Đẹp Với Âm Dương Ngũ Hành
Nhân tướng học ra đời ở Trung Hoa khá sớm , rồi lan
ra các nước xung quanh .Từ lâu rồi người Trung Quốc
đã nhận thấy sự liên quan của hình tướng , đặc biệt các
đường nét trên khuôn mặt , dáng đi nói lên tính cách
của con người và từ đó tổng hợp lên thành vận trình
một đời người .
Nhân Tướng Học Hướng Tới Một Vẻ Đẹp Trong
Hòa Hợp :
Phạm Lãi vào thời Chiến Quốc đã sớm nhìn thấy
tướng mạo của Việt Vương Câu Tiễn mũi như mũi
két , giọng nói the thé : là người có thể “Cộng Khổ”
mà không thể “Đồng Cam” được, nên đã sớm lui bước
sau khi thành công , tránh khỏi họa sát thân như thừa
tướng Văn Chủng.
Đi sâu vào Nhân Tướng Học thì thật ra có rất nhiều
vấn đề , nhiều tiêu chuẩn đánh giá tốt xấu khác nhau,
song tựu chung lại tốt xấu quyết định ở hai mệnh đề
sau : “Khúc tất hữu tình – cong vòng uốn lượn tất là có tình ; Trực tất vô tình – Thẳng
tuột tất là vô tình” và “Tương liên thông hòa – liền lạc hòa hợp với nhau” . Thật ra nếu
chiếu theo từng nét đẹp trong nhân tướng học thì chỉ có thể là một con người trong tranh
vẽ mà thôi . Con người thông thường hội đầy đủ cả nét tốt ( Cát ) cùng nét xấu
( Hung ) . Điểm căn bản nhất là tất cả các yếu tố tốt phải chiếm được ưu thế , đạt được
tỷ lệ 2/3 hoặc 3/4 càng tốt . Đặc biệt các đường nét phải có sự hòa hợp , gắn bó , cái xấu
bị kiềm chế , cái tốt được phát huy .
Vấn đề là khi trong diện mạo , tướng mạo có đôi nét phá tướng thì có thể dùng tác động
bên ngoài để cải tạo được không ? Xin thưa là được ! Người Xưa có câu : “Tướng Tùy
Tâm Sinh , Tướng Tòng Tâm Diệt – Tướng Mạo theo tâm tính mà sinh ra và theo
tâm ý thay đổi mà mất đi” như vậy tu thân dưỡng tính , học tập rèn luyện đạo đức chính
dụng màu sắc sao cho hiệu quả ; tăng cường thêm sinh lực ,
vận khí thì hẳn còn ít người quan tâm !
Khoa Phong Thủy từ lâu đã nghiên cứu khá kỹ về tác động của màu sắc đối với con
người . Đặc biệt là các trường phái nghiên cứu về hình thể ( thường gọi là phái Loan
Đầu ) . Các lý thuyết về màu sắc căn bản dựa trên thuyết âm dương , ngũ hành nghiên
cứu cả hai chiều tác động giữa con người với môi trường và môi trường với con người !
Trong những năm gần đây khi Khoa Phong Thủy được Tây Âu chấp nhận thì các lý
thuyết về hình thể và màu sắc đã kết hợp với khoa học tâm lý hiện đại để đạt được hiệu
quả rất tích cực !
Ví Dụ : Một số bệnh viện ở Mỹ đã thay màu áo của Bác Sĩ từ màu trắng truyền thống
( Hành Kim – mùa đông lạnh lẽo và khô cứng ) sang màu xanh ( Hành Mộc – mùa
xuân ,ấm áp , mềm mại ) và tự nhiên công việc điều trị dường như cũng tốt đẹp hơn .
Theo các nghiên cứu của Khoa Phong Thủy và Tâm Lý Màu Sắc , tính chất màu sắc có
khả năng cải biến trạng thái tâm lý tình cảm con người , từ đó hỗ trợ mạnh mẽ cho việc
cải biến vận mệnh con người : Nếu muốn tăng khả năng quan sát và phán đoán của
mình bạn có thể dùng các trang phục , các hóa trang có màu vàng ; Màu trắng trên mặt
nhẹ nhàng mang lại cho bạn ấn tượng về sự thuần khiết dễ thu hút sự yêu mến của mọi
người !
Nếu trong cơ quan mà bạn không được mọi người quý mến , hoặc sự nghiệp của bạn bị
đình trệ cản trở khó tiến màu chanh sẽ là sự giải tỏa kịp thời ; Chinh phục một trái tim ,
tạo ra một thiên tình sử thì chẳng thể có được một người hay trang điểm màu lam …
1 - Tướng người ham mê nhục dục :
Tính dục thì ai cũng có, nhưng người quá trọng nhục dục thường ít ra cũng có một vài
nét tướng đặc biệt :
- Đàn bà trời phú sắc da mặt trắng hơi pha màu hồng lạt gọi là đào hoa sắc hoặc mặt
trắng mà có nhiều tàn nhang đều chủ về háo dâm
a ) Nhân trung có tía đỏ : Phía trên Nhân trung là mũi, phía dưới là miệng, mũi và
miệng có hình dạng tương tự như bộ phận sinh dục của nam và nữ giớ . Tướng học căn
cứ vào đó để phát hiện ra rằng phần lớn phụ nữ chìm đắm trong hoan lạc nhục dục đều
có một đường vạch ngang màu đó hoặc hồng ( tuỳ theo truy hoan nhiều hay ít ), nhỏ
như sợi tơ nhện, phải tinh mắt lắm mới thấy. Nếu như ta thấy dấu hiệu đó xuất hiện thì
có thể biết là người phụ nữ đó quả là đã có gì rồi .
b ) Mắt tam bạch : Bình thường nếu người đàn bà đó không có loại mắt này nhưng vì
đắm say nhục dục nên có thể sau một thời gian ngắn, khu vực xung quanh lòng đen bị
thu hẹp dần nhường lại chỗ cho lòng trắng khiến lòng đen đều bị lòng trắng bao bọc,
biến thành một loại tam bạch nhãn tạm thời. Còn như nếu bình thường vẫn là hạ tam
bạch nhãn, thì nếu có thông gian ta sẽ thấy Nhân trung có vạch hồng hoặc đỏ như trên
vừa nói.
c ) Khu vực Lệ đường : Bình thường không có màu sắc xanh đen nhưng nếu giao hoan
đầy lạc thú, tinh dịch tiết ra quá nhiều thì thường biến sang màu xanh đen.
d ) Khu vực Sơn căn và Ngư vĩ : Đột nhiên có màu xám đen ở hai bên hoặc rõ rệt hơn
lúc bình thường.
Tất cả các dấu hiệu về màu sắc ở bộ vị nói trên là các bằng chứng cụ thể của kẻ lặn
hụp trong tình dục. Những đàn ông chưa từng ân ái với tình nhân, những đấng phu
quân xa nhà một thời gian dài khi gặp mặt tình nhân hoặc vợ nhà chưa mây mưa mà đã
thấy có hầu hết các dấu hiệu dẫn thượng thì quả là đáng ngại, cần phải lưu tâm theo
dõi hành tung của người nữ đó hầu tránh những hậu quả tai hại có thể xảy ra.
2 - Tướng người trinh thục :
Trong nền luân lý á đông cổ điển, người ta đặc biệt quý trọng cá tính trinh tiết thuần
thục của phụ nữ, coi đó là một đức tính tối cần thiết của hôn nhân, là một hãnh diện
của người chồng. Muốn coi tướng đàn bà con gái để xem đức tính trên của họ cao thấp
tới mức độ nào, điểm tối trọng yếu là cặp mắt, vì mắt là cửa sổ tâm hồn. Cặp mắt đối
xứng qua sơn căn, mục quang ôn hoà thanh tĩnh, không liếc xéo là một bảo đảm đáng
kể. Tuy nhiên, như vậy vẫn chưa được đầy đủ. Những người đàn bà lấy chồng giữ vững
được ái tình thủy chung như nhất, ngoài cặp mắt kể trên thường có tướng kết hợp một
số đặc điểm sau :
Bóng trăng ngả lộn bóng tre
Chàng ơi, đứng lại mà nghe em thề.
Vườn đào, vườn lựu, vườn lê
Con ong vô hút nhụy, con bướm xê ra ngoài.
Chàng về nghĩ lại mà coi
Tâm tình em ở, gương nào soi cho bằng?
Chim sa, cá nhảy chớ nuôi
Những người lông bụng chớ chơi bạn cùng
Chữ tốt xem tay, người hay xem khoáy
Chưa nói mà đã thẹn thò
Phải chịu thiệt thòi trong việc làm ăn
Con lợn mắt trắng thì nuôi
Những người mắt trắng đánh rồi đuổi đi
Cua thâm càng nàng thâm môi
Cực chi da diết diết da
Áo em hai vạt trải ra anh nằm.
Da đỏ như gà chọi
Da như trứng gà lột
Dái tai như hột châu thòng
Có thành, có quách, dày, hồng sắc tươi
Thiệt người phú quý thảnh thơi
Phong lưu tao nhã trên đời chẳng sai 4
Đàn bà chân thẳng ống đồng
Khó con mà lại sát chồng, nguy nan
Đàn bà chưa nói đã cười
Lương duyên vất vả, cuộc đời truân chuyên
Đàn bà không biết nuôi heo là đàn bà nhác
Đàn ông không biết buộc lạt là đàn ông hư
Đàn bà lanh lãnh tiếng đồng
Một là sát chồng, hai là hại con
Giọng nói răm rắp tiếng dư
Trai thì can đảm, gái ư gan lỳ
Gò má mà chẳng cân phân
Cuộc đời cam chịu lắm phần lao đao
Hai môi không giữ kín răng
Là người yểu tướng, nói năng hỗn hào
Hàm rộng, miệng cọp: anh hùng
Hàm rắn, miệng chuột: bất trung vô nghì
Kẻ nào trống giữa bàn chưn
Hổng không đụng đất thì đừng chơi xa
Khao khao giọng thổ tiếng đồng,
Quăn quăn tóc trán là dòng khôn ngoan.
Lờ đờ như người say rượu
Mắt đỏ hoe, phải liệu mà chơi
Lỗ mũi mà hỉnh ngửa lên
Bạc tiền chồng chất một bên chẳng còn
Lỗ mũi mỏng, đầu cong, nhọn hoắc
Ắc lòng tham, hiểm độc gian phi
Tướng này đức đã suy vi
Nếu không tu thiện, hậu thì khó toan
Lưng dài vai mập ba gang,
Ăn nhai nửa miệng: Khô khan chai lười
Má bánh bầu xem lâu muốn chửi
Mặt chữ điền tiền rưỡi muốn mua
Má hồng, trán bóng có duyên
Lương tâm dẫu tốt, đừng hòng tuổi cao
Má miếng bầu coi lâu càng thắm
Mặt chữ điền xấu lắm ai ơi
Má miếng bầu coi lâu muốn chửi
Mặt chữ điền tiền rưỡi chẳng mua
Ngón tay bàn móng, kẽ thưa
Dù làm cho cố cũng chưa có giàu
Ngón tay thon thỏn búp măng
Tánh tình khoan nhã, thơ văn đủ mùi
Đây người dưng đó cũng người dưng,
Cớ chi nước mắt rưng rưng nhỏ hoài
Hai tay ôm vạt áo dài,
Chậm lên con mắt, chậm hoài không khô.
Người đen mà ốm lại cao
Tóc quăn, môi lớn, lao đao tháng ngày
Người hiền tại mạo trắng gạo tại cơm
Người khôn con mắt đen sì
Người dại con mắt nửa chì nửa than
Người mồ hôi nhờn lại khét
Đời phần nhiều lao lực về sau
Nhân hiền tại mạo
Có trắng gạo mới ngon cơm
Nhất lé nhì lùn tam hô tứ sún
Nhìn hoa thì dễ Nhìn rễ thì khó
Nhơn trung sâu tợ như đào
Thung dung trần thế, ai nào dám đương
Những cô chưa nói đã cười
Chưa đi đã chạy là người vô duyên
Những người béo trục béo tròn
Ăn vụng như chớp đánh con cả ngày
Những người chép miệng thở dài
Chỉ là sầu khổ bằng ai bao giờ
Những người con mắt lá răm
Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền
Những người mặt nạc, đóm dày
Răng thưa, da trắng: gái hay
Răng thưa, mặt sẫm: đổi thay chuyện tình
Râu rìa, lông ngực đôi bên
Chẳng phường phản bạn, cũng tên nịnh thần
Tai dài như Phật, quả thật sống lâu
Tai quặp về trước bủm tròn
Không cháu tể tướng cũng con anh tài
Tay chiêu, móc niêu chả rồi
Thông minh, học giỏi, anh tài
Ngón (tay) nhỏ mà dài tựa đọt hành non
Thực tốc hành trì: quý nhân chi tướng
Tiếng nói rít qua kẽ răng
Là người nham hiểm sánh bằng hổ lang
Tóc đen, thưa, rộng mà dài
Vuông tròn sắc mặt là trai anh hùng
Tóc mai dài xuống mang tai
Là người khó tánh ít ai vừa lòng
Tóc thưa, dài, mướt, trắng da
Ở hàng lầu các, dung hòa phu nhân
Tốt tóc nặng đầu, tốt râu nặng cằm
Trai mà có cặp răng nanh
Gan dạ , chịu đựng, khôn lanh đủ điều
Trai mà nói giọng đàn bà
Tánh tình nhu nhược, còn là long đong
Trai thâm môi gái lồi mắt
Trán cao có cái đầu vuông
Văn chương, khoa bảng có nhường ai đâu
Trán cao, mắt sáng phân minh
Là người học rộng, công danh tuyệt vời
Trán cao, miệng rộng, mũi dài
Chất men ấy, nếu được cất giữ kĩ, thì bền vững với thời gian:
Rượu ngon chắt để bàn thờ
Ba bốn năm không lạt (nhạt), sao giờ lạt đi?
và không phụ thuộc vào vật chứa:
Rượu ngon bất luận be sành,
Áo rách khéo vá hơn lành vụng may.
2. Rượu gắn với lễ
Nghi lễ mà ca dao thường nêu hơn cả là cưới hỏi. Rượu (cùng với cau trầu) là lễ vật bắt
buộc khi cưới hỏi. Thử đọc lời đối đáp sau của một đôi trai gái:
- Anh có thương em thì lo một buồng cau cho tốt, một hũ rượu cho đầy,
Đặt lên bàn thượng, hạ xuống bàn xây,
Chàng đứng đó, thiếp đứng đây,
Lẽ mô thầy với mẹ lại không kết nghĩa sum vầy cho con?
- Tay anh ôm hũ rượu, buồng cau,
Đi ngả đường sau, thầy mẹ chê khó, đi ngả cửa ngõ, chú bác chê nghèo,
Nhắm chừng duyên nợ cheo leo,
Sóng to, thuyền nặng không biết chống chèo có đặng (được) không.
Cô gái tưởng tượng nêu một viễn cảnh êm thấm, thuận chiều, trong lúc chàng trai tỏ ra
thực tế hơn trước trở lực, do cái nghèo tạo ra.
Giả như cô gái thơ ngây và có tình cảm trong sáng kia thuyết phục được bố mẹ mình
chấp thuận cuộc hôn nhân do cô chủ động, thì việc tiếp theo sẽ là:
Rượu lưu li chân quỳ tay rót,
Cha mẹ uống rồi dời gót theo anh.
Đôi vợ chồng mới, hoặc trai gái đã đính hôn, cũng dùng miệng trầu, chén rượu khi trao
lời hẹn ước thủy chung:
Ăn một miếng trầu, năm ba lời dặn,
Uống một chén rượu, năm bảy lời giao,
Anh chớ nghe ai sóng bổ ba đào,
Em đây quyết giữ niềm tiết hạnh, anh chớ lãng xao em buồn.
Và dưới đây là chén rượu mời bạn tương tri:
Thậm chí, có anh còn móc tiền vợ để uống:
Rượu chè, cờ bạc lu bù,
Hết tiền đã có mẹ cu bán hàng.
Sau cùng, lạc thú với rượu không riêng bậc văn nhân tài tử mà cả hạng “tửu nang phạn
đại" (đãy rượu túi cơm) và những người cùng uống, gọi là bạn rượu để thêm vui, theo
luật "trà tam, tửu tứ" (uống trà, uống rượu thì thường ba, bốn người cùng uống mới thú).
Có lúc không phải “tửu tứ" mà "tửu đảng", “tửu đồ" (những tên bợm nhậu):
Có chồng say như trong chay ngoài bội,
Ngó vô nhà như hội Tần Vương!
4. Rượu và người đẹp đều gây say
Hán Việt có từ “tửu sắc" nói lên mối quan hệ tuy hai mà một giữa rượu và gái, đứng đầu
trong thú ăn chơi (của người đàn ông), tiếng Việt thuần túy không có một từ như vậy.
Trong ca dao, lối nói phổ biến là so sánh điểm gây say giống nhau giữa rượu và người
phụ nữ:
Rượu ngon chưa uống đã say,
Lựu, lan chưa bẻ đã bay mùi nồng.
và:
Đèo bồng mang tiếng thị phi
Bầu không có rượu lấy gì mà say?
hoặc:
Rượu ngon cái cặn cũng ngon,
Thương em chẳng luận chồng con mấy đời.
hoặc nữa:
Rượu từ trong hũ rót ra,
Để lâu cũng nhạt nữa là duyên em.
Cả chuyện “say ngầm", “say ngấm" của rượu cũng được vận dụng để ví với nét hạnh
của nữ giới (trong việc chinh phục đàn ông):
Rượu say vì bởi men nồng,
Vợ mà biết ở, ắt chồng phải theo.
hay:
Những trình bày trên cho thấy, ca dao đã đề cập khá đầy đủ về rượu. Khi gắn với nghi
lễ, rượu tượng trưng cho việc chuẩn thuận, thề nguyền; khi gắn với lạc thú, rượu như
một vị chủ không thể thiếu; khi xét đến người đẹp, chỉ có rượu mới tương xứng để đối
sánh. Nhưng tác hại của rượu cũng không nhỏ nếu người uống không biết dừng lại ở
mức cần dừng.
Sắp xếp theo nội dung bàn về rượu của ca dao, ở một chừng mực nào đó, chúng ta cũng
nhận ra phong tục, quan niệm của người Việt về một thức uống có lịch sử lâu đời và
mang tính cách toàn cầu này.