Bài 1: Giới thiệu về thống kê họcv1.0 1
0 Nội dung Mục tiêu
Thống kê học là gì và đối tượng nghiên
cứu của thống kê học.
Một số khái niệm thường dùng trong
thống kê.
Các loại thang đo thống kê.
Giúp học viên hiểu được thống kê học là gì
và vai trò của thống kê trong đời sống xã hội.
Làm rõ đối tượng nghiên cứu của thống kê học.
Hiểu một số khái niệm và các loại thang đo
được dùng nhiều trong thống kê.
Thời lượng học
Hướng dẫn học
4 tiết
Đọc tài liệu và thảo luận với giảng viên và
các học viên khác về các vấn đề chưa nắm rõ.
Lấy ví dụ nhằm làm rõ các khái niệm.
v1.0 3
1.1. Một số vấn đề chung về thống kê học
1.1.1. Thống kê học và vai trò của thông tin thống kê trong đời sống xã hội
Thống kê đã ra đời từ rất lâu và phát triển theo yêu cầu
của xã hội.
Ngày nay, thống kê len lỏi trong mọi hoạt động, mọi
lĩnh vực của đời sống và thông tin thống kê trở thành
một trong những nguồn lực vô giá để đánh giá bản
chất và xu hướng phát triển của hiện tượng.
Thông tin thống kê cũng gợi mở cho người sử dụng
các biện pháp nhằm thúc đẩy quá trình sản xuất tốt hơn hay dự kiến khả năng đạt được
trong thời gian tới. Chính vì vậy, Lê-nin đã cho rằng: Thống kê là một công cụ mạnh
mẽ nhất để nhận thức xã hội.
Tuỳ theo mục đích khác nhau mà thống kê học phục vụ theo những khía cạnh
khác nhau.
Các con số thống kê có thể được sử dụng nhiều lần với nhiều mục tiêu khác nhau.
Chính vì tính chất khách quan, dễ gây ảnh hưởng và lan rộng của nó mà thống kê là
một trong những công cụ quan trọng, có vai trò cung cấp các thông tin phục vụ quản
lý ở cả tầm vi mô và vĩ mô.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội loài người, sự tiến bộ của khoa học – kỹ
thuật, khoa học thống kê càng hoàn thiện hơn về lý luận và phương pháp, thông tin.
Thống kê đa dạng, phong phú được sử dụng rộng rãi và ngày càng đáp ứng được yêu
cầu của người sử dụng.
“Thống kê kinh tế – xã hội là một trong những công cụ mạnh mẽ nhất để nhận thức
xã hội” – V.I. Lê-nin, toàn tập, tập 19, trang 432, bản tiếng Việt, NXB Tiến bộ,
Motskva, 1980.
1.1.1.1. Định nghĩa thống kê học
Không thể phủ nhận được vai trò quan trọng của thông tin thống kê, vậy thống kê học
là gì? Các nhà thống kê học nổi tiếng trên thế giới đều thống nhất đưa ra định nghĩa
sau về thống kê học:
Trong 20% tăng doanh thu này, người ta muốn biết phần biến động của giá làm doanh
thu tăng bao nhiêu và phần biến động của lượng làm doanh thu tăng bao nhiêu? Mặt
khác, việc tăng doanh thu này có thực sự là tốt hay không? Thống kê sẽ trả lời được
những câu hỏi đó trên cơ sở phân tích số liệu thực tế.
1.1.1.2. Phạm vi nghiên cứu của thống kê học
Các hiện tượng và quá trình kinh tế – xã hội mà thống kê thường nghiên cứu, đó là:
Các hiện tượng về quá trình tái sản xuất mở rộng như: cung cấp nguyên liệu, quy
trình công nghệ, chế biến sản phẩm
Các hiện tượng về phân phối, trao đổi, tiêu dùng sản phẩm như: giá cả, lượng hàng
tiêu thụ, xuất nhập khẩu hàng hoá, nguyên liệu
Các hiện tượng về dân số, lao động như: tỷ lệ sinh, tỷ lệ tử, sự phân bố dân cư, lao động
Các hiện tượng về văn hoá, y tế, giáo dục như số trường lớp, số bệnh viện, giường
bệnh, số người mắc bệnh, số thư viện
Các hiện tượng về đời sống chính trị, xã hội, bầu cử, luật pháp
Ngoài ra, thống kê còn nghiên cứu ảnh hưởng của các hiện tượng tự nhiên đến sự
phát triển của các hiện tượng kinh tế xã hội, như ảnh hưởng của khí hậu, thời tiết,
ảnh hưởng của các biện pháp khoa học kỹ thuật tới quá trình sản xuất, kết quả sản
xuất và đời sống nhân dân
1.1.2. Đối tượng nghiên cứu của thống kê học
Đối tượng nghiên cứu của thống kê học là mặt lượng trong mối liên hệ mật thiết với
mặt chất của các hiện tượng số lớn trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể.
Từ khái niệm trên, có một số vấn đề cần làm rõ như sau:
Thứ nhất, thế nào là mặt lượng trong mối liên hệ với mặt chất?
Theo quy luật số lớn, khi nghiên cứu một số đủ lớn các
hiện tượng cá biệt thì các nhân tố ngẫu nhiên sẽ bị triệt
tiêu làm bộc lộ nhân tố cơ bản, bản chất của hiện tượng.
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của thống kê học là các
hiện tượng kinh tế – xã hội số lớn, trong đó bao gồm
nhiều đơn vị hoặc hiện tượng cá bi
ệt tạo thành. Thông
qua nghiên cứu một số đủ lớn các đơn vị cá biệt này,
chúng ta sẽ rút ra được kết luận về bản chất, tính quy
luật của sự vật, hiện tượng. Kết luận này có thể sẽ
không đúng với từng hiện tượng cá biệt, nhưng nó
phản ánh đúng với hiện tượng số lớn.
Ví dụ: Theo kết quả của Tổng điều tra dân số và nhà ở lúc 0 giờ ngày 1/4/2009, trong
tổng thể dân số nước ta hiện nay, tỷ lệ nam/nữ là 98,1/100. Tỷ lệ này có thể không
đúng đối với từng gia đình nhưng đúng với số đông các gia đình ở Việt Nam hiện nay.
Nhưng con số nào là đủ lớn thì còn tuỳ vào đặc điểm của hiện tượng.
Ví dụ: Tập hợp 100 trên 120 nhân viên của công ty X có tham gia mua bán trên thị
trường chứng khoán là một số đủ lớn, nhưng tập hợp 100 người trong tổng dân số
Việt Nam thì không được coi là đủ lớn.
Thống kê chỉ nghiên cứu các hiện tượng số lớn? Câu trả lời là không. Thống kê
chủ yếu nghiên cứu hiện tượng số lớn và có kết hợp nghiên cứu cả đơn vị, hiện
tượng cá biệt, thường là nhữ
ng hiện tượng có tính chất điển hình tiên tiến hoặc
điển hình lạc hậu.
Ví dụ: Trong một nhà máy A, tổ sản xuất B liên tục có năng suất lao động cao
nhất nhà máy trong nhiều năm liền; khi đó, nghiên cứu riêng tổ sản xuất B để rút
ra kết luận, tại sao tổ này có năng suất lao động cao, do tuổi nghề, do bậc thợ, do
trình độ khéo léo, tăng ca từ đó rút ra bài học kinh nghiệm trong quản lý nhằm
nâng cao NSLĐ toàn nhà máy.
biệt cần được quan sát, phân tích mặt lượng của chúng.
Từng đơn vị, hiện tượng cá biệt như vậy được gọi là
đơn vị tổng thể.
Ví dụ 1: Tổng thể các công ty có cổ phiếu niêm yết
trên sàn giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh.
Đơn vị tổng thể: từng công ty có cổ phiếu niêm yết
trên sàn giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh.
Ví dụ 2: Tổng thể các cổ đông của công ty A.
Đơn vị tổng thể: Mỗi cổ đông của công ty A.
Ví dụ 3: Tổng thể những doanh nghiệp có hoạt động làm ăn phi pháp.
Đơn vị tổng thể: Từng doanh nghiệp có hoạt động làm ăn phi pháp.
Ví dụ 4: Tổng thể những người thích xem phim truyền hình.
Đơn vị tổng thể: mỗi người thích xem phim truyền hình.
1.2.1.2. Phân loại tổng thể thống kê
Có nhiều cách để phân loại tổng thể thống kê, cụ thể:
Căn cứ vào sự nhận biết các đơn vị trong tổng thể
o Tổng thể bộc lộ: Tổng thể có ranh giới rõ ràng, có thể nhận biết được tất cả các
đơn vị bằng trực quan.
Ví dụ 1, ví dụ 2 ở trên là những tổng thể bộc lộ.
o Tổng thể tiềm ẩn: Tổng thể có ranh giới không rõ ràng, không nhận biết hết
được tất cả các đơn vị trong tổng thể.
Ví dụ 3, ví dụ 4 ở trên là những tổng thể tiềm ẩn.
Trong thực tế, tổng thể tiềm ẩn rất đa dạng, vì vậy cần xác định tổng thể nghiên
cứu là tổng thể bộc lộ hay tiềm ẩn để tìm cách xác định đố
i tượng cho phù hợp.
Căn cứ vào mục đích nghiên cứu
o Tổng thể đồng chất: Bao gồm những đơn vị giống nhau về một số đặc điểm
chủ yếu có liên quan tới mục đích nghiên cứu.
Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu
o Tổng thể chung: Bao gồm tất cả các đơn vị thuộc đối tượng nghiên cứu.
o Tổng thể bộ phận: Bao gồm một phần của tổng thể chung.
Ví dụ: Với mục đích nghiên cứu là hoạt động của các công ty có cổ phiếu niêm
yết trên sàn giao dịch chứng khoán ở Việt Nam thì tổng thể (3) ở trên là tổng thể
chung, còn tổng thể (2), (4) và (5) là các tổng thể bộ phận.
Trên thực tế, phải xác định được những đơn vị nào thuộc tổng thể nghiên cứu. Tuỳ
thuộc vào mục đích nghiên cứu cụ thể mà đưa ra những khái niệm, định ngh
ĩa, tiêu
chuẩn, đặc điểm để xác định đơn vị đó có thuộc tổng thể của chúng ta không.
1.2.2. Tiêu thức thống kê
1.2.2.1. Khái niệm
Tiêu thức thống kê là đặc điểm của đơn vị tổng
thể được chọn ra để nghiên cứu tùy theo mục đích
nghiên cứu khác nhau.
Như vậy, tiêu thức thống kê không phải là tất cả
những đặc điểm của đơn vị tổng thể mà chỉ là
những đặc điểm được chọn ra để nghiên cứu.
Ví dụ: Trong tổng thể các cổ đông của công ty A,
mỗi cổ đông là một đơn vị tổng thể. Các cổ đông
này, được xác định theo các đặc điểm khác nhau như: họ tên, tuổi, giới tính, nghề
nghiệp, số cổ phiếu nắm giữ, tỷ lệ nắm giữ Mỗi đặc điểm này khi được chọn ra để
nghiên cứu là một tiêu thức thống kê.
Bài 1: Giới thiệu về thống kê học
8 v1.0
1.2.2.2. Phân loại tiêu thức thống kê
Tiêu thức thống kê được phân làm 3 loại.
kiện thời gian và địa điểm cụ thể.
Ví dụ: Doanh thu của doanh nghiệp A năm 2008 đạt
500 tỷ đồng.
Với định nghĩa trên ta thấy, mỗi một chỉ tiêu thống kê
bao giờ cũng có tính hai mặt:
Khái niệm của chỉ tiêu: Phản ánh nội dung kinh tế xã hội của chỉ tiêu đó, gồm
các định nghĩa và giới hạn về thực thể, thời gian, không gian. Khái niệm của chỉ
tiêu thường mang tính chất tổng hợp.
Trị số của chỉ tiêu: Phản ánh mặt lượng của hiện tượng nghiên cứu trong điều
kiện thời gian và địa điểm cụ thể.
Lưu ý
Đơn vị tính, chia ra thành 3 loại:
Hiện vật: Hiện vật đơn: chiếc, cái, con, mét…; hiện vật kép: m/s, kwh
Giá trị: VNĐ, USD, EUR
Thời gian: Ca, ca máy, giờ, một ngày đêm…
Trong quan hệ so sánh, phải thống nhất về nội dung, phương pháp và phạm vi tính toán.
Bài 1: Giới thiệu về thống kê họcv1.0 9
1.2.3.2. Phân loại chỉ tiêu thống kê
Có nhiều cách thức phân loại chỉ tiêu thống kê khác nhau.
Theo hình thức biểu hiện, chỉ tiêu thống kê được chia thành:
o Chỉ tiêu hiện vật: Biểu hiện bằng đơn vị tự nhiên hoặc đơn vị đo lường quy ước.
Ví dụ: Dân số (đơn vị người), diện tích (đơn vị km
85.789.573 người.
o Chỉ tiêu chất lượng: biểu hiện trình độ phổ biến và mối quan hệ so sánh trong
tổng thể. Chỉ tiêu này được tính từ ít nhất 2 chỉ tiêu số lượng. Chỉ tiêu chất lượng
có thể là số tương đối, số bình quân chứ không biểu hiện bằng số tuyệt đối.
Ví dụ: Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp A năm 2008 là 120%.
Ví dụ tổng kết:
Nữ
Nam
Giới tính
Dân số
Tỷ lệ dân số nam ở nước ta tại thời điểm
0h ngày 1/4/2009 là:
Tỷ lệ dân số nữ ở nước ta tại thời điểm
0h ngày 1/4/2009 là:
Tổng thể Tiêu thức Biểu hiệnChỉ tiêu
Bài 1: Giới thiệu về thống kê học
10 v1.0
1.2.3.3. Hệ thống chỉ tiêu thống kê
Khái niệm: Hệ thống chỉ tiêu thống kê là một tập
hợp nhiều chỉ tiêu nhằm phản ánh những đặc điểm,
tính chất quan trọng nhất, những mối liên hệ chủ
yếu nhất của hiện tượng được nghiên cứu.
cùng một tiêu thức.
Ví dụ: Với tiêu thức giới tính, người ta gán cho nam giá trị bằng 1, nữ giá trị bằng 0.
Điều kiện vận dụng: Với những tiêu thức mà biểu hiện của nó có vai trò như nhau
và cùng loại, thường được sử dụng cho các tiêu thức thuộc tính.
Ví dụ: Tiêu thức giới tính, nghề nghiệp, thành phần kinh tế
Đặc điểm: Các con số trên thang đo không biểu thị quan hệ hơn kém, cao thấp
nhưng khi chuyển từ số này sang số khác thì dấu hiệu đo đã có sự thay đổi về chất.
Không áp dụng các phép tính khi sử dụng loại thang đo này mà chỉ đếm được tần
số xuất hiện của từng biểu hiện.
Hạn chế của việc áp dụng loại thang đo này là giữa các phạm trù không thể so sánh
được với nhau, do
đó người ta đã sử dụng một loại thang đo khác nhằm khắc phục
nhược điểm này.
Bài 1: Giới thiệu về thống kê họcv1.0 11
1.3.2. Thang đo thứ bậc
Định nghĩa: Thang đo thứ bậc là thang đo định
danh nhưng giữa các biểu hiện của tiêu thức có
quan hệ hơn kém, cao thấp.
Ví dụ: Bậc thợ (7 bậc), chất lượng sản phẩm, xếp
hạng huân huy chương
Điều kiện vận dụng: Với những tiêu thức mà các
biểu hiện của nó có quan hệ hơn kém, có thể sử
Đặc điểm: Có thể sử dụng các phép tính cộng, trừ và có thể tính được các đặc
trưng của dãy số như số bình quân, phương sai nhưng không tính được tỷ lệ giữa
các trị số đo.
Ví dụ: Nhiệt độ trung bình của thành phố A là 30
o
C, thành phố B là 10
o
C, nhưng
điều đó không có nghĩa là thành phố A nóng gấp 3 lần thành phố B.
Trong thực tế nghiên cứu xã hội, nhiều thang đo thứ bậc được dùng như thang đo
khoảng, tức đã có những cải tiến thang đo thứ bậc theo hướng thang đo khoảng
nhằm định lượng sự hơn, kém theo một dấu hiệu nào đó.
Ví dụ: Với câu hỏi “bạn có tự tin khi nhận công việc mới này hay không, hãy cho
điểm đánh giá theo thang đo sau?” thay vì trả lời theo 3 nấc rất tự tin, tương đối tự
tin và không tự tin như ở trên, bạn có thể cho điểm theo thang đo khoảng, nếu rất
tự tin thì cho điểm 10 còn hoàn toàn không tự tin thì cho điểm 0.
Bài 1: Giới thiệu về thống kê học
12 v1.0
Mặc dù ở đây đã lượng hoá được phần nào mức độ tự tin của người được hỏi
nhưng chưa có tiêu chuẩn cụ thể cho mỗi bậc của thang đo. Việc cho mấy điểm
hoàn toàn do cảm tính của người được hỏi mà chưa có chuẩn chính thức.
Hạn chế cơ bản của thang đo khoảng là chưa có giá trị “không tuyệt đối” mà chỉ có
giá trị 0 quy
ước. Chính vì vậy, để khắc phục được nhược điểm trên, người ta
thường hay sử dụng loại thang đo dưới đây trong thống kê.
1.3.4. Thang đo tỷ lệ
Định nghĩa: Thang đo tỷ lệ là thang đo khoảng
có điểm gốc không (0) tuyệt đối.
e
), hệ số tương quan cặp và
riêng phần. Muốn thực hiện được các phép tính cộng, trừ, tính bình quân, phương sai,
tỷ lệ, các hệ số và tỷ số tương quan thì phải sử dụng thang đo khoảng. Với thang đo
tỷ lệ, ta có thể sử dụng mọi độ đo thống kê.
Bài 1: Giới thiệu về thống kê họcv1.0 13
TÓM LƯỢC CUỐI BÀI
Thống kê ra đời và phát triển theo yêu cầu của xã hội. Ngày nay thống kê trở thành một phần
không thể thiếu của đời sống kinh tế – xã hội, thống kê là công cụ giúp cho việc ra các quyết
định trong quản lý.
Thống kê học là một môn học nghiên cứu về hệ thống các phương pháp thu thập – xử lý –
phân tích số liệu của các hiện tượng và quá trình kinh tế – xã hội.
Đối tượng nghiên cứu của thống kê học là mặt lượng trong mối liên hệ mật thiết với mặt chất
của các hiện tượng và quá trình kinh tế xã hội số lớn trong điều kiện thời gian và không gian
cụ thể.
Có nhiều thuật ngữ được sử dụng trong thống kê, trong đó có 3 thuật ngữ được sử dụng rộng
rãi nhất, đó là: (1) tổng thể thống kê, (2) tiêu thức thống kê và (3) chỉ tiêu thống kê.
Để lượng hoá các tiêu thức, nhất là với tiêu thức thuộc tính, người ta thường sử dụng 4 loại
thang đo sau: thang đo định danh, thang đo thứ bậc, thang đo khoảng và thang đo tỷ lệ. Tuỳ
theo đặc điểm của hiện tượng nghiên cứu và tiêu thức nghiên cứu mà sử dụng loại thang đo
cho phù hợp.
Bài 1: Giới thiệu về thống kê học