Luận án tiến sỹ "Nghiên cứu năng suất, chất lượng và hiệu quả sử dụng một số giống cỏ Hoà Thảo nhập nội trong chăn nuôi bò thịt" - Pdf 13


i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
--------------------------

TỪ TRUNG KIÊN

NGHIÊN CỨU NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG VÀ
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG MỘT SỐ GIỐNG CỎ HÒA THẢO
NHẬP NỘI TRONG CHĂN NUÔI BÒ THỊT Chuyên ngành: CHĂN NUÔI ĐỘNG VẬT
Mã số: 62.62.40.01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. PHAN ĐÌNH THẮM
2. GS.TS. TỪ QUANG HIỂN

ii

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án này là hoàn toàn trung thực và chưa từng
được ai công bố, sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Các thông tin, tài liệu trích dẫn
trong luận án này đã được ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả

Từ Trung Kiên



MỤC LỤC
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục các từ viết tắt ix
Danh mục viết tắt và tên khác của cỏ x
Danh mục các bảng biểu xi
Danh mục các đồ thị xii
Nội dung Trang
MỞ ĐẦU................................................................................................................1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ...................................................................3
1.1. Đặc tính sinh trưởng của cỏ hoà thảo............................................................3
1.1.1. Giới thiệu về cỏ hòa thảo.......................................................................3
1.1.2. Đặc tính sinh trưởng của thân và lá........................................................4
1.1.2.1. Các yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng của thân, lá ............................5
1.1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới tái sinh của thân và lá...............................8
1.1.3. Đặc tính sinh trưởng của rễ..................................................................10
1.1.3.1. Động thái sinh trưởng của rễ ..........................................................10
1.1.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng của rễ ..................................11
1.2. Sản lượng chất xanh, thành phần hóa học của cỏ hoà thảo.....................12
1.2.1. Sản lượng chất xanh ............................................................................12
1.2.2. Thành phần hóa học của cỏ..................................................................14
1.3. Ảnh hưởng của một số kỹ thuật canh tác (khoảng cách cắt, bón phân) đến
lượng và chất cỏ hoà thảo ...........................................................................19
1.3.1. Ảnh hưởng của khoảng cách cắt ..........................................................19
1.3.2. Ảnh hưởng của phân bón.....................................................................21
1.3.2.1. Vai trò của phân đạm .....................................................................21
1.3.2.2. Vai trò của phân lân .......................................................................23

dụng và tính tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ của cỏ ....................................44
2.3.5.1. Xác định khối lượng cỏ tươi bò ăn được trong một ngày đêm ...............44
2.3.5.2. Xác định tỷ lệ cỏ được sử dụng ......................................................44
2.3.5.3. Tính tỷ lệ tiêu hóa vật chất hữu cơ bằng phương pháp sinh khí in vitro (in vitro
gas production technique) và tính năng lượng ME ..............................45
2.3.6. Thí nghiệm 6: Đánh giá hiệu quả của cỏ trong chăn nuôi bò thịt...............45
2.3.6.1. Thí nghiệm 6a: Đánh giá hiệu quả chăn nuôi của cỏ tươi trên bò thịt............ 45
2.3.6.2. Thí nghiệm 6b: Đánh giá hiệu quả chăn nuôi của cỏ khô trên bò thịt ............ 46
2.3.7. Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu .......................................................48
2.3.8. Phương pháp xử lý số liệu ...................................................................50
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN...........................................................52
3.1. Thí nghiệm 1: Nghiên cứu chọn lọc một số giống cỏ hòa thảo......................52
3.1.1. Thành phần dinh dưỡng đất thí nghiệm................................................52
3.1.2. Khí tượng khu vực thí nghiệm từ 2004 - 2009 .....................................52

vi
3.1.3. Tỷ lệ sống của các cỏ thí nghiệm tính theo khóm.................................54
3.1.4. Năng suất của cỏ .................................................................................55
3.1.5. Thành phần hóa học của cỏ..................................................................57
3.1.6. Sản lượng cỏ tươi, vật chất khô, protein của cỏ thí nghiệm..................58
3.1.7. Ảnh hưởng của mùa vụ đến sản lượng của 6 giống cỏ thí nghiệm............61
3.1.8. Nhận xét chung về thí nghiệm 1 ..........................................................61
3.2. Thí nghiệm 2: Xác định khoảng cách cắt thích hợp.....................................61
3.2.1. Ảnh hưởng của khoảng cách cắt đến năng suất của cỏ...........................61
3.2.2. Thành phần hóa học của cỏ thí nghiệm ở các KCC khác nhau .............65
3.2.3. Sản lượng cỏ thí nghiệm ở các khoảng cách cắt khác nhau ..................69
3.2.4. Ảnh hưởng của mùa vụ đến sản lượng cỏ ở các KCC khác nhau...................71
3.2.5. Nhận xét chung về thí nghiệm 2 ..........................................................71
3.3. Thí nghiệm 3: Nghiên cứu liều lượng phân đạm thích hợp..........................72
3.3.1. Ảnh hưởng của các mức phân đạm khác nhau tới năng suất cỏ............ 72

2. Đề nghị........................................................................................................103
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN..........104
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................105
PHỤ LỤC .......................................................................................................... 123 viii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ATP: Adrenosine triphotphate
DXKN: Dẫn xuất không chứa nitơ
ĐC: Đối chứng
CIAT: Center of International Tropical Agriculture
CP: Protein thô
CS: Cộng sự
CT: Công thức
CX: Chất xanh
K: Kali
KCC: Khoảng cách cắt
KL: Khối lượng
N: Nitơ
NS: Năng suất
NSCX: Năng suất chất xanh
NSTB: Năng suất trung bình
OM: Chất hữu cơ
P: Phốt pho
PDI: (Proteines Digestible dans l’intestin) Protein được tiêu hóa
ở ruột non
Pr Protein
SL: Sản lượng

Andropogon gayanus A. gayanus
Brachiaria humidicola B. humidicola
Brachiaria ruziziensis B. ruziziensis
Panicum maximum P. maximum
Paspalum guenoarum P. guenoarum

x
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng Tiêu đề Trang

2.1: Công thức thí nghiệm 6a............................................................................. 46
2.2: Công thức thí nghiệm 6b............................................................................. 47
3.1: Thành phần dinh dưỡng đất thí nghiệm....................................................... 52
3.2: Giá trị trung bình về khí tượng Thái Nguyên từ năm 2004 - 2009 ............... 53
3.3: Tỷ lệ sống của các cỏ thí nghiệm sau trồng 30 ngày ................................... 55
3.4: Năng suất các lứa cắt năm thứ nhất ............................................................ 55
3.5: Năng suất các lứa cắt năm thứ hai .............................................................. 56
3.6: Thành phần hóa học của các cỏ thí nghiệm ................................................ 57
3.7: Sản lượng cỏ tươi, vật chất khô và protein ................................................. 59
3.8: Năng suất cỏ thí nghiệm ở các KCC khác nhau năm 1 và 2 ........................ 62
3.9: Thành phần hóa học của cỏ thí nghiệm ở các KCC khác nhau ................... 65
3.10: Sản lượng cỏ thí nghiệm ở các KCC khác nhau trong 2 năm ...................... 70
3.11: Năng suất cỏ thí nghiệm ở các mức bón đạm khác nhau ............................ 72
3.12: Thành phần hóa học của cỏ thí nghiệm ở các mức bón đạm khác nhau ............... 76
3.13: Tổng sản lượng của cỏ thí nghiệm ở các mức N khác nhau ........................ 79
3.14: Năng suất trung bình của cỏ thí nghiệm ở mức N.P.K cùng tăng ................ 83
3.15: Thành phần hóa học của cỏ ở các mức bón N.P.K cùng tăng.............................86
3.16: Tổng sản lượng của cỏ thí nghiệm ở các mức bón N.P.K cùng tăng .................89
3.17: Khối lượng cỏ bò ăn được ở các tuổi cỏ khác nhau ..................................... 93

không có kỹ thuật, đã làm cho một số bãi chăn trở thành đất trống, đồi núi trọc,
không còn khả năng khai thác dẫn đến tình trạng thiếu thức ăn cho đàn gia súc, đặc
biệt là về mùa đông.
Hiện nay, chăn nuôi bò ở nước ta đang phát triển mạnh cả về số lượng và
chất lượng, từ chỗ chăn thả quảng canh là chủ yếu, đang chuyển dần sang hình thức
nuôi bán thâm canh và thâm canh. Vì vậy, việc đảm bảo nhu cầu thức ăn xanh chất
lượng cao cho chúng đã trở thành vấn đề thời sự.
Trong những năm qua, bằng nhiều con đường khác nhau, nước ta đã nhập
hàng trăm giống cây, cỏ làm thức ăn cho vật nuôi. Việc chọn lọc và đưa vào sản xuất
những giống cây, cỏ mới năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với sinh thái từng
vùng và nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, đồng thời xác định
được thành phần hoá học cũng như giá trị dinh dưỡng của chúng là hết sức cần thiết.
Nhờ đó, đáp ứng nhu cầu thức ăn xanh cho bò cả về số lượng cũng như chất lượng.
Xuất phát từ những yêu cầu trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu
năng suất, chất lượng và hiệu quả sử dụng một số giống cỏ hòa thảo nhập nội
trong chăn nuôi bò thịt”.
2. Mục đích của đề tài
Lựa chọn được một số giống cỏ hòa thảo có năng suất, giá trị dinh dưỡng cao
phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu ở vùng trung du - miền núi phía Bắc, cũng như
xác định được kỹ thuật canh tác và hiệu quả sử dụng chúng trong chăn nuôi bò thịt.
Từ đó đưa các giống cỏ này ra sản xuất phục vụ cho phát triển chăn nuôi gia súc nhai
lại nói chung, chăn nuôi bò nói riêng ở tỉnh Thái Nguyên và các tỉnh trong khu vực có
điều kiện tương tự.
3. Ý nghĩa của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Làm giàu thêm cho kho tàng kiến thức về cỏ trồng, giá trị dinh dưỡng của cỏ và
hiệu quả sử dụng chúng trong chăn nuôi bò thịt ở khu vực trung du - miền núi phía Bắc.

2
3.2. Ý nghĩa thực tiễn

mặt trời thành lá xanh để động vật có khả năng thu nhận năng lượng này. Tuy
nhiên, sử dụng năng lượng từ lá lại phụ thuộc vào chu kỳ phát triển của cây. Các cỏ
nói chung và cỏ hòa thảo nói riêng, sinh trưởng và tái sinh đều trải qua ba giai đoạn,
mỗi giai đoạn lại có đặc điểm riêng như sau:
Giai đoạn I (sinh trưởng chậm): xảy ra sau khi cây cỏ mới bị chăn thả, thu cắt
hay mới gieo trồng. Sau khi thu cắt, lá mất đi nên cây không có khả năng thu nhận
ánh sáng mặt trời. Trong khi đó, cây đòi hỏi nhiều năng lượng để phát triển. Vì vậy,
để bù lại sự thiếu hụt đó, năng lượng được huy động từ rễ. Rễ trở nên nhỏ đi và yếu
hơn, vì năng lượng được sử dụng để phát triển lá. Chính vì vậy, khi cây bị ngập úng
vào giai đoạn này, cỏ sẽ rất dễ chết, do lá để thoát hơi nước không có, còn rễ thì yếu
nên dễ bị tổn thương dẫn đến thối rễ.
Cây cỏ ở trong giai đoạn I sinh trưởng rất chậm, năng suất thấp, nhưng lá
mềm, ngon miệng và có giá trị dinh dưỡng cao.
Giai đoạn II (sinh trưởng nhanh): là giai đoạn từ sau khi gieo trồng hoặc
sau khi thu cắt hay sau chăn thả từ 10 - 15 ngày trở đi. Khi tái sinh đạt tới 1/4
hay 1/3 kích thước của cây trưởng thành, năng lượng được hấp thu đủ qua quá
trình quang hợp để cung cấp cho sự phát triển và bắt đầu bổ sung cho rễ. Đây là
thời gian cỏ phát triển nhanh nhất. Trong giai đoạn này, lá chứa đủ protein và

4
năng lượng thoả mãn nhu cầu dinh dưỡng cho gia súc và cỏ có chất lượng dinh
dưỡng cao.
Giai đoạn III (sinh trưởng chậm hoặc ngừng hẳn): Là giai đoạn từ sau khi
gieo trồng hoặc sau khi chăn thả, sau khi cắt cỏ khoảng 40 - 70 ngày (Đoàn Ẩn và
Võ Văn Trị, 1976) [2]. Cây tiếp tục phát triển, nhưng lá ngày càng trở nên nhạt dần,
lá ở phần gốc chết đi và bị phân huỷ. Lá sử dụng nhiều năng lượng để hô hấp hơn là
chúng có thể tạo ra từ quang hợp. Ở giai đoạn 3, cỏ có phần thân chiếm đa số và
nhiều xơ. Năng suất và hàm lượng các chất dinh dưỡng trong cỏ cao, tuy nhiên, tỷ
lệ cỏ được sử dụng (gia súc ăn) và khả năng tiêu hoá của gia súc đối với lá và thân
cây giai đoạn này thấp dần.

1.1.2.1. Các yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng của thân, lá
Có rất nhiều yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cỏ như giá
trị của phẩm giống hay các yếu tố khí hậu, thời tiết, đất đai... Trong các yếu tố đó,
thì ánh sáng, nhiệt độ, nước và chất dinh dưỡng có trong đất là các yếu tố chủ yếu
ảnh hưởng tới đời sống của cỏ.
Sức nẩy mầm của cỏ (hạt, hom)
Sự sinh trưởng của cỏ phụ thuộc vào sức nẩy mầm của hạt, hạt có sức nầy mầm
cao sẽ tạo điều kiện tốt cho sinh trưởng sau này. Sức nẩy mầm của giống không những
phụ thuộc vào bản thân hạt, mà còn phụ thuộc vào sự chuẩn bị giống của con người,
điều kiện đất đai và khí hậu. Đối với các giống cỏ dùng hom cũng vậy, những đoạn
hom đầu có tỷ lệ nẩy mầm cao nhất, khi tăng số đốt của hom sẽ tăng tỷ lệ nẩy mầm, tuy
nhiên từ đốt thứ 3 trở đi thì tỷ lệ nẩy mầm giảm xuống đột ngột.
Trong thời kỳ nẩy mầm của hạt giống, thì phạm vi nhiệt độ của đất và không
khí từ 15 - 35
0
C là thuận lợi cho cỏ sinh trưởng và phát dục. Nhìn chung, khi nhiệt độ
tăng lên làm rút ngắn rất nhiều thời gian từ khi gieo hạt tới khi mọc mầm, tuy nhiên,
tăng hoặc giảm thấp quá ngưỡng chịu đựng của cây, có thể làm cây non đói ăn tạm
thời và ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng về sau.
Nhiệt độ
Tất cả quá trình sinh lý thực vật đều bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ (Salisbury và
Ros, 1969) [175]. Nhiệt độ có ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng của cây, nhiệt độ
tăng (nằm trong nhiệt độ tới hạn) thì sinh trưởng tăng và khi nhiệt độ giảm thì sinh
trưởng chậm lại. Nếu tăng nhiệt độ tới giới hạn nhất định có tác dụng thúc đẩy quá
trình hấp thu chất khoáng của rễ (Trịnh Xuân Vũ và Lê Doãn Diên, 1976) [82]. Theo
Bogdan, (1977) [95] nhiệt độ thấp nhất để cỏ nhiệt đới nẩy mầm là 15 - 20
0
C và tối
ưu là 25 - 35
0

C, nhiệt độ không khí cứ tăng lên 10
0
C có thể làm cho
quá trình sống của thực vật tăng 1 - 2 lần. Khi nhiệt độ tăng quá 35
0
C, quá trình
sống giảm yếu đi hoặc ngừng hẳn, còn khi nhiệt độ từ 40 - 50
0
C, quá trình sống
ngừng hoàn toàn. Dưới ảnh hưởng lâu dài của nhiệt độ cao (chưa vượt qua ngưỡng
cao nhất) thực vật phát dục rất nhanh và phát dục này là không bình thường. Nếu
ảnh hưởng đúng vào thời kỳ sinh trưởng thì thực vật còi cọc, khí quan dinh dưỡng
phát triển không tốt, hoa nở sớm, sản lượng thấp. Nhìn chung, khi nhiệt độ giảm
xuống hay tăng lên quá nhiều thì thực vật bắt đầu chết từng bộ phận hay chết hoàn
toàn; Ở nhiệt độ thích hợp nhất, thực vật sinh trưởng vừa nhanh lại vừa tốt.
Nếu nhiệt độ tăng, tỷ lệ tiêu hóa được của cỏ và tỷ lệ cacbohydrate phi cấu trúc
giảm, nhưng thường thì tỷ lệ chất khoáng và protein tăng (Smith, 1970) [186]. Vì vậy,
nhiệt độ hay thời gian thu hoạch cỏ trong năm sẽ ảnh hưởng tới giá trị dinh dưỡng của
thức ăn (Harris, 1978) [122]; (Marten, 1970) [150].
Nước
Nước là yếu tố cần thiết không thể thay thế cho sự sinh trưởng của cây. Cây
sinh trưởng mạnh nhất khi tế bào bão hòa nước. Giảm mức độ bão hòa thì tốc độ
sinh trưởng chậm lại. Vì vậy, mùa mưa lượng nước được đảm bảo nên cỏ sinh
trưởng mạnh, còn mùa khô thì ngược lại, do lượng nước trong đất là nhân tố hạn
chế nhất trong mùa này. Vì vậy, cần tưới nước cho cỏ trong mùa khô.
Ẩm độ hay lượng nước trong đất có ý nghĩa đặc biệt đối với đời sống cây
trồng. Đây là yếu tố cần thiết, căn bản, không thể thay thế trong đời sống cây trồng.
Lượng nước trong đất ít hay nhiều đều ảnh hưởng tới độ thoáng khí của đất và việc
cung cấp dinh dưỡng, chế độ quang hợp, chế độ thoát hơi nước để thực vật không bị
nóng quá... điều đó ảnh hưởng tới năng suất, sinh trưởng và chất lượng cây trồng

Hầu hết cỏ đều là cây ưa sáng hơn là cây ưa bóng. Ngoài ra, ánh sáng còn là nguyên
nhân chủ yếu khiến cây ra hoa kết hạt.
Dinh dưỡng trong đất
Hầu hết chất dinh dưỡng cần thiết cho cây sinh trưởng nằm trong đất. Mười
sáu nguyên tố thiết yếu được biết đến là rất cần thiết cho cây sinh trưởng như
cacbon, hydro, oxy trong đất- không khí, nitơ trong không khí - đất, photpho, kali,
canxi, kẽm... đều có trong đất.

8
Đất có hạt sét quá nhiều thì thường dí chặt, yếm khí, hoạt động của rễ thực
vật bị hạn chế. Những loại đất này thường khiến cho rễ thực vật tiết ra nhiều độc
tố. Những cây thức ăn dùng cho gia súc thường không thích hợp trồng ở đất này
(Từ Quang Hiển và CS, 2002) [32]. Tính chất vật lý, cấu tượng của các loại đất
khác nhau sẽ ảnh hưởng tới ẩm độ của đất, sự hấp thu các chất dinh dưỡng, sự
phát triển của hệ vi sinh vật trong đất. Đất là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng
cho cây. Nếu đất thiếu các chất dinh dưỡng nào thì cây sẽ thiếu chính các chất dinh
dưỡng đó. Kết cấu đất ảnh hưởng tới năng suất cũng như chất lượng cây trồng. Tỷ
lệ mùn, đất, đá, cát, sét, sỏi khác nhau, sẽ tạo đất có kết cấu khác nhau. Đất giầu
mùn, thường có tỷ lệ cát, sét, sỏi thấp. Nếu được thường xuyên canh tác, đất sẽ có kết
cấu viên tốt và tơi xốp, rễ cây phát triển nhanh và mạnh, vi sinh vật hoạt động tốt
(Từ Quang Hiển và Nguyễn Khánh Quắc, 1995) [30]. Để cải tạo đất, ta cần
thường xuyên bón phân hữu cơ và kết hợp xới xáo, diệt cỏ dại và cung cấp nước
thường xuyên (Nguyễn Thế Đặng và Nguyễn Thế Hùng, 1999) [23].
1.1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới tái sinh của thân và lá
Cây cỏ đã được thu hoạch bằng dạng này hay dạng khác chỉ có khả năng tái
sinh khi trong rễ và thân còn lại có chứa đầy đủ chất dinh dưỡng cần thiết cho quá
trình tái sinh. Vì vậy, khả năng tái sinh phụ thuộc vào các yếu tố như: tuổi thiết
lập, tuổi thu hoạch, độ cao cắt, vì nó ảnh hưởng tới lượng chất dinh dưỡng dự trữ
để tái sinh.
Tuổi thiết lập

Theo Từ Quang Hiển và CS, (2002) [32] cỏ Pangola thu hoạch lứa đầu sau
trồng 2 - 3 tháng, các lứa sau cắt cách nhau 50 - 60 ngày (hè thu), 60 - 90 ngày
(đông xuân). Cỏ Tây Nghệ An thu hoạch sau trồng 50 - 70 ngày, sau đó cứ 40 - 50
ngày (hè thu) và 70 - 80 ngày (đông xuân) cắt lứa tiếp theo. Cỏ voi thu hoạch sau
trồng từ 2 - 2,5 tháng, sau đó cứ 30 - 50 ngày (hè thu) và 50 - 65 ngày (đông xuân)
cắt lứa tiếp theo.
Theo Điền Văn Hưng, (1964) [35] thì cỏ thân đứng thu hoạch sau trồng và
sau cắt là trên 60 ngày. Cỏ thân bụi sau trồng là 60 ngày, sau cắt là 30 - 45 ngày. Cỏ
thân bò thu hoạch sau trồng là 50 - 55 ngày, sau cắt là 30 - 45 ngày.
Tuổi thu hoạch cỏ có liên quan chặt chẽ với chiều cao thân cỏ. Do đó, người ta
dựa vào chiều cao của thảm cỏ để thu hoạch. Ví dụ như: đối với cỏ Ghinê thu hoạch
khi thảm cỏ cao 60 - 90 cm, cỏ lông para 45 - 60 cm, cỏ pangola cao 35 - 50 cm
(Hamphray, 1980) [28].
Chiều cao cỏ khi cắt
Khi cắt cỏ quá cao sẽ làm giảm sản lượng cỏ, vì một phần sản lượng nằm ở
phần để lại, khi cắt cỏ quá thấp sẽ ảnh hưởng tới các lần tái sinh sau đó, làm mất đi
phần thân gần gốc là cơ quan dự trữ chất dinh dưỡng cơ bản để nuôi rễ và toàn bộ lá
và dùng cho việc tái sinh.
Nếu cỏ có thể phát triển không ngừng và thu hoạch một lần ở cuối mùa phát
triển như ngũ cốc, thì tổng sản lượng sẽ thấp và chất lượng cũng thấp hơn là được

10
cắt vài lần trong suốt giai đoạn của mùa sinh trưởng. Thu hoạch là biện pháp kỹ
thuật để đồng cỏ luôn được duy trì trong giai đoạn sinh trưởng. Nếu cứ để cỏ trưởng
thành một cách tự nhiên, thì thời kỳ chồi rễ sẽ dài hơn. Ngay sau khi cây cứng cáp
và các điểm sinh trưởng chủ yếu hoạt động, năng suất đồng cỏ có thể tiếp tục tăng,
nhưng năng suất sẽ giữ nguyên khi cây gần rơi vào tình trạng ngủ. Thông thường,
mục tiêu của quản lý chăn thả hay thu cắt là giữ cây ở trạng thái sinh trưởng thuận
lợi nhất và kéo dài nhất có thể và sau đó có đủ dinh dưỡng cung cấp cho tái nẩy
chồi và dự trữ cacbohydrate.

xâm lấn của cỏ dại.
1.1.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng của rễ
Nhiệt độ:
Smith, (1973) [188]; Whyte và CS, (1964) [212] cho rằng, rễ cần nhiệt độ
thấp hơn so với thân và lá để sinh trưởng và phát triển. Bởi vậy, ở nhiệt độ cao rễ
sinh trưởng chậm hơn so với thân và lá. Cây non có nhiệt độ tối thích hợp thấp hơn
so với giai đoạn trưởng thành.
Trong thời kỳ sinh trưởng, gốc của thực vật và đất xung quanh đều ảnh
hưởng lẫn nhau. Cho nên, nhiệt độ đất ảnh hưởng rất lớn đến sự phát dục của rễ.
Thông thường sau khi mọc mầm, nhiệt độ đất không cao lắm thì rễ phát dục thuận
lợi. Chùm rễ thường bắt đầu hoạt động vào lúc nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ thích hợp
cho sự sinh trưởng của lá. Người ta cũng chứng minh rằng, chỉ khi đất có đầy đủ
nhiệt lượng, thực vật mới có thể hấp thu tốt nước và các chất dinh dưỡng hòa tan
trong nước. Nếu nhiệt độ đất giảm xuống một mức độ nhất định, thì hoạt động của
rễ giảm yếu đi, còn khi đất rất lạnh thì rễ hoàn toàn ngừng hoạt động. Khi đó thực
vật không thể hút được các chất dinh dưỡng trong đất, thực vật bắt đầu héo và chết.
Ẩm độ đất
Độ sâu của rễ phụ thuộc vào mực nước ngầm, nước ngầm cao thì độ sâu của
rễ giảm và phát triển ngang (trừ cỏ chịu nước). Nếu mực nước ngầm thấp thì phát
triển cả về độ sâu lẫn bề ngang của rễ. Điều này là cơ sở để chọn lọc cỏ chịu hạn
hay chịu úng ngập.
Cây sinh trưởng phụ thuộc vào sự đầy đủ ẩm độ đất (Larson và Eastin, 1971)
[142]; (Russell, 1966) [174]; (Taylor, 1964) [192].
Ánh sáng
Nếu chiếu sáng đầy đủ, thì bộ rễ phát triển mạnh mẽ hơn và ngược lại. Độ
dài ngày và dự trữ dinh dưỡng trong rễ có tỷ lệ thuận với nhau. Tăng cường độ chiếu
sáng sẽ tăng phát triển rễ và dẫn đến tăng sinh trưởng thân và lá.
Cường độ ánh sáng yếu đồng nghĩa với năng suất VCK thấp và giảm sinh
trưởng của rễ. Khi lá cỏ phát triển hoàn thiện thì cây che bóng mới phát huy hiệu
quả, lúc này nếu không có các yếu tố giới hạn, thì năng suất cũng không tăng lên

yếu tố, như đất đai, chăm sóc, chế độ bón phân và độ dài của mùa khô. Sản lượng
của các giống Brachiaria spp có thể biến động từ 5 - 30 tấn vật chất khô/ha/năm.
Kết quả nghiên cứu của CIAT, (1978) [102] tại Quilichao, Colombia, thì
giống cỏ Brachiaria decumbens có thể đạt sản lượng chất khô trên 4.000 kg/ha/năm
với thí nghiệm không có bón đạm, nhưng bón đủ lân và nó là một giống cỏ tốt nhất
trong điều kiện bón lân và đạm thấp.

13
Tại Samford, Queensland, sản lượng hàng năm của giống P. dilatatum là
15.000 kg VCK (Davies, 1970) [109]. Tại Fiji sản lượng trung bình là 5.313 kg
VCK/ha/năm với mức protein thô trong VCK là 9,9 % trong thời gian theo dõi 3
năm (Roberts, 1970) [170], tại Mỹ sản lượng cỏ này đạt từ 1.230 - 12.000 kg vật
chất khô/ha/năm (Bennett, 1973) [90].
Như vậy, các giống cỏ khác nhau có sản lượng chất xanh và vật chất khô
khác nhau; Cùng một giống cỏ nhưng trồng ở các vị trí địa lý khác nhau cũng cho
năng suất khác nhau.
* Ảnh hưởng của mùa vụ đến sản lượng cỏ
Khi cỏ sống ở các điều kiện khác nhau thì yếu tố khí hậu là nhân tố thường
hạn chế tới sản lượng của cỏ. Đối với các vùng lạnh và vùng khan hiếm nước, thì
yếu tố hạn chế về năng suất chính là nước. Do vậy, đã không ít những nghiên cứu
về mùa vụ và nước tưới ảnh hưởng tới sản lượng của cỏ.
Sản lượng trung bình của cỏ Nadi blue ở Sigatoka, Fiji là 22.725 kg/ha/năm
(Roberts, 1970) [170] [172]. Sản lượng vật chất khô trung bình của cỏ Nadi là
11.500 kg/ha/năm trong năm 1971 - 1972 và trong đó 31 % sản lượng đạt được ở
trong mùa khô năm 1972 (Partridge, 1979) [157].
Cỏ pangola ở Beerwah, nam Queensland, với tổng lượng mưa hàng năm
1.075 mm, có sản lượng trung bình là 10.565 kg/ha/năm, khi cỏ được bón phân đầy
đủ (Evans, 1967) [113] đã đạt năng suất 113 kg vật chất khô/ha/ngày vào mùa hè,
nhưng chỉ đạt 2,25 kg vật chất khô/ha/ngày vào mùa đông mặc dù cùng một chế độ
bón phân. Ở phía bắc Queensland với lượng mưa lớn hơn và được bón 220 kg N,

Trong thức ăn chăn nuôi thì thành phần hóa học của cây thức ăn là yếu tố
quyết định tới chất lượng của chúng, đồng thời chúng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu
tố như: giống, phân bón, tuổi cỏ, mùa vụ...
* Ảnh hưởng của giống.
Theo tài liệu của Viện Chăn nuôi quốc gia, (1995) [80], đối với cây cỏ hòa
thảo ngoài tự nhiên thì hàm lượng các chất dinh dưỡng rất khác nhau:
Có loại cỏ có tỷ lệ VCK thấp như cỏ bấc với 13,10 % vật chất khô, 2,10 %
protein thô, 0,20 % lipit thô, 3,90 % xơ thô, 5,50 % dẫn xuất không đạm và 1,40 %
khoáng tổng số. Một số cỏ có mức trung bình về vật chất khô như: cỏ Mộc Châu
mọc tự nhiên có 23,88 % vật chất khô, 2,54 % protein thô, 0,51 % lipit thô, 8,67 %
xơ thô, 10,13 % dẫn xuất không đạm; 2,03 % khoáng tổng số; cỏ Ghinê Australia
có 21,00 % vật chất khô, 2,70 % protein thô, 0,40 % lipit thô, 7,50 % xơ thô, 8,70 %
dẫn xuất không đạm và 1,70 % khoáng tổng số. Một số cỏ khác lại có hàm lượng
vật chất khô cao (trên 30 %) như: cỏ sâu róm có 30,20 % vật chất khô và tỷ lệ các
chất khác là 2,30 % protein thô, 1,60 % lipit thô, 9,70 % xơ thô, 14,70 % dẫn xuất
không đạm, 1,90 % khoáng tổng số, cỏ pangola trung du Bắc Bộ có 35,60 % vật chất
khô, 2,30 % protein thô; 0,90 % lipit thô, 11,60 % xơ thô, 18,10 % dẫn xuất không
đạm và 2,70 % khoáng tổng số.
Như vậy, đối với mỗi loại cây thức ăn khác nhau thì thành phần hóa học
của chúng là khác nhau. Thành phần hóa học của cây thức ăn phụ thuộc vào từng
giống cây trồng.

Trích đoạn Sản lượng cỏ tươi, vật chất khô, protein của cỏ thí nghiệm Ảnh hưởng của khoảng cách cắt đến năng suất của cỏ Thành phần hóa học của cỏ thí nghiệ mở các KCC khác nhau Ảnh hưởng của mùa vụ đến sản lượng cỏ ở các KCC khác nhau Ảnh hưởng của các mức phân đạm khác nhau tới năng suất cỏ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status