Quảng Ninh chuyển đổi mô hình từ “tăng trưởng nóng sang tăng trưởng xanh”
Đặng Huy Hậu
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh
Quảng Ninh mảnh đất địa đầu Đông Bắc của Tổ quốc, mảnh đất giàu truyền thống Cách
mạng, có đường biên giới trên bộ và trên biển thông thương thuận lợi với Trung Quốc; bờ biển trải
dài 250 km tạo ra một ngư trường rộng lớn trên 6.000 km2 và một dải đất liền ven biển hơn 6.100
km2. Quảng Ninh có nhiều loại khoáng sản có giá trị công nghiệp, quan trọng nhất là than đá,
chiếm trên 90% trữ lượng cả nước; tiếp đến là đá vôi, đất sét làm nguyên liệu sản xuất xi măng;
các khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, pyrophylit, cát thủy tinh, đá granit, nước
khoáng, nước nóng thiên nhiên...
Quảng Ninh có danh thắng Yên Tử và có kỳ quan thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long. Thế
mạnh, tiềm năng tự nhiên và con người xã hội của Quảng Ninh đem đến những cơ hội để phát
triển kinh tế bền vững như dịch vụ du lịch, biên mậu, hậu cần cảng biển; đánh bắt, nuôi trồng chế
biến thủy hải sản, chăn nuôi gia súc, gia cầm; đóng tàu; khai thác tài nguyên khoáng sản; sản xuất
vật liệu xây dựng và đang phát triển một trung tâm nhiệt điện lớn nhất Việt Nam...
Trong những năm qua, trong bối cảnh khó khăn chung của thế giới và Việt Nam, tỉnh Quảng
Ninh đã đạt được những thành tựu quan trọng và phát triển khá toàn diện. Tốc độ tăng trưởng GDP
bình quân đạt 12,7%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực (khu vực công nghiệp
và dịch vụ chiếm gần 95%; nông nghiệp chiếm 5,6%). Năm 2011, Quảng Ninh đạt được mức tăng
trưởng trên 12%, gấp hơn 2 lần mức bình quân cả nước; GDP bình quân đầu người đạt trên 2.200
USD; thu ngân sách đạt hơn 29 nghìn tỷ đồng – mức cao nhất từ trước đến nay. Đó là những kết
quả quan trọng của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Quảng Ninh nỗ lực phấn
đấu đạt được.
Tuy nhiên, trong tiến trình CNH - HĐH, Quảng Ninh đang đối mặt với những thách thức
lớn, đó là giải quyết mâu thuẫn giữa tiềm năng vô hạn với nguồn lực có hạn; giữa phát triển công
nghiệp (khai khoáng, sản xuất vật liệu xây dựng, nhiệt điện, đóng tàu...), đô thị hóa nhanh với phát
triển dịch vụ thương mại, du lịch, đặc biệt là đối với kỳ quan vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long và
danh thắng Yên Tử, giữa cộng đồng dân cư đa dạng về dân tộc (22 dân tộc), tôn giáo; với vị trí
biên giới hiểm yếu nên Quảng Ninh luôn tiềm ẩn những yếu tố có thể gây mất ổn định chính trị và
là cơ hội để các thế lực thù địch, các tổ chức phản động triển khai âm mưu "diễn biến hòa bình".
Bên cạnh đó, Quảng Ninh cũng là địa bàn có nhiều tệ nạn xã hội, đặc biệt có các loại tội phạm
2015, Quảng Ninh cần tập trung vào một số nhiệm vụ:
Một là, triển khai lập quy hoạch có nhiều loại khoáng sản có giá trị công nghiệp, quan trọng
nhất là than đá, chiếm trên 90% trữ lượng cả nước; tiếp đến là đá vôi, đất sét làm nguyên liệu sản
xuất xi măng; các khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, pyrophylit, cát thủy tinh, đá
granit, nước khoáng, nước nóng thiên nhiên đồng bộ cấp tỉnh và cấp huyện, trên cơ sở kế thừa các
quy hoạch đã lập như: Quy hoạch BVMT thị xã Uông Bí đến năm 2010 và định hướng đến năm
2015; Quy hoạch BVMT vùng Hạ Long - Cẩm Phả - Yên Hưng tỉnh Quảng Ninh đến năm 2010 và
định hướng đến năm 2020; Quy hoạch BVMT tổng thể và một số vùng trọng điểm tỉnh Quảng
Ninh đến năm 2020.
Triển khai xây dựng quy hoạch BVMT tỉnh, quy hoạch BVMT vịnh Hạ Long, quy hoạch
BVMT cho 14 huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giai đoạn 2012-2015 tầm nhìn 2020 cho phù
họp với tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Để hiện thực hóa nội dung trên, ngày
29/3/2012, UBND tỉnh Quảng Ninh đã có văn bản số 1233/UBND-MT1 đồng ý chủ trương điều
chỉnh và lập quy hoạch BVMT. Theo đó, giao Sở TN&MT và các địa phương tiến hành lập quy
hoạch BVMT toàn tỉnh, Quy hoạch BVMT vịnh Hạ Long và Quy hoạch BVMT cho 14 huyện, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh, hoàn thành trong năm 2012.
Hai là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm
về BVMT; Xây dựng các tiêu chí, chuẩn mực về môi trường; Đẩy mạnh tuyên truyền và xây dựng
nếp sống văn hóa ở nông thôn; Phát động và duy trì thường xuyên phong trào thi đua BVMT; Phát
huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể, các cơ quan thông tin đại chúng trong tuyên
truyền về BVMT.
Ba là, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sạch thân thiện
với môi trường: Tập trung trọng tâm là cơ cấu lại ngành nghề, ưu tiên phát triển các ngành có công
nghệ cao, công nghệ thân thiện môi trường; Sử dụng tiết kiệm năng lượng và tài nguyên; Phục hồi
tài nguyên và hệ sinh thái; Đa dạng hóa việc ứng dụng các loại hình công nghệ sử dụng và BVMT
phù hợp với điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của địa phương...
Bốn là, khắc phục, giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Vị trí xây dựng các nhà máy nhiệt điện,
xi măng cần phải cách rất xa các trung tâm du lịch, đô thị khu thương mại (hiện nay việc xây dựng
các cơ sở nhiệt điện, xi măng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh là không phù hợp, gây hậu quả nghiêm
trọng về ô nhiễm môi trường khu vực). Trong thu hút đầu tư, cần lựa chọn các lĩnh vực công