GIỚI THIỆU VỀ KINH TẾ HỌC MÔI TRƯỜNG - Pdf 63

GIỚI THIỆU VỀ KINH TẾ HỌC MÔI TRƯỜNG
1.1. GIỚI THIỆU VỀ KINH TẾ HỌC
Khi nghiên cứu về các vấn đề trong tổng thể nền kinh tế, mỗi chuyên ngành đều có hướng tiếp cận
khác nhau. Tuy nhiên, tất cả không ngoài mục tiêu mang lại những kết quả tối ưu cho sự phát triển chung
của tổng thể nền kinh tế.
Nghiên cứu kinh tế học chính là việc tập trung phân tích, tìm hiểu mối quan hệ giữa các nguồn lực
(lao động, tri thức, tài nguyên…) và nhu cầu thực tế của từng cá nhân với xã hội. Trong thực tế, tài nguyên
luôn được xem là yếu tố giới hạn và ngày càng trở nên khan hiếm (nhất là tài nguyên không tái tạo được);
tuy nhiên, nhu cầu thực tế của con người và xã hội lại không ngừng gia tăng theo thời gian và họ muốn tận
dụng triệt để tất cả những nguồn lực sẵn có để phục vụ cho lợi ích ngắn hạn hoặc dài hạn của mình. Do
đó, các nguồn lực này ngày càng cạn kiệt dần; chính vì vậy, chúng ta cần phải nghiên cứu cách thức để sử
dụng các nguồn lực một cách hợp lý nhất, tiết kiệm nhất mà vẫn đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của xã hội,
hay nói cách khác kết quả nghiên cứu của kinh tế học chính là giúp đưa ra được những giải pháp, những
lựa chọn để sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả nhất.
Nghiên cứu kinh tế học chính là tập trung nghiên cứu các vấn đề cơ bản được phân loại theo nhiều
cách khác nhau:
- Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô.
- Kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc.
- Kinh tế chính thống và kinh tế phi chính thống.
1.1.1. Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô
1.1.1.1. Các khái niệm cơ bản
a. Kinh tế học vi mô
Về cơ bản, kinh tế học vi mô được hiểu là một trong những phân ngành chính của kinh tế học, chuyên
nghiên cứu về các tế bào của nền kinh tế và các vấn đề kinh tế cụ thể (gồm nhà sản xuất, kênh phân phối,
người tiêu dùng, hay một ngành kinh tế nào đó). Trong các chuyên ngành liên quan đến kinh tế học, kinh
tế học vi mô cung cấp cho người đọc những khái niệm cơ bản để làm tiên đề cho việc nghiên cứu các vấn
đề khác như kinh tế công, phân tích lợi ích - chi phí (CBA), thương mại quốc tế, lý thuyết hành vi tổ chức,
địa lý kinh tế... trong tổng thể của chuyên ngành kinh tế học.
Mục tiêu nghiên cứu của kinh tế học vi mô chính là phân tích về cơ chế thị trường để thiết lập mối
tương quan giữa giá cả tương đối giữa các hàng hóa - dịch vụ, sự phân phối nguồn lực cho các mục đích
sử dụng khác nhau, giữa cung và cầu… Kinh tế học vi mô phân tích những thành công và thất bại của thị

đổi phức tạp nên nhìn chung các nhà kinh tế học khó có thể thực hiện công việc một cách hoàn hảo.
Phương pháp phân tích lợi ích - chi phí: là phương pháp nghiên cứu mà các nhà kinh tế học muốn đưa
ra một lựa chọn tối ưu dựa trên việc so sánh giữa chi phí bỏ ra và lợi ích thu được cho các hoạt động kinh
tế. Một quyết định hợp lý sẽ thay đổi hiện trạng ban đầu với điều kiện lợi ích từ sự thay đổi đó lớn hơn chi
phí ra. Ngoài ra, phương pháp phân tích lợi ích - chi phí còn được sử dụng để tìm ra điểm tối ưu (hay còn
đuợc gọi là điểm cân bằng) của sự lựa chọn. Theo phương pháp này, chúng ta cần phải so sánh giữa tổng
lợi ích với tổng chi phí cho mỗi đơn vị hàng hóa - dịch vụ, dịch vụ được sản xuất (hoặc tiêu dùng) tăng
thêm, lợi ích được gọi là lợi ích cận biên và chi phí đó được gọi là chi phí cận biên.
b. Kinh tế học vĩ mô
Khái niệm: cũng như kinh tế học vi mô, kinh tế học vĩ mô cũng là một phân ngành của kinh tế học.
Tuy nhiên, kinh tế học vĩ mô thiên về nghiên cứu các hiện tượng tổng quát của nền kinh tế. Chính vì vậy,
khi đề cập đến kinh tế học vĩ mô thì người ta muốn nói đến một mục tiêu mang tầm quốc gia (xa hơn nữa
là khu vực và quốc tế) như chỉ số GDP, GNP, chỉ số giá cả, lao động và việc làm, lạm phát và thất
nghiệp... Chúng ta có thể hiểu nghiên cứu về kinh tế học vĩ mô là việc làm mà các nhà kinh tế học muốn
tìm ra những chính sách, giải pháp cụ thể và hữu hiệu nhất cho tổng thể nền kinh tế của một quốc gia, một
khu vực hay có thể cho cả thế giới.
Mục tiêu nghiên cứu: kinh tế học vĩ mô nghiên cứu về tổng thể các hoạt động trong toàn bộ nền kinh
tế mà cụ thể là nghiên cứu tất cả sự thay đổi của tổng sản phẩm, thu nhập, tăng trưởng, lạm phát, chu kỳ
kinh tế, lao động và việc làm, các chính sách về thuế, trợ cấp xã hội, chính sách kích cầu....
Phương pháp nghiên cứu: mô hình hóa là phương pháp lựa chọn tối ưu cho việc nghiên cứu về kinh tế
học vĩ mô. Chính vì vậy, mỗi vấn đề thường được sử dụng một mô hình riêng biệt với những giả thuyết
riêng biệt. Do mỗi chuyên gia kinh tế có một quan điểm khác nhau về một vấn đề nên trong kinh tế học vĩ
mô luôn tồn tại những trường phái khác nhau.
Kinh tế học vĩ mô vận dụng tích cực phương pháp mô hình hóa để lý giải tất cả các hiện tượng xảy ra
trong nền kinh tế. Gần như mỗi hiện tượng của kinh tế học vĩ mô lại được mô tả/phỏng bằng một mô hình
riêng với những giả thiết riêng. Do cách nhìn nhận về các giả thiết khác nhau, nên trong kinh tế học vĩ mô
tồn tại nhiều trường phái; có thể kể đến một số trường phái kinh tế cơ bản sau:
- Trường phái kinh tế học tân cổ điển: trường phái này theo đuổi quan điểm là tất cả sự vận động của nền
kinh tế luôn theo một xu hướng ổn định và có thể tự bản thân nó cân bằng được mà không cần đến sự can
thiệp của chính phủ, nếu có sự can thiệp của chính phủ thì đó cũng chỉ là sự can thiệp tối thiểu và mang

cách khách quan và khoa học, họ dựa vào những số liệu thu thập cụ thể, khách quan để từ đó đưa ra những
lý giải về sự thay đổi và vận động của nền kinh tế. Đó là những kết luận có thực, có thể xác nhận hay bác
bỏ thông qua kinh nghiệm thực tế. Kinh tế học thực chứng có nhiệm vụ khám phá những mối liên hệ giữa
các biến số kinh tế, xác định số lượng và đo lường các mối liên hệ ấy để tiên đoán việc gì sẽ xảy ra cho
một biến số nếu một biến số khác thay đổi.
Trong khi đó, kinh tế học chuẩn tắc lại chuyên phán xét xem nền kinh tế phải vận hành như thế nào
hoặc phải có chính sách kinh tế gì để đạt được một mục tiêu nào đó.
Trái ngược với kinh tế học thực chứng, các nhà nghiên cứu theo trường phái kinh tế học chuẩn tắc
thường chỉ dựa vào những vấn đề kinh tế theo sự chủ quan và những nhận định được đưa ra chỉ mang một
ý nghĩa như một lời chỉ dẫn hoặc khuyến khích.
Để hiểu rõ hơn hai trường phái kinh tế này chúng ta tìm hiểu thông qua hai nhận định sau:
- Nhận định thứ nhất: Luật tiền lương tối thiểu gây ra thất nghiệp.
- Nhận định thứ hai: Chính phủ cần tăng lương.
Xét 2 nhận định trên ta thấy rằng, ở nhận định thứ nhất thể hiện được bản chất của vấn đề và nêu rõ
quan điểm của tác giả, chính vì thế đây là nhận định của những nhà khoa học theo trường phái thực chứng.
Còn nhận định thứ hai chỉ mang tính chất dự đoán và đưa ra yêu cầu, cũng như tư vấn về chính sách; vì
vậy đây là nhận định của những người theo trường phái chuẩn tắc.
Nhìn chung, các nhà kinh tế trên thế giới khi sử dụng phương pháp thực chứng thì thường tạo ra được
nhiều quan điểm chung, nhưng khi sử dụng phương pháp chuẩn tắc thì thường bất hòa với nhau và có rất
nhiều quan điểm không thống nhất với nhau.
1.2. KINH TẾ HỌC - YẾU TỐ CẤU THÀNH KINH TẾ HỌC MÔI TRƯỜNG
1.2.1. Quy luật cung - cầu
Quy luật cung - cầu được đưa ra nhằm phân tích những biến động của nền kinh tế bằng việc sử dụng
mô hình tổng cung và tổng cầu. Với mô hình, trên trục tung biểu hiện sự biến động về mức giá chung
trong nền kinh tế còn trên trục hoành biểu hiện sự bíên động về tổng sản lượng hàng hóa - dịch vụ cung và
cầu của toàn xã hội.
Nhìn chung, cả kinh tế học vi mô cũng như trong kinh tế học vĩ mô đều phân tích những biến động
xoay quanh hai yếu tố này; tuy nhiên, chúng được thể hiện ở hai cấp độ khác nhau.
- Kinh tế học vi mô chỉ tập trung vào việc giải quyết vấn đề cung cầu trong phạm vi một ngành nghề
hay một doanh nghiệp.

tại mức giá cao hơn mức giá cân bằng.
Ý nghĩa tự điều tiết:
Từ cơ chế tự điều tiết của thị trường, giá cả sẽ là tín hiệu để người mua và người bán tự điều chỉnh
hành vi. Doanh nghiệp nhận biết thời điểm nào cần mở rộng sản xuất và kinh doanh mang lại lợi ích cao
nhất, còn đối với người tiêu dùng sẽ có rất nhiều cơ hội để lựa chọn trong việc thỏa mãn những mong
muốn của họ khi các doanh nghiệp cạnh tranh nhau thông qua chất lượng hàng hóa - dịch vụ và giá cả
hàng hóa - dịch vụ.
Thông qua quá trình vận động như vậy, những nguồn lực của xã hội sẽ được phân bổ một cách tối ưu,
đáp ứng một cách tốt nhất cho nhu cầu của xã hội. Chính vì vậy, cơ chế thị trường sẽ giải đáp được mâu
thuẫn cơ bản nhất của kinh tế học đó là mâu thuẫn giữa nguồn lực có hạn với nhu cầu vô hạn, vì thế chúng
ta cần phải có biện pháp phân bổ những nguồn lực một cách thật hiệu quả nhằm đáp ứng một cách tốt nhất
cho nhu cầu của xã hội.
1.2.2. Tổng cầu, tổng cung và cân bằng cung - cầu
1.2.2.1. Tổng cầu
Đường tổng cầu cho chúng ta biết lượng hàng hóa - dịch vụ đáp ứng nhu cầu của toàn xã hội với một
mức giá cho trước. Trong mối quan hệ giữa cung - cầu cho thấy đường tổng cầu dốc xuống, nếu các yếu tố
khác không thay đổi thì sự sụt giảm (tăng) mức giá chung của nền kinh tế có xu hướng làm cho lượng cầu
về hàng hóa - dịch vụ chuyển dịch theo chiều hướng tăng (giảm).
Giá
Lượng cầu
Hình 1.1. Minh họa đường cầu
Đường cầu này dốc xuống phía phải thể hiện quan hệ nghịch giữa lượng cầu với giá cả. Một trong
những nguyên nhân làm cho đường tổng cầu dốc xuống là do:
- Hiệu ứng về chi tiêu: khi giá cả tiêu dùng của một sản phẩm nào đó giảm xuống người tiêu dùng có
thể bỏ ra với một lượng tiền như trước nhưng có thể mua được nhiều hàng hóa - dịch vụ hơn. Điều
này làm kích thích họ chi tiêu nhiều hơn, kéo theo lượng cầu sẽ tăng và ngược lại khi giá cả trở nên
đắt đỏ, người tiêu dùng lại cảm thấy họ phải bỏ ra một lượng tiền lớn hơn cho một nhu cầu như
trước vì thế họ luôn tìm cách kiểm soát chặt chẽ vấn đề chi tiêu, điều này kéo theo lượng cầu sẽ
giảm xuống.
- Hiệu ứng thương mại: đường tổng cầu dốc xuống dưới là do áp lực của các chính sách thương mại.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status