tuổi 10 – 90 ngày tuổi.
Nhưng nặng nhất là ở gà con từ 18 - 45 ngày tuổi . Thời gian ủ bệnh ngắn: 4 – 7
ngày, phụ thuộc vào chủng loại cầu trùng , nơi khu trú và mức độ nhiễm bệnh,
số lượng căn nguyên xâm nhập vào cơ thể và tình trạng chung sức khỏe đàn
gà.Bệnh có 3 thể biểu hiện: Cấp tính, mãn tính, và không có triệu trứng lâm
sàng (mang trùng).
* Thể cấp tính
Bệnh chủ yếu xảy ra ở gà con. Thời gian phát bệnh nhanh, những triệu
trứng lâm sàng điển hình là: Gà ủ rũ, lười đi lại, nằm hoặc đứng một chỗ. Khi
gà đứng đầu thường ngoẹo sang một bên, mắt nhắm nghiền, hai cánh sã xuống
tận sàn nền chuồng, lông xù (gà khoác áo tơi). Gà kém ăn hoặc bỏ ăn hoàn toàn,
nhưng lại uống nước nhiều (khát nước). Lúc đầu mới phát bệnh gà ỉa khó, có
biểu hiện táo bón, sau mấy tiếng thì gà ỉa chảy toàn nước. Phân sống lúc đầu có
nhầy màu nâu vàng, sau chuyển thành sáp nâu, cuối cùng có lẫn máu. Đặc biệt
khi gà bị nhiễm chủng Eimeria tenella thì ở một số gà hậu môn chảy ra máu
tươi. Đôi khi còn quan sát thấy các biểu hiện triệu chứng thần kinh như liệt và
bán liệt chân hoặc cánh hoặc nằm tụ đống tại một góc chuồng kêu khác lạ
nhưng lại rất đặc trưng. Thể cấp tính xảy ra hết sức nhanh chóng và chỉ kéo dài
2 – 3 ngày, ít khi sau 7 – 8 ngày gà bị chết nếu không có sự can thiệp thuốc kịp
biệt rõ nhất là ở ruột già. Các biến đổi khác của cơ thể thuộc về tình trạng còi
cọc và thiếu máu.
2.1.7. Chẩn đoán
Có 4 phương pháp chẩn đoán bệnh:
- Dịch tễ: Gà bị ốm thường sau 10 – 14 ngày tuổi và bệnh nặng nhất từ
18 – 45 ngày tuổi, từ 45 – 90 ngày luôn ở thể mãn tính, sau 90 ngày là thể mang
trùng.
- Lâm sàng: Bệnh với những triệu trứng lâm sàng điển hình như đã mô tả
ở trên cho phép chúng ta có cơ sở nghi đó là bệnh cầu trùng.
Trường ĐHNN Hà Nội
15
Khoá luận thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Phấn TCTY
- Mổ khám bệnh tích .
- Xét nghiệm phân: Phương pháp xét nghiệm phân dùng chủ yếu vào
mục đích khẳng định bệnh và phân loại chủng cầu trùng.
Phương pháp dùng để xét nghiệm phân phổ biến nhất vẫn là phương pháp
của Fuleborn và Darling.
2.1.8. Phòng và trị bệnh
* Trị bệnh
Ở nước ta khi có ngành chăn nuôi gà công nghiệp (1969 – 1971) đến nay
Furazolidon là thuốc được sử dụng rất rộng rãi. Thuốc trộn đều trong thức ăn và
dùng ngay từ khi gà 3 – 4 ngày tuổi đến hết 60 ngày tuổi, liều phòng là
1,5g/10kg thức ăn. Chữa trị với liều gấp đôi tức 3,0g/10kg thức ăn. Thời gian
chữa thông thường 5 – 7 ngày, thậm chí có cơ sở dùng liều chữa trị 10 – 15
ngày liên tục hoặc cho đến khi khỏi bệnh mới trở lại liều phòng.
Loại thuốc thứ hai cũng rất phổ biến là Rigecoccin. Thuốc còn mang các tên
Clopydol, Meticlopindol, Methylchlorpindol, Coyden, Rigecoccin sử dụng
giống như Furazolidon tức là phòng từ 5 – 6 ngày tuổi, liều phòng 2,5g/10kg
thức ăn, liều chữa là 5g/10kg thức ăn.
Để tránh những tác hại do con người và tránh khả năng kháng thuốc của
ngày.
* Phòng bệnh
Trước khi đưa gà vào nuôi, chuồng và tất cả dụng cụ phục vụ cho chăn
nuôi phải được tiêu độc, khử trùng bằng việc quét dọn cơ học sạch sẽ, sau đó
phun Crezin 5%, sau một tuần phun lại bằng Formon 1,5%, sau đó 2 ngày quét
vôi đặc. Mọi dụng cụ sau khi rửa sạch được ngâm trong Crezin 5% 2 – 5 giờ và
phơi thật khô. Chất độn chuồng phải phơi khô phun Formon 1,5% mới được
đưa vào chuồng.
Chuẩn bị xong, cả chuồng và dụng cụ đều được hun sấy bằng một hỗn
hợp thuốc tím + Formon với tỷ lệ ngang nhau: 10m
3
chuồng cần 10g thuốc tím
pha với 10ml Formon 30 – 38
o
, có thể đổ thêm 10ml nước để giảm phản ứng,
giữ khói thuốc tím lâu hơn trong chuồng để khử trùng tốt hơn. Cuối cùng sau 2
ngày mới đưa gà vào nuôi. Trước cửa chuồng gà nên có chậu thuốc khử trùng
hoặc rắc một lớp mỏng vôi bột. Ra vào chuồng phải đi qua đó.
Tại chuồng nuôi và vùng xung quanh chuồng phải có biện pháp tiêu diệt
các vật cơ học hoặc sinh học có khả năng mang mầm bệnh vào như chuột, chim
cút, chim bồ câu, chim sẻ…
Trường ĐHNN Hà Nội
17
Khoá luận thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Phấn TCTY
Nghiêm cấm nuôi lẫn gà dưới 2 tháng tuổi chung với gà dò, gà thịt lớn,
gà đẻ…Cấm mổ khám gà chết ngay trong chuồng nuôi.
Tăng cường khả năng kháng bệnh cho gà bằng cách chăm sóc, nuôi
dưỡng tốt đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật chăn nuôi và quy định phòng bệnh thú
y đối với mỗi bệnh.
Vệ sinh thú y là công việc thường xuyên nhưng ngày càng đóng vai trò
Cocruleum (phẩm xanh), Mepacrin (Acrichin)…Nhưng đa số các chất trong
nhóm này đã bị cấm sử dụng tại nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam.
2. Nhóm Pyrinidin gồm: Amprolium, Beclothiamin, Diaveridin,
Pyrimethamin, Trimethoprim. Nhóm thuốc này rất xưa nhưng đến nay vẫn phát
huy tác dụng và cho kết quả phòng trị cầu trùng rất tốt
3. Nhóm Arsen: Đại diện cho nhóm này người ta hay dùng Acetarsol hoà
tan trong 1% Na
2
CO
3
.2H
2
O.
4. Nhóm Nicarbazin (Nicrazin), Nicoxin…
5. Nhóm Dinitrobenzamid gồm: Dinitrolmid (DOT), Iramin,
Nitromid…
6. Nhóm Chinolin và các dẫn xuất gồm: Buquinolat (Antagonal),
Decoquinat, Nequinat (Methylbenzoquat)
7. Nhóm Pyrimidin và các dẫn xuất gồm: Rigecoccin (Clopydol, Coyden,
Methylclopydol, Methylchlorpyndol…). Khi Rigecoccin kết hợp với
Choloretracyclin thì tác dụng tốt hơn nhiều.
8. Nhóm Guanidin và các dẫn xuất: Đại diện là Robenidin (Robensiden)
9. Nhóm Imidazol và các dẫn xuất: Đại diện là Glycamid
10. Nhóm Sulfonamid khá phổ biến và được sử dụng khá rộng rãi:
Sulfathiazol, Sulfadimidin, Sulfadimethoxin, Sulfaquinoxalin, Sulfaguanidin,
Sulfachlorpyridazin, Sulfachlorpyrazin (Sulfaclozin)…
11. Nhóm kháng sinh – Antibiotic gồm: Salinomycin, Monennzin,
Chlortetracyclin, Tetracyclin, PenicillinG…, Semduramycin….
Trong đó hiệu quả và tốt nhất là Salinomycin và Monenzin.
Trường ĐHNN Hà Nội
20
Khoá luận thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Phấn TCTY
3.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Lấy mẫu phân: Lấy mẫu theo cá thể gia cầm vào buổi sáng (9 – 11
giờ). Mẫu ghi rõ ngày lấy, tuổi, giống gia cầm. Mỗi mẫu được đựng riêng trong
lọ thuỷ tinh sạch có đậy nút.
* Bảo quản mẫu: Lấy mẫu xong phải xét nghiện ngay. Nếu chưa xét
nghiệm thì phải bảo quản trong tủ lạnh.
2. Phương pháp điều tra: Tình hình nhiễm cầu trùng trên gà từ 1 – 56
ngày tuổi vào các ngày 7, 14, 21, 28, 35, 42, 49, 56 ngày tuổi lấy vào buổi sáng
(9 – 11 giờ). Mẫu lấy về được kiểm tra ngay theo phương pháp Fuleborn (phù
nổi bằng nước muối bão hoà).
* Phương pháp Fuleborn:
- Nguyên lý: Lợi dụng sự chênh lệch tỷ trọng giữa trứng giun sán và một
số dung dịch nặng hơn để phân ly trứng ra khỏi phân.
- Cách tiến hành: Cho vào cốc nhỏ 5g phân sau đó cho dung dịch muối
bão hoà vào lọ rồi dùng đũa thuỷ tinh khuấy nát phân, điều chỉnh mực (nước)
dung dịch phân sao cho đúng đến miệng lọ nhưng không tràn nước ra ngoài, đặt
phiến kính lên. Do chênh lệch tỷ trọng, trứng nhẹ hơn sẽ nổi lên trên và bám
vào phiến kính, cặn phân lắng xuống đáy. Để yên nơi không có gió 30 phút lấy
phiến kính ra và đậy lamen ngay lên phiến kính đưa lên kinh hiển vi soi với độ
phóng đại 10x40.
* Đánh giá mức độ cảm nhiễm của đàn gà dựa vào tỷ lệ nhiễm cầu
trùng:
∑ Mẫu dương tính
Tỷ lệ nhiễm cầu trùng =
x 100%
∑ Mẫu kiểm tra
- Cường độ nhiễm được tính bằng mật độ nang trứng trên vi trường kính
Tiến hành thí nghiệm trên giống gà Ai Cập một ngày tuổi do công ty
cung cấp. Số gà đưa vào thí nghiệm là 60 con chia ra làm 2 lô thí nghiệm. Mỗi
lô gồm 30 con, 2 lô gà được chăm sóc nuôi dưỡng trong điều kện như nhau.
Khi gà được 13, 14, 15, 16, 17 ngày tuổi cho uống thuốc đợt 1. Lúc gà được 31,
32, 33, 34, 35 ngày tuổi cho uống đợt 2 (Sơ đồ bố trí thí nghiệm được thể hiện
qua bảng sau)
Trường ĐHNN Hà Nội
22
Khoá luận thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Phấn TCTY
Bảng 1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm phòng bệnh cầu trùng trên đàn gà
STT Lô thí
nghiệm
Loại thuốc Liều lượng Đường đưa Liệu trình
dùng thuốc
1 I Avicoc 1g/1lít nước Uống
2 II Coxymax 100g/600kgT
T/ngày
Trộn thức ăn
Chú thích:
DT: dùng thuốc vào lúc gà được 13, 14, 15, 16, 17 ngày tuổi và 31, 32, 33, 34,
35 ngày tuổi
LM: Kiểm tra mẫu (phân) lúc gà được 20 và 38 ngày tuổi
6. Thử thuốc trị
Bố trí gà theo từng ô (kiểm tra mức độ nhiễm của đàn gà trước khi dùng
thuốc). Sau mỗi ngày dùng thuốc kiểm tra mức độ nhiễm. Từ đó có kết luận về
tác dụng điều trị bệnh của thuốc.
* Thí nghiệm kiểm tra tác dụng điều trị của hai loại thuốc: Avicoc và
Coxymax trên đàn gà Ai Cập.
Bố trí thí nghiệm trên giống gà Ai Cập gồm 60 con 1 ngày tuổi chia làm
2 lô mỗi lô 30 con. Cả 2 lô được chăm sóc nuôi dưỡng trong điều kiện như
Để hiểu được tình hình nhiễm cầu trùng trên đàn gà Ai Cập qua các lứa
tuổi, bố trí thí nghiệm nuôi 30 con gà từ 1 – 56 ngày tuổi theo quy trình kỹ
thuật của công ty không sử dụng thuốc phòng cầu trùng. Xét nghiệm phân định
kỳ vào các thời điểm 7, 14, 21, 28, 35, 42, 49, 56 ngày tuổi.
Kết quả thể hiện qua bảng sau.
Bảng 3. Tình hình nhiễm cầu trùng trên đàn gà Ai Cập từ 1 – 56 ngày tuổi.
Tuổi gà
(ngày)
Số mẫu kiểm
tra
Số mẫu nhiễm Tỷ lệ nhiễm
(%)
Cường độ
nhiễm
7 30 0 0 0
14 30 5 16,66 1
+
21 30 13 43,33 1
+
- 2
+
28 30 23 76,66 2
+
- 3
+
35 30 25 83,33 3
+
- 4
+
42 30 26 86,66 3