MỤC LỤC
Trang
Phần 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Phần 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Phân môn hoá học trong trường trung học phổ thông giữ một vai trò quan
trọng trong việc hình thành và phát triển trí dục của học sinh. Mục đích của môn
học là giúp cho học sinh hiểu đúng đắn và hoàn chỉnh, nâng cao cho học sinh
những tri thức, hiểu biết về thế giới, con người thông qua các bài học, giờ thực
hành của hoá học. Học hoá là để hiểu, để giải thích được các vấn đề thực tiễn
thông qua cơ sở cấu tạo nguyên tử, phân tử, sự chuyển hoá của các chất bằng các
phương trình phản ứng hoá học Đồng thời là khởi nguồn, là cơ sở phát huy tính
sáng tạo ra những ứng dụng phục vụ trong đời sống của con người. Hoá học góp
phần giải tỏa, xoá bỏ hiểu biết sai lệch làm phương hại đến đời sống, tinh thần
của con người
Để đạt được mục đích của học hoá học trong trường phổ thông thì giáo
viên dạy hoá học là nhân tố tham gia quyết định chất lượng. Do vậy, ngoài
những hiểu biết về hoá học, người giáo viên dạy hoá học còn phải có phương
pháp truyền đạt thu hút gây hứng thú khi lĩnh hội kiến thức hoá học của học sinh.
Đó là vấn đề cần quan tâm và nghiên cứu nghiêm túc. Trong sáng kiến kinh
nghiệm (SKKN) này, tôi có đề cập đến một khía cạnh “Dạy học hóa học gắn
với thực tiễn nhằm tăng hứng thú học tập cho học sinh lớp 11 - THPT”
với mục đích xây dựng hệ thống các hiện tượng hóa học thực tiễn cho các bài
giảng trong chương trình hóa học lớp 11, nhằm giáo dục ý thức và tăng hứng thú
học tập bộ môn cho học sinh… Để hoá học không còn mang tính đặc thù khó
hiểu như một “thuật ngữ khoa học”.
1.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Xây dựng một hệ thống các hiện tượng hóa học thực tiễn có thể vận dụng
vào bài giảng trong chương trình hóa học THPT.
Vận dụng hệ thống các hiện tượng hóa học thực tiễn ở trên vào bài giảng
nhằm giáo dục ý thức và tăng hứng thú học tập bộ môn cho học sinh… Để hoá
2
lớn nên ảnh hưởng của lực hút mạnh hơn
nên tập trung chủ yếu ở dưới gần mặt đất.
2.1.2. Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh cách thiết lập sự liên hệ các
2
nội dung học với thực tiễn.
Học sinh sẽ thấy hứng thú và dễ ghi nhớ hơn nếu trong quá trình dạy và
học giáo viên luôn có định hướng liên hệ giữa kiến thức sách giáo khoa với thực
tiễn đời sống hằng ngày.
Ví dụ: Tại sao khi ta để muối ăn khan trong lọ không có nắp lại dễ chảy
nước?
Trả lời: Trong muối ăn ngoài thành phần chính là NaCl còn có lượng nhỏ
MgCl
2
. Chính MgCl
2
rất ưa nước nên hút ẩm làm cho muối ăn chảy nước.
2.1.3. Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh thông qua các tình huống
giả định bằng các hiện tượng thực tiễn.
Trong quá trình dạy học nếu giáo viên luôn sử dụng một kiểu dạy sẽ làm
cho học sinh nhàm chán. Giáo viên có thể áp dụng nhiều phương pháp lồng ghép
vào nhau, trong đó hình thức đưa ra các tình huống giả định để học sinh tranh
luận vừa phát huy tính chủ động sáng tạo cho học sinh, vừa tạo môi trường thoải
mái để các em trao đổi từ đó giúp học sinh thêm yêu thích môn học hơn.
2.2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
Trước tình hình học hoá học phải đổi mới phương pháp dạy học đã và đang
thực sự là yếu tố quyết định hiệu quả giờ dạy. Một trong những yếu tố để đạt giờ
dạy có hiệu quả và tiến bộ là phải phát huy tính thực tế, giáo dục về môi trường,
về tư tưởng vừa mang bản sắc dân tộc mà không mất đi tính cộng đồng trên toàn
thế giới, những vấn đề cũ nhưng không cũ mà vẫn có tính chất cập nhật và mới
đi hiệu quả ăn uống”.
2.3.1. Các giải pháp thực hiện:
“Dạy học hóa học gắn với thực tiễn nhằm tăng hứng thú học tập cho
học sinh lớp 11 - THPT” bằng cách:
2.3.1.1. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày, thường sau
khi đã kết thúc bài học. Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh căn cứ vào
những kiến thức đã học tìm cách giải thích hiện tượng ở nhà hay những lúc bắt
gặp hiện tượng đó, học sinh sẽ suy nghĩ, ấp ủ câu hỏi vì sao lại có hiện tượng đó?
Tạo tiền đề thuận lợi khi học bài học mới tiếp theo.
2.3.1.2. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường qua
các phương trình phản ứng hoá học cụ thể trong bài học. Cách nêu vấn đề này có
thể sẽ mang tính cập nhật, làm cho học sinh hiểu và thấy được ý nghĩa thực tiễn
bài học. Giáo viên có thể giải thích để giải toả tính tò mò của học sinh. Mặc dù
vấn đề được giải thích có tính chất rất phổ thông.
2.3.1.3. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thay
cho lời giới thiệu bài giảng mới. Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh bất
ngờ, có thể là một câu hỏi rất khôi hài hay một vấn đề rất bình thường mà hàng
ngày học sinh vẫn gặp nhưng lại tạo sự chú ý quan tâm của học sinh trong quá
trình học tập.
2.3.1.4. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thông
qua các bài tập tính toán. Cách nêu vấn đề này có thể giúp cho học sinh trong khi
làm bài tập lại lĩnh hội được vấn đề cần truyền đạt, giải thích.Vì muốn giải được
bài toán hoá đó học sinh phải hiểu được nội dung kiến thức cần huy động, hiểu
được bài toán yêu cầu gì? Và giải quyết như thế nào?
4
2.3.1.5. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thông
qua những câu chuyện ngắn có tính chất khôi hài, gây cười có thể xen vào bất cứ
thời gian nào trong suốt tiết học. Hướng này có thể góp phần tạo không khí học
tập thoải mái. Đó cũng là cách kích thích niềm đam mê học hoá.
2.3.1.6. Tiến hành tự làm thí nghiệm qua các hiện tượng thực tiễn xung
OH) có khả năng thẩm thấu rất cao,
có thể xuyên qua màng tế bào tiến sâu vào trong gây đông tụ protein làm cho tế
bào bị chết (do protein là cơ sở sự sống của tế bào).
Thực tế thấy rằng chỉ có cồn 75% là có khả năng sát trùng tốt nhất, vì nếu
cồn > 75% thì nồng độ cồn quá cao làm cho protein bị đông tụ nhiều, làm protein
trên bề mặt vi khuẩn đông cứng hình thành một lớp vỏ cứng ngăn không cho cồn
5
thấm vào nên vi khuẩn không bị chết. Nếu cồn quá loãng (< 75%) thì hiệu quả
sát trùng kém.
Áp dụng: Trong y tế, cồn được sử dụng đại trà khi tiêm, rửa vết thương …
nhưng có ít người quan tâm tại sao lại dùng cồn? Trong khi học, nếu học sinh
được biết sẽ rất tốt cho cuộc sống. Giáo viên có thể đưa vấn đề này vào trong các
tiết dạy về bài “Ancol” (Tiết 56-57 lớp 11-CB).
* Ví dụ 02: Vì sao dụng cụ phân tích rượu có thể phát hiện các lái xe đã
uống rượu?
Thành phần chính của các loại nước uống có cồn là rượu etylic. Đặc tính
của rượu etylic là dễ bị oxi hóa. Có rất nhiều chất oxi hóa có thể tác dụng với
rượu nhưng người chọn một chất oxi hóa là crom(VI)oxit CrO
3
. Đây là một chất
oxi hóa rất mạnh, là chất ở dạng kết tinh thành tinh thể màu vàng da cam. Bột
oxit CrO
3
khi gặp rượu etylic sẽ bị khử thành oxit Cr
2
O
3
là một hợp chất có màu
xanh đen.
Cảnh sát giao thông sử dụng các dụng cụ phân tích rượu etylic có chứa
2
), dễ bay hơi, thoát ra khỏi xi lanh, ống xả,
thải vào không khí làm ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Vì chì sẽ ở trong môi trường khí, tồn tại trong thực vật, động vật nên khi
tiếp xúc với khí thải, động thực vật bị bệnh sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến
sức khoẻ con người. Ngoài ra hơi Brom bay ra gây nguy hiểm tới đường hô hấp,
làm bỏng da. Hiện nay, nước ta đã không sử dụng xăng pha chì.
6
Áp dụng: Hiện nay nhà nước ta nghiêm cấm các doanh nghiệp kinh doanh
xăng dầu sử dụng xăng pha chì. Để hiểu được vì sao thì không ít người hiểu
được vấn đề này. Thông qua nội dung “Hệ thống hóa về hidrocacbon”( Tiết 55
lớp 11-CB) giáo viên có thể đặt câu hỏi này cho học sinh thảo luận rồi giải thích
cho học sinh biết được tác hại của việc pha chì vào xăng nhằm nâng cao ý thức
bảo vệ môi trường.
* Ví dụ 04: Vì sao khi mở bình nước ngọt có ga lại có nhiều bọt khí thoát ra ?
Nước ngọt không khác nước đường mấy chỉ có khác là có thêm khí
cacbonic CO
2
. Ở các nhà máy sản xuất nước ngọt, người ta dùng áp lực lớn để ép
CO
2
hòa tan vào nước. Sau đó nạp vào bình và đóng kín lại thì thu được nước
ngọt.
Khi bạn mở nắp bình, áp suất bên ngoài thấp nên CO
2
lập tức bay vào
không khí. Vì vậy các bọt khí thoát ra giống như lúc ta đun nước sôi.
Về mùa hè người ta thường thích uống nước ngọt ướp lạnh. Khi ta uống
nước ngọt vào dạ dày, dạ dày và ruột không hề hấp thụ khí CO
2
PH O P O H O
+ → +
Điều trùng lặp ngẫu nhiên là: Người ta thường gặp “Ma trơi” ở các nghĩa địa
càng tăng nên tính chất kịch tính.
Áp dụng: Vấn đề này phải được đề cập trong bài giảng về P để giải thích
hiện tượng trong đời sống “Ma trơi”. Tránh tình trạng mê tín dị đoan, làm cho
cuộc sống lành mạnh. Hiện tượng này giáo viên có thể đề cập trong bài
“Phốtpho” (tiết 17 lớp 11-CB).
7
* Ví dụ 06: Hoá chất trong cơ thể của con người như thế nào?
Các nhà khoa học đã tính được rằng:
• Lượng nước trong cơ thể của mỗi người chúng ta chỉ đủ giặt một chiếc
áo sơ mi.
• Lượng Fe đủ để làm một cái đinh 5 phân.
• Lượng đường chỉ đủ cho làm một nữa cái bánh ngọt nhỏ.
• Lượng vôi trong toàn bộ xương của cơ thể đủ để xây một cái chuồng gà
con.
• Lượng mỡ dùng nấu được 7 bánh xà phòng.
• Lượng P đủ để sản xuất 2200 đầu que diêm.
• Lượng S đủ để giết chết 1 con bọ chét.
• Cộng cả lại kể các các nguyên tố khác như Mg, Cu, K… Theo các nhà
bác học tính ra thì với một người nặng 65kg, giá trị của chúng chỉ đáng
giá chưa tới 3$.
Áp dụng: Đây là tình huống có chút khôi hài nhưng có thể giúp học sinh
nắm được cơ bản thành phần nguyên tố trong cơ thể con người có thể đưa vào
bài giảng về thành phần nguyên tố nhằm làm rõ thêm về quan điểm duy vật (lớp
10-11-12).
* Ví dụ 07: Dấm ăn là gì? Tác dụng của nó?
Trong dấm ăn có vị chua vì có 3-5% là Axit axetic (CH
3
4
… và không có O
2
. Mà người dân chúng ta hay có thói quen xuống
giếng thau giếng hoặc vì lấy gầu múc nước… Đã có nhiều trường hợp bị tử vong
một lúc nhiều mạng người vì gặp phải giếng có khí độc (CO) gây đông máu,
CH
4
…và không có O
2
gây ngạt trong tíc tắc, làm người xuống cứu cũng chết. Để
tránh, tốt nhất không nên xuống các giếng đào, nếu có xuống phải đeo bình oxi.
Còn muốn biết có khí độc(CO), hoặc nhiều khí thiên nhiên(CH
4
…) và không có
O
2
chỉ cần lấy dây buộc một con gà, vịt … thả xuống nếu nó chết thì chứng tỏ có
khí độc.
Áp dụng: Đây là một hiện tượng hay xảy ra, giáo viên nên đưa vào bài
giảng để nhắc nhở học sinh, cộng đồng …tránh những cái chết thương tâm. Vấn
đề này có thể xen vào bài dạy “Hợp chất của cacbon” (tiết 24-lớp 11-CB) hay
“Ankan” (tiết 37-38 lớp 11-CB).
* Ví dụ 11: Gương soi có lịch sử như thế nào?
Thời xa khi muốn soi mình phải soi qua mặt nước, khi đến thời đồ đồng
thau thì bằng gương làm bằng đồng nhưng nhanh ố, sau dần chuyển sang thuỷ
ngân tráng sau tấm kính phẳng, nhưng thuỷ ngân gây ngộ độc cho người sản
9
xuất. Dần dần và ngày nay người ta đã thay thế bằng bạc tráng sau tấm kính nhờ
phản ứng anđehit (R−CHO) với dung dịch AgNO
* Ví dụ 13: Thuốc chuột là chất gì? Nếu sau khi ăn thuốc mà không có nước
uống thì chuột chết mau hơn hay lâu hơn?
Thuốc chuột có thành phần chính là Zn
3
P
2
. Sau khi ăn, Zn
3
P
2
bị thủy phân
rất mạnh, tạo thành khí PH
3
(photphin) rất độc:
3 2 2 2 3
6 3 ( ) 2Zn P H O Zn OH PH
+ → + ↑
Làm cho hàm lượng nước trong cơ thể chuột giảm; nó khát và đi tìm nước.
Chính PH
3
đã giết chết chuột.
Càng nhiều nước đưa vào cơ thể chuột → PH
3
thoát ra càng nhiều →
chuột càng nhanh chết. Nếu không có nước, chuột sẽ lâu chết hơn.
Áp dụng: Giáo viên có thể vận dụng ứng dụng này trong bài Photpho (tiết
17 lớp 11-CB).
10
* Ví dụ 14: Vì sao bôi vôi vào chỗ ong, kiến đốt sẽ đỡ đau?
Do trong nọc ong, kiến, nhện có axit hữu cơ tên là axit fomic (HCOOH).
3
dùng để chế thuốc
đau dạ dày vì nó làm giảm hàm lượng dung dịch HCl có trong dạ dày nhờ phản
ứng:
3 2 2
NaHCO HCl NaCl CO H O+ → + +
Áp dụng: Giáo viên có thể vận dụng kiến thức này vào bài “Hợp chất của
cacbon” (tiết 24 lớp 11-CB).
* Ví dụ 17: Vì sao trong công nghiệp thực phẩm, muối NH
4
HCO
3
được dùng
làm bột nở?
NH
4
HCO
3
được dùng làm bột nở vì khi trộn thêm vào bột mì, lúc nướng
bánh thì NH
4
HCO
3
sẽ bị phân hủy thành các chất khí và hơi nên làm cho bánh
xốp và nở hơn.
OHCONHHCONH
22334
++→
Áp dụng: Giáo viên có thể áp dụng vấn đề này vào bài “Muối amoni” (tiết
thường ngửi thấy mùi khai?
Khi nước sông, hồ bị ô nhiễm nặng bởi các chất hữu cơ giàu chất đạm,
như: nước tiểu, phân hữu cơ, rác thải hữu cơ,… lượng Ure trong các chất hữu cơ
sinh ra nhiều. Dưới tác dụng của men ureaza của các vi sinh vật, ure bị phân hủy
thành CO
2
và NH
3
.
2 2 2 2 3
( ) 2 2NH CO H O CO NH+ → +
Lượng NH
3
sinh ra hoà tan trong nước dưới dạng một cân bằng động:
)7(
423
<+⇔+
−+
pHOHNHOHNH
Như vậy, khi trời nắng (nhiệt độ tăng), cân bằng trên sẽ dịch chuyển theo
chiều nghịch, tức là NH
3
sinh ra do phản ứng phân hủy ure không bị hoà tan
trong nước mà bị tách ra, bay vào không khí làm cho không khí xung quanh
sông, hồ có mùi khai khó chịu.
Áp dụng: Giáo viên có thể đưa vấn đề này vào bài “Amoniac” (tiết 12 lớp
11-CB).
* Ví dụ 20: “Hiện tượng mưa axit” là gì ? Tác hại như thế nào ?
Khí thải công nghiệp và khí thải của các động cơ đốt trong ( ô tô, xe máy)
có chứa các khí SO
2
+ O
2
+ 2H
2
O → 4HNO
3
Axit H
2
SO
4
và HNO
3
tan vào nước mưa tạo ra mưa axit. Vai trò chính của
mưa axit là H
2
SO
4
còn HNO
3
đóng vai trò thứ hai.
Hiện nay mưa axit là nguồn ô nhiễm chính ở một số nơi trên thế giới.
Mưa axit làm mùa màng thất thu và phá hủy các công trình xây dựng, các
tượng đài làm từ đá cẩm thạch, đá vôi, đá phiến ( các loại đá này thành phần
chính là CaCO
3
):
CaCO
3
+ H
*Ví dụ 21: Giải thích hiện tượng: “Khi các cầu thủ đá banh bị đau nằm lăn
lộn trên đất thì nhân viên y tế chỉ cần dùng bình thuốc phun vào chỗ bị
thương, sau đó cầu thủ bị thương đứng lên tiếp tục thi đấu”
Khi cầu thủ bị thương, chỗ bị thương sẽ rất đau đớn. Người cán bộ y tế
dùng phương pháp làm lạnh cục bộ bằng cách phun chất làm lạnh tức thời trên
chỗ bị thương. Chất làm lạnh ở đây là etyl clorua C
2
H
5
Cl hay gọi là cloetan.
C
2
H
5
Cl là hợp chất hữu cơ có t
o
s
là 12,3
o
C. Ở nhiệt độ thường khi tăng áp
suất sẽ biến thành chất lỏng. Khi phun C
2
H
5
Cl lên chỗ bị thương, các giọt etyl
clorua tiếp xúc với da, nhiệt độ cơ thể sẽ làm etyl clorua sôi lên và bốc hơi rất
nhanh. Quá trình này thu nhiệt mạnh làm cho da bị lạnh đông cục bộ và tê cứng.
Vì vậy thần kinh cảm giác không truyền được đau lên đại não. Nhờ đó cầu thủ
không có cảm giác đau. Do sự đông cục bộ nên vết thương không bị chảy máu.
13
axit nitric trong bài “Axit nitric”( Tiết 14-15 lớp 11CB) để nhắc nhở học sinh
thật cẩn thận khi tiếp xúc với axit HNO
3
đặc.
*Ví dụ 23: Tại sao không dùng bình thủy tinh đựng dung dịch HF ?
Tuy dung dịch axit HF là một axit yếu nhưng nó có khả năng đặc biệt là ăn
mòn thủy tinh. Do thành phần chủ yếu của thủy tinh là silic đioxit SiO
2
nên khi
cho dung dịch HF và thì có phản ứng xảy ra:
SiO
2
+ 4HF → SiF
4
↑ + 2H
2
O
Áp dụng: Đây là phần kiến thức mà bất kì học sinh nào cũng phải biết được
sau khi học bài Flo và hợp chất của nó. Học sinh biết giải thích và vận dụng
trong thực tiễn tránh việc dùng bình thủy tinh đựng dung dịch HF. Giáo viên có
thể hỏi học sinh sau khi dạy xong bài “Hợp chất silic”(Tiết 25 lớp 11- CB).
14
*Ví dụ 24: Làm thế nào có thể khắc được thủy tinh ?
Muốn khắc thủy tinh người ta nhúng thủy tinh vào sáp nóng chảy, nhấc ra
cho nguội, dùng vật nhọn khắc hình ảnh cần khắc nhờ lớp sáp mất đi, rồi nhỏ
dung dịch HF vào thì thủy tinh sẽ bị ăn mòn ở những chổ lớp sáp bị cào đi
SiO
2
+ 4HF → SiF
4
+ 4HF → SiF
4
↑ + 2H
2
O
Áp dụng: Đây là một vấn đề rất thực tế khi mà nghề khắc thủy tinh đang
phát triển ở nước ta. Sau bài học học sinh không những biết được phương pháp
khắc thủy tinh mà còn có thể giải thích được vấn đề này. Thậm chí đây là cơ sở
cho việc học nghề, khơi gợi niềm đam mê học tập, học sinh có thể tự làm thí
nghiệm này trong tiết thực hành. Giáo viên có thể nêu vấn đề trên để dẫn dắt vào
bài giảng “Hợp chất silic”(Tiết 25 lớp 11 CB).
*Ví dụ 25: Vì sao khi cơm bị khê người ta thường cho vào nồi cơm một mẩu
than củi ?
Do than củi xốp có tính hấp phụ nên hấp phụ mùi khét của cơm làm cho
cơm đở mùi khê.
Áp dụng: Đây là mẹo vặt thường được dùng khi không may cơm bị khê.
Giáo viên có thể nêu hiện tượng trên khi dạy phần tính chất vật lí hoặc trong
phần nêu ứng dụng của cacbon trong bài “Cacbon”( tiết 23 lớp 11-CB).
*Ví dụ 26: Tại sao không thể dập tắt đám cháy của các kim loại mạnh: K,
Na, Mg,… bằng khí CO
2
Do các kim loại trên có tính khử mạnh nên vẫn cháy được trong khí quyển
CO
2
. Thí dụ :
15
2Mg + CO
2
→ 2MgO + C
Cacbon sinh ra lại tiếp tục cháy:
vấn đề này vào trong bài giảng “Tecpen” ( Tiết 57 lớp 11NC) để giới thiệu cho
học sinh biết thêm về nguồn tecpen thiên nhiên nhằm kích thích tính tò mò ham
hiểu biết của học sinh.
*Ví dụ 28: Ca dao Việt Nam có câu:
“Lúa chim lấp ló ngoài bờ
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”
Câu ca dao có nghĩa là: Khi vụ lúa chiêm đang trổ đồng mà có trận mưa rào
kèm theo sấm chớp thì rất tốt và cho năng suất cao. Vì sao vậy ?
Do trong không khí có khoảng 80% Nitơ và 20 % oxi. Khi có sấm chớp( tia
lửa điện) thì:
16
2N
2
+ O
2
→ 2NO Sau đó: 2NO + O
2
→ 2NO
2
Khí NO2 hòa tan trong nước: 4NO
2
+ O
2
+ H
2
O → 4HNO
3
HNO
3
→ H
o
C.
Về mặt hấp thụ bức xạ, lớp CO
2
ở trong khí quyển tương đương với lớp
thủy tinh của các nhà kính dùng để trồng cây, trồng hoa ở xứ lạnh. Do đó hiện
tượng làm cho Trái Đất ấm lên bởi khí CO
2
được gọi là hiệu ứng nhà kính.
Áp dụng: Ngày nay hiện tượng “Hiệu ứng nhà kính” trở thành một vấn đề
có ảnh hưởng mang tính toàn cầu. Mục đích vấn đề giúp học sinh biết được
nguyên nhân và tác hại của hiệu ứng nhà kính nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi
trường. Giáo viên có thể đặt vấn đề này khi dạy phần Cacbon đioxit (Tiết 24 lớp
11-CB).
*Ví dụ 30: Formaldehyde được sử dụng trong việc bảo quản thực vật như
thế nào? Tác hại của nó đối với sức khỏe con người.
17
Formaldehyde bị thế giới và VN nghiêm cấm trong bảo quản thực vật. Tổ
chức Y tế Thế giới (WHO) đã đưa formaldehyde vào loại hóa chất độc hại đối
với sức khỏe người. Ở liều lượng cao, nó có thể gây đột tử. Với hàm lượng thấp,
formaldehyde tích tụ trong cơ thể sẽ gây tác hại cho da và hệ thống hô hấp, gây
bệnh về bạch cầu, ung thư phổi.
Mới đây, các phóng viên Trung Quốc đã phản ánh việc nhiều thương lái
Trung Quốc thường xuyên phun dung dịch formaldehyde vào rau quả nhằm giữ
cho rau tươi trên hành trình đổ buôn đến các chợ xa. Hành động này được tiến
hành ít nhất trong ba năm lại đây.
Sản phẩm được phát hiện phun nhiều formaldehyde là cải thảo - loại sản phẩm
được nhập khẩu và tiêu thụ khá nhiều tại thị trường Việt Nam.
Áp dụng: Vấn đề này có thể nêu trong bài “Andehit-Xeton” (tiết 65-66
lớp 11-THPT).
Ví dụ gần đây nhất qua năm học từ 2011-2012 giảng dạy ở trường tôi đã
có số liệu cụ thể theo bảng sau:
Lớp Mức độ
Kết quả
Giỏi Khá
Trung
bình
Yếu – Kém
11A2
Thường xuyên áp
dụng
04
(13,33%)
15
(50%)
10
(33,33%)
01
(3,34%)
11A3 Có áp dụng
01
(3,34%)
05
(16,67%)
22
(73,33%)
02
(6,66%)
11A4 Ít áp dụng
00
viên được học tập và vận dụng. Có như thế tay nghề và vốn kiến thức của giáo
viên sẽ dần được nâng lên.
Với thực trạng học hoá học và yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, có
thể coi đây là một quan điểm của tôi đóng góp ý kiến vào việc nâng cao chất
lượng học hoá học trong thời kỳ mới. Mặc dù đã cố gắng song không thể tránh
được các thiếu sót, rất mong được sự đóng góp ý kiến của các cấp lãnh đạo, của
các bạn đồng nghiệp để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành
cảm ơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa hoá học lớp 10-11-12.
2. Phân phối chương trình môn hoá học phổ thông (Tài liệu chỉ đạo
chuyên môn, thực hiện từ năm học 2011-2012).
3. Sách giáo viên hoá học lớp 10-11- 12. (NXB GD)
4. Tài liệu giáo khoa chuyên hoá học 11-12 (Tập 1,2 NXB GD)
5. Con người và những phát minh (Bách khoa thư chuyên đề – NXB GD
1998)
6. Báo hóa học và ứng dụng.
7. Từ điển hoá học phổ thông.
Bá Thước, ngày 15 tháng 4 năm 2012
Người viết đề tài
Lê Anh Dũng
21