VÕ ĐÌNH LONG, THÁI THÀNH LƯỢM
NGUYỄN XUÂN HOÀN, NGUYỄN THỊ TUYẾT THANH
NGUYÊN LÝ
KINH TẾ HỌC MÔI TRƯỜNG
PRINCIPLES OF
NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC KỸ THUẬT
2
LỜI NÓI ĐẦU
“Nguyên lý kinh tế học môi trường” trang bị cho sinh viên hai khối kiến
thức chính: (1) các nguyên lý cơ bản của kinh tế học môi trường; (2) ứng dụng
các nguyên lý của kinh tế học môi trường vào trong từng điều kiện cụ thể. Với
tinh thần đó, cuốn sách được biên soạn theo hướng vừa tập trung mang tính đơn
ngành lại vừa mở rộng mang tính liên ngành, đa ngành và vừa chuyên sâu với tư
cách của một ngành khoa học thực thụ lại vừa có tính ứng dụng cao, phục vụ
cho đời sống của con người.
Cuốn sách gồm 8 chương, mỗi chương chứa đựng một nội dung lớn cần
chuyển tải đến bạn đọc. Nhìn tổng thể, cuốn sách đã bao quát toàn bộ các nội
dung cơ bản của kinh tế học môi trường. Trong mỗi phần lại gồm những nội
dung cụ thể và trong từng nội dung cụ thể lại được chia thành những vấn đề
nhỏ. Ngoài ra, cuối mỗi chương chúng tôi còn trắc nghiệm lại kiến thức của bạn
đọc, nhờ đó, giúp cho bạn đọc có thể nhận ra những kiến thức cơ bản và những
kiến thức hiện đại, khối kiến thức đại cương và khối kiến thức thực tế.
- Chương 1: Giới thiệu về kinh tế học môi trường.
- Chương 2: Quan hệ giữa kinh tế và môi trường.
- Chương 3: Hàng hóa công.
- Chương 4: Phân tích lợi ích và chi phí trong kinh tế học môi trường.
- Chương 5: Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả.
- Chương 6: Sử dụng công cụ thuế và trợ cấp để bảo vệ môi trường.
- Chương 7: Kiểm toán môi trường.
- Chương 8: Kinh doanh quyền phát thải.
Cuốn sách nguyên lý kinh tế học môi trường sẽ cung cấp những kiến thức
Khi nghiên cứu về các vấn đề trong tổng thể nền kinh tế, mỗi chuyên ngành
đều có hướng tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, tất cả không ngoài mục tiêu mang
lại những kết quả tối ưu cho sự phát triển chung của tổng thể nền kinh tế.
Nghiên cứu kinh tế học chính là việc tập trung phân tích, tìm hiểu mối quan
hệ giữa các nguồn lực (lao động, tri thức, tài nguyên…) và nhu cầu thực tế của
từng cá nhân với xã hội. Trong thực tế, tài nguyên luôn được xem là yếu tố giới
hạn và ngày càng trở nên khan hiếm (nhất là tài nguyên không tái tạo được); tuy
nhiên, nhu cầu thực tế của con người và xã hội lại không ngừng gia tăng theo
thời gian và họ muốn tận dụng triệt để tất cả những nguồn lực sẵn có để phục vụ
cho lợi ích ngắn hạn hoặc dài hạn của mình. Do đó, các nguồn lực này ngày
càng cạn kiệt dần; chính vì vậy, chúng ta cần phải nghiên cứu cách thức để sử
dụng các nguồn lực một cách hợp lý nhất, tiết kiệm nhất mà vẫn đáp ứng đầy đủ
các nhu cầu của xã hội, hay nói cách khác kết quả nghiên cứu của kinh tế học
chính là giúp đưa ra được những giải pháp, những lựa chọn để sử dụng các
nguồn lực một cách hiệu quả nhất.
Nghiên cứu kinh tế học chính là tập trung nghiên cứu các vấn đề cơ bản
được phân loại theo nhiều cách khác nhau:
- Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô.
- Kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc.
- Kinh tế chính thống và kinh tế phi chính thống.
1.1.1. Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô
1.1.1.1. Các khái niệm cơ bản
a. Kinh tế học vi mô
Về cơ bản, kinh tế học vi mô được hiểu là một trong những phân ngành
chính của kinh tế học, chuyên nghiên cứu về các tế bào của nền kinh tế và các
vấn đề kinh tế cụ thể (gồm nhà sản xuất, kênh phân phối, người tiêu dùng, hay
một ngành kinh tế nào đó). Trong các chuyên ngành liên quan đến kinh tế học,
kinh tế học vi mô cung cấp cho người đọc những khái niệm cơ bản để làm tiên
đề cho việc nghiên cứu các vấn đề khác như kinh tế công, phân tích lợi ích - chi
6
dựng), tính đồng nhất (các hướng nhìn khác nhau không được mâu thuẫn
với nhau), dễ thay đổi và cũng dễ dàng trao đổi với các mô hình khác.
7
Phương pháp so sánh tĩnh: còn được hiểu là phương pháp so sánh trong đó
các yếu tố được đề cập đến luôn ở trạng thái tĩnh (không đổi) nhưng vẫn có thể
đưa ra những kết luận chính xác. Khác với các lĩnh vực khoa học khác như toán
học, vật lý… các nhà khoa học sẽ đưa ra những giả thiết với một số biến quan
tâm được giữ nguyên còn các biến khác có thể biến đổi. Trong nghiên cứu kinh
tế học, rất khó để cho ra một kết quả mong muốn, vì vậy việc nghiên cứu cần
phải dựa vào những số liệu thực tế, chính xác thì mới đem lại một kết quả tốt
nhất. Tuy vậy, trong tổng thể nền kinh tế, các yếu tố luôn luôn vận động và biến
đổi phức tạp nên nhìn chung các nhà kinh tế học khó có thể thực hiện công việc
một cách hoàn hảo.
Phương pháp phân tích lợi ích - chi phí: là phương pháp nghiên cứu mà các
nhà kinh tế học muốn đưa ra một lựa chọn tối ưu dựa trên việc so sánh giữa chi
phí bỏ ra và lợi ích thu được cho các hoạt động kinh tế. Một quyết định hợp lý
sẽ thay đổi hiện trạng ban đầu với điều kiện lợi ích từ sự thay đổi đó lớn hơn chi
phí ra. Ngoài ra, phương pháp phân tích lợi ích - chi phí còn được sử dụng để
tìm ra điểm tối ưu (hay còn đuợc gọi là điểm cân bằng) của sự lựa chọn. Theo
phương pháp này, chúng ta cần phải so sánh giữa tổng lợi ích với tổng chi phí
cho mỗi đơn vị hàng hóa - dịch vụ, dịch vụ được sản xuất (hoặc tiêu dùng) tăng
thêm, lợi ích được gọi là lợi ích cận biên và chi phí đó được gọi là chi phí cận
biên.
b. Kinh tế học vĩ mô
Khái niệm: cũng như kinh tế học vi mô, kinh tế học vĩ mô cũng là một phân
ngành của kinh tế học. Tuy nhiên, kinh tế học vĩ mô thiên về nghiên cứu các
hiện tượng tổng quát của nền kinh tế. Chính vì vậy, khi đề cập đến kinh tế học
vĩ mô thì người ta muốn nói đến một mục tiêu mang tầm quốc gia (xa hơn nữa
là khu vực và quốc tế) như chỉ số GDP, GNP, chỉ số giá cả, lao động và việc
làm, lạm phát và thất nghiệp... Chúng ta có thể hiểu nghiên cứu về kinh tế học
- Kinh tế học vĩ mô tổng hợp ra đời ở Mỹ vào thập niên 1950, là một trường
phái kinh tế học vĩ mô dựa trên việc tổng hợp các học thuyết của kinh tế học tân
cổ điển với kinh tế học Keynes. Trường phái này lấy cân bằng tổng thể của kinh
tế học tân cổ điển làm khung, bổ sung thêm lý luận cầu hữu hiệu của kinh tế học
Keynes và áp dụng tích cực phân tích IS-LM của Hicks. Trường phái kinh tế
học này cho rằng dựa vào chính sách điều chỉnh cầu hữu hiệu của nhà nước có
thể đạt được trạng thái toàn dụng lao động như kinh tế học tân cổ điển nhìn
nhận và đẩy mạnh được tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, trường phái kinh tế học
cũng cho rằng các mô hình kinh tế lượng sẽ giúp nhà nước tính toán và điều
chỉnh được cầu hữu hiệu một cách hiệu quả.
1.1.1.2. Mối quan hệ giữa kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô trong tổng thể
nền kinh tế
Nếu như kinh tế học vi mô chỉ tập trung nghiên cứu những tế bào (thành
phần) nhỏ lẻ của nền kinh tế thì kinh tế học vĩ mô lại tập trung vào việc giải
quyết tổng thể các vấn đề của toàn bộ nền kinh tế, tuy vậy giữa chúng có mối
quan hệ rất chặt chẽ với nhau. Ranh giới giữa kinh tế học vi mô và kinh tế học
vĩ mô không thực sự rõ ràng vì để hiểu rõ các hoạt động kinh tế ở phạm vi tổng
thể ta cần phải nắm vững thái độ của các chính phủ, doanh nghiệp, người tiêu
dùng, nguời công nhân, nhà đầu tư... Điều này cho thấy rằng kết quả hoạt động
của kinh tế học vĩ mô phụ thuộc rất chặt vào các phản ứng của kinh tế học vi
mô. Ngược lại, hành vi của doanh nghiệp, người tiêu dùng, nhà đầu tư... lại bị
chi phối bởi các chương trình, chính sách của kinh tế học vĩ mô (chẳng hạn như
những chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chính sách về thuế, tài nguyên, môi
9
trường). Do vậy, chúng ta cần nắm vững kiến thức của cả hai ngành học này
trong mối liên hệ tương tác lẫn nhau để có thể nghiên cứu một cách thấu đáo
các hiện tượng kinh tế.
1.1.2. Kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc
Kinh tế học thực chứng là một nhánh của kinh tế học, quan tâm tới việc mô
tả và giải thích các hiện tượng kinh tế. Kinh tế học thực chứng tập trung nghiên
10
1.2. KINH TẾ HỌC - YẾU TỐ CẤU THÀNH KINH TẾ HỌC MÔI
TRƯỜNG
1.2.1. Quy luật cung - cầu
Quy luật cung - cầu được đưa ra nhằm phân tích những biến động của nền
kinh tế bằng việc sử dụng mô hình tổng cung và tổng cầu. Với mô hình, trên
trục tung biểu hiện sự biến động về mức giá chung trong nền kinh tế còn trên
trục hoành biểu hiện sự bíên động về tổng sản lượng hàng hóa - dịch vụ cung và
cầu của toàn xã hội.
Nhìn chung, cả kinh tế học vi mô cũng như trong kinh tế học vĩ mô đều
phân tích những biến động xoay quanh hai yếu tố này; tuy nhiên, chúng được
thể hiện ở hai cấp độ khác nhau.
- Kinh tế học vi mô chỉ tập trung vào việc giải quyết vấn đề cung cầu trong
phạm vi một ngành nghề hay một doanh nghiệp.
- Kinh tế học vĩ mô sẽ nghiên cứu toàn bộ cung - cầu hàng hóa - dịch vụ
trong tổng thể nền kinh tế của cả quốc gia, khu vực và thậm chí là của
quốc tế.
Quy luật cung - cầu cho chúng ta thấy rằng khi hàng hoá - dịch vụ cung cấp
cho thị trường mà lượng cầu lớn hơn lượng cung thì giá cả hàng hóa - dịch vụ sẽ
có khuynh hướng tăng. Khi đó người tiêu dùng sẽ phải chi trả cao hơn cho việc
sử dụng một sản phẩm hàng hóa - dịch vụ đó so với ban đầu. Ngược lại, giá cả
sẽ có xu hướng giảm nếu lượng cung vượt quá lượng cầu.
Các nhà kinh tế học đã tìm ra được nguyên nhân của sự biến động này là do
áp lực giữa cung, cầu và giá cả; cũng như lý giải được cơ chế tự điều chỉnh về
giá cả và sản lượng đã giúp thị trường đạt đến điểm cân bằng (tại đó không còn
áp lực gây ra sự thay đổi về giá cả và sản lượng). Điểm cân bằng của thị trường
chính là điểm mà các nhà cung ứng nhận biết được nhu cầu thực tế của xã hội
và họ có thể cung ứng đúng số lượng với một mức giá đủ thỏa mãn được nhu
cầu của người tiêu dùng.
Tuy nhiên, sự biến động qua lại giữa cung và cầu chỉ kéo dài trong một thời
Thông qua quá trình vận động như vậy, những nguồn lực của xã hội sẽ được
phân bổ một cách tối ưu, đáp ứng một cách tốt nhất cho nhu cầu của xã hội.
Chính vì vậy, cơ chế thị trường sẽ giải đáp được mâu thuẫn cơ bản nhất của
kinh tế học đó là mâu thuẫn giữa nguồn lực có hạn với nhu cầu vô hạn, vì thế
chúng ta cần phải có biện pháp phân bổ những nguồn lực một cách thật hiệu quả
nhằm đáp ứng một cách tốt nhất cho nhu cầu của xã hội.
1.2.2. Tổng cầu, tổng cung và cân bằng cung - cầu
1.2.2.1. Tổng cầu
Đường tổng cầu cho chúng ta biết lượng hàng hóa - dịch vụ đáp ứng nhu
cầu của toàn xã hội với một mức giá cho trước. Trong mối quan hệ giữa cung -
cầu cho thấy đường tổng cầu dốc xuống, nếu các yếu tố khác không thay đổi thì
sự sụt giảm (tăng) mức giá chung của nền kinh tế có xu hướng làm cho lượng
cầu về hàng hóa - dịch vụ chuyển dịch theo chiều hướng tăng (giảm).
12
Hình 1.1. Minh họa đường cầu
Đường cầu này dốc xuống phía phải thể hiện quan hệ nghịch giữa lượng
cầu với giá cả. Một trong những nguyên nhân làm cho đường tổng cầu dốc
xuống là do:
- Hiệu ứng về chi tiêu: khi giá cả tiêu dùng của một sản phẩm nào đó giảm
xuống người tiêu dùng có thể bỏ ra với một lượng tiền như trước nhưng
có thể mua được nhiều hàng hóa - dịch vụ hơn. Điều này làm kích thích
họ chi tiêu nhiều hơn, kéo theo lượng cầu sẽ tăng và ngược lại khi giá cả
trở nên đắt đỏ, người tiêu dùng lại cảm thấy họ phải bỏ ra một lượng tiền
lớn hơn cho một nhu cầu như trước vì thế họ luôn tìm cách kiểm soát chặt
chẽ vấn đề chi tiêu, điều này kéo theo lượng cầu sẽ giảm xuống.
- Hiệu ứng thương mại: đường tổng cầu dốc xuống dưới là do áp lực của
các chính sách thương mại. Chẳng hạn như, mức giá của các mặt hàng
ngoại nhập cao thì người tiêu dùng thường có khuynh hướng sử dụng
nhiều hàng hóa - dịch vụ trong nước hơn, với những chính sách về thuế
nhập khẩu đã làm thay đổi giá cả các mặt hàng nhập khẩu, kéo theo mức
Giá
Lượng cầu
1.2.2.3. Cân bằng tổng cung - cầu
Khi nghiên cứu về các vấn đề tổng thể trong nền kinh tế, các nhà kinh tế
học đã đưa ra rất nhiều kết luận về quy luật tác động qua lại giữa tổng cung -
tổng cầu. Trong đó, người ta kết luận rằng khi hàng hóa - dịch vụ bán ra với
lượng cầu lớn hơn lượng cung sẽ dẫn đến tình trạng khan hiếm vì thế giá cả có
chiều hướng tăng lên. Ngược lại, khi lượng cầu nhỏ hơn lượng cung sẽ làm cho
giá cả hàng hóa - dịch vụ giảm xuống.
Vì thế giải pháp được đưa ra nhằm hạn chế sự biến động này là thiết lập
một mức giá cân bằng nhằm tạo được sự thỏa mãn cho cả người mua lẫn người
bán. Sự biến động qua lại giữa đường tổng cung - cầu chỉ ra rằng, giá cả thị
trường và lượng hàng hóa - dịch vụ cung ứng trên thị trường thường bình ổn tại
mức giá mà ở đó lượng cung bằng lượng cầu và có xu hướng tăng lên hoặc
giảm xuống thông qua sự biến động qua lại của cung - cầu. Điểm cân bằng là
giao điểm của đường tổng cung và đường tổng cầu, gọi là điểm cân bằng của thị
trường.
1.2.3. Ba vấn đề cơ bản của kinh tế học - ứng dụng vào kinh tế học môi
trường
Khi đưa ra quyết định đối với một loại hàng hóa - dịch vụ nào đó thì chúng
ta cần phải có sự lựa chọn để sử dụng nguồn lực khan hiếm sao cho hiệu quả
nhất. Tuy nhiên, việc lựa chọn nguồn lực cho mục đích này đồng nghĩa với việc
từ bỏ cơ hội lựa chọn nguồn lực cho mục đích khác. Chính vì thế, để thúc đẩy
nền kinh tế phát triển và đạt hiệu quả tốt nhất, cần phải giải quyết tốt ba vấn đề
cơ bản sau:
- Sản xuất hàng hóa - dịch vụ gì ?
- Sản xuất hàng hóa - dịch vụ như thế nào ?
- Sản xuất hàng hóa - dịch vụ cho ai ?
Ba vấn đề này liên quan đến việc sử dụng nguồn lực hiện có vào những mục
đích khác nhau một cách tối ưu nhất, đáp ứng đầy đủ nhu cầu của xã hội, đồng
riêng cũng như toàn bộ nền kinh tế xã hội nói chung. Chẳng hạn như, khi nhà
nước chú trọng quá nhiều vào chi tiêu cho quốc phòng thì đồng nghĩa với việc
sẽ cắt giảm chi tiêu cho hàng hóa - dịch vụ tiêu dùng; khi các chính sách về bảo
vệ tài nguyên, môi trường được quan tâm thì đồng nghĩa với việc làm giảm
doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp, cũng có thể kéo theo sự sụt giảm thu
nhập cho người lao động cũng như tăng giá cả đối với hàng hóa - dịch vụ.
1.3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA KINH TẾ MÔI TRƯỜNG
1.3.1. Tính khan hiếm
Tài nguyên được sử dụng để phục vụ cho phát triển kinh tế là có hạn. Mặc
dù vậy, nhu cầu tiêu dùng của con người luôn có xu hướng gia tăng không
ngừng và không có giới hạn. Do vậy, tính khan hiếm (hay giới hạn tuyệt đối) là
cơ sở quan trọng để đưa ra các quyết định kinh tế, hình thành nên ý tưởng sản
xuất các loại hàng hóa - dịch vụ có nhu cầu và đem bán trên thị trường.
16
Hình 1.3. Minh họa tính khan hiếm trong kinh tế học môi trường
Tiêu dùng cũng là một bộ phận quan trọng cấu thành nên sự vận động của
nền kinh tế. Trong các quyết định tiêu dùng của cá nhân, phần đông mọi người
chọn các hàng hóa - dịch vụ phù hợp với nhu cầu đồng thời phải đảm bảo giá cả
hợp lý, chính vì thế hàng hóa - dịch vụ phù hợp với nhu cầu và giá cả hợp lý sẽ
luôn luôn được lựa chọn.
Sản xuất là quá trình biến đổi các nguyên liệu đầu vào thành các sản phẩm
đầu ra, chuyển đổi các nguồn lực thành vật dụng và biến đổi cái “chưa có nhu
cầu” thành cái “có nhu cầu”, từ cái có nhu cầu thành cái có nhiều nhu cầu hơn.
Nói một cách khác, sản xuất chính là một quá trình hoạt động nhằm tạo ra các
sản phẩm cộng thêm vào trong tổng thể giá trị sử dụng (hay hàng hóa - dịch vụ)
của xã hội.
Ngoài ra, còn một thực thể cũng không kém phần quan trọng trong nền kinh
tế đó là “trao đổi”. Xét về mặt xã hội thì phân phối chỉ làm xáo trộn về mặt lưu
thông của hàng hóa - dịch vụ, đó là sự chuyển giao lẫn nhau giữa các bên có
liên quan. Tuy nhiên, phân phối cũng là một bộ phận cấu thành nên sự khan
khan hiếm của tài nguyên trong tương lai. Hay nói cách khác phải nghiên cứu
đến giới hạn sinh thái ứng dụng trong kinh tế học môi trường. Trong khi khả
năng tự làm sạch của môi trường thì có hạn nhưng sự phát sinh chất thải từ các
hoạt động sống (công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạt…) của con người là không
có giới hạn. Vì vậy, chúng ta đang phải đối mặt với những vấn đề về suy thoái
và ô nhiễm môi trường trên diện rộng. Chính vì vậy, khi nghiên cứu đến vấn đề
giới hạn sinh thái trong kinh tế học môi trường thì yếu tố “phát triển bền vững”
cũng cần được đặc biệt quan tâm.
Hình 1.4. Dòng vật chất biến đổi trong hệ thống
Các quy luật về cạn kiệt tài nguyên và chi phí cũng như các vấn đề về tính
hiệu quả trong phân phối tài nguyên đã được áp dụng cho toàn bộ các hệ thống
kinh tế. Theo mô hình cân bằng vật chất thì dòng vật chất và năng lượng đi vào
chu trình sản xuất, qua nhiều quá trình biến đổi về chất cũng như về lượng cuối
cùng chúng sẽ tạo ra xuất lượng gồm sản phẩm, chất thải, chất tái chế và một
phần năng lượng bị tổn thất vào môi trường. Phần chất tái chế một phần sẽ quay
trở lại hệ thống để tiếp tục sản xuất cho ra sản phẩm, phần còn lại sẽ được thải
18
Dòng vật chất
đi vào hệ thống
Quá trình biến
đổi
Chất thải
Sản phẩm
Chất tái chế
ra môi trường và chúng được quy ước là chất thải (nước thải, chất thải rắn, khí
thải).
Để xem xét rõ hơn về giới hạn sinh thái, chúng ta cần hiểu rõ hơn về một số
hệ luận đối với kinh tế học môi trường được rút ra từ các định luật nhiệt động
học:
1/ Tất cả các hoạt động khai thác, chế biến, phân phối và tiêu thụ tài
19
Ghi chú:
I = Dòng nguyên liệu sơ cấp và năng lượng đầu vào
I
S
= Dòng nguyên liệu thứ cấp (tái sinh)
I
R/T
= Dòng nguyên liệu sơ cấp cho quy trình tái sinh và/hay cải tiến
W
P
= Chất thải
W
PR
= Phần còn lại trong quy trình xử lý hay tái sinh
Q = Sản phẩm cuối cùng
Dòng chu chuyển vật chất trong một nền kinh tế thể hiện mọi hệ thống kinh
tế luôn có sự chuyển động và sẽ tồn tại một dòng tái sinh chất thải. Trong đó,
dòng tái sinh (1) được xem là “dòng phế thải bên trong hệ thống” vì nguyên liệu
tái sinh không rời khỏi nhà máy chế biến, tốc độ tái sinh của dòng thải này này
rất cao. Dòng tái sinh (2) còn được gọi là “phế thải gợi lại” cũng có tốc độ rất
cao nhưng đòi hỏi phải có sự can thiệp của một đơn vị sử dụng vật liệu thứ cấp
để thúc đẩy quá trình chế biến cơ bản. Dòng tái sinh (3) còn được gọi là dòng
“phế thải thương mại” gồm có các loại bao bì đóng gói và là các sản phẩm kinh
doanh chủ yếu của các cơ sở tái chế. Dòng tái sinh (4) là dòng “phế thải hậu tiêu
thụ” gồm các thành phần có tiềm năng tái sinh được của dòng phế thải từ các hộ
gia đình và các cơ sở kinh doanh nhỏ.
Tốc độ hoạt động của mỗi dòng tái sinh không giống nhau, phần lớn bị chi
phối bởi 4 yếu tố:
- Khối lượng vật chất đưa vào hệ thống.
thải (phát thải). Đó là những chất thải của nguyên liệu ở quá trình khai thác,
những chất thải bị tổn thất từ khâu sản xuất, các sản phẩm khuyết tật, chất thải
loại ra từ quá trình tiêu thụ sản phẩm...
Trong suốt quá trình vận động của hệ thống kinh tế, một phần tài nguyên sẽ
bị tổn thất và đưa vào môi trường dưới dạng chất thải. Tuy nhiên, chúng vẫn
tuân theo định luật thứ nhất nhiệt động học “năng lượng và vật chất không tự
sinh ra và cũng không tự mất đi, mà chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác,
từ trạng thái này sang trạng thái khác”, điều này có nghĩa là tổng năng lượng
nguồn đầu vào hệ thống kinh tế sẽ luôn cân bằng với tổng lượng đầu ra (bao
gồm sản phẩm, chất thải và tổn thất năng lượng) trong suốt quá trình vận động
của hệ thống kinh tế.
21
2.1.2. Chức năng của môi trường trong hệ thống kinh tế
2.1.2.1. Môi trường là nơi chứa đựng chất thải
Trong suốt quá trình hoạt động, tất cả chất thải của hệ thống kinh tế đều
được đưa trở lại môi trường và chỉ một phần trong số đó được chúng ta tái tạo
lại để sử dụng.
Hình 2.1. Minh họa về phát thải chất thải ra môi trường.
Để đem lại phúc lợi về mặt môi trường và giảm mức độ tấn công vào tài
nguyên, con người luôn tìm cách tận dụng đến mức tối đa các chất thải có thể
tái chế hoặc tái sử dụng được (khi mà tái chế vẫn mang lại hiệu quả), bên cạnh
đó quá trình phát thải các chất thải không còn khả năng sử dụng cũng diễn ra,
đây là quá trình tạo ra chất thải từ quy trình sản xuất.
Chẳng hạn như, từ chất thải rắn có thể tận thu được vật liệu tái chế, phân
bón hữu cơ, gạch xây dựng, nhiệt, khí đốt từ các công nghệ tương ứng sau:
Hình 2.2. Minh họa về giải pháp tận thu các dòng vật chất từ chất thải rắn
Chất
thải rắn
Phân hữu cơ (từ công nghệ compost)
Gạch, bê tông (từ công nghệ đốt)
thải) là rất lớn, nhưng nếu lượng chất thải hàng ngày được thải ra lớn hơn khả
năng tự làm sạch của môi trường thì vấn đề ô nhiễm chắn chắc sẽ xảy ra. Vì
vậy, các biện pháp quản lý và xử lý chất thải (rắn, lỏng và khí) là cần thiết để
giảm thiểu các khả năng tác động nguy hại đến môi trường.
2.1.2.2. Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cho toàn bộ hệ thống kinh tế
Những sản phẩm mà con người sử dụng được lấy từ các nguồn tài nguyên.
Môi trường chứa đựng tất cả các nguồn tài nguyên đầu vào cho các hoạt động
của hệ thống kinh tế. Dưới tác động mạnh mẽ của cách mạng khoa học và công
nghệ, khái niệm tài nguyên được mở rộng ra trong nhiều lĩnh vực hoạt động của
con người.
Hiện nay, quan điểm của các nhà kinh tế học môi trường đều thống nhất
cách phân loại tài nguyên như sau:
Tài nguyên tái tạo: Là những loại tài nguyên sau khi khai thác vẫn còn khả
năng tự tái tạo hoặc phục hồi giống hoặc tương tự trạng thái ban đầu (chẳng hạn
như tài nguyên rừng, thủy hải sản...) nếu được quản lý một cách hợp lý. Những
loại tài nguyên này nếu bị khai thác vượt quá khả năng tự tái tạo thì chúng sẽ trở
thành nguồn tài nguyên không thể tái tạo được. Do đó, quá trình khai thác
chúng ta cần phải có những biện pháp kiểm soát một cách hợp lý, đồng thời có
kết hợp với các chính sách bảo vệ nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất
cho những loại tài nguyên tái tạo này.
23
Tài nguyên không tái tạo: là những nguồn tài nguyên thiên nhiên không có
khả năng tái tạo được, hoặc thời gian tái tạo rất lâu (có thể hàng thế kỷ hoặc lên
đến hàng triệu năm), chúng thường có số lượng hạn chế, sau khi khai thác và sử
dụng thì tài nguyên này sẽ cạn kiệt dần và không còn tái tạo được nữa. Loại tài
nguyên này gồm những nhiêu liệu hóa thạch, khoáng sản. Một số tài nguyên có
thể tái tạo nhưng chỉ được phục hồi qua một quá trình hoạt động địa chất lâu dài
thì cũng được xếp vào loại tài nguyên không tái tạo được.
Hiện nay, ở nước ta cũng như trên thế giới tình trạng khai thác tài nguyên
thường không triệt để, hiệu suất khai thác không cao, dẫn đến tình trạng lãng
24
2.2. PHÂN TÍCH CÂN BẰNG VẬT CHẤT TRONG KINH TẾ MÔI
TRƯỜNG
2.2.1. Các định luật nhiệt động học
2.2.1.1. Định luật 0
Định luật 0, hay nguyên lý cân bằng nhiệt động nói về cân bằng nhiệt động.
Hai hệ nhiệt động đang nằm trong cân bằng nhiệt động với nhau khi chúng tiếp
xúc với nhau nhưng không có trao đổi năng lượng. Định luật phát biểu như sau:
"Nếu hai hệ có cân bằng nhiệt động với cùng một hệ thứ ba thì chúng cũng cân
bằng nhiệt động với nhau".
Định luật 0 được phát biểu sau 3 định luật còn lại nhưng ảnh hưởng của nó
lại rất quan trọng nên được đánh số 0. Cân bằng nhiệt động bao hàm cả cân
bằng nhiệt, cân bằng cơ học và cân bằng hoá học.
2.2.1.2. Định luật 1
Định luật 1, hay nguyên lý thứ nhất, chính là định luật bảo toàn năng lượng,
khẳng định rằng năng lượng luôn được bảo toàn. Nói cách khác, tổng năng
lượng của một hệ kín là không đổi. Các quá trình xảy ra trong hệ chính là sự
chuyển năng lượng từ dạng này sang dạng khác. Như vậy, năng lượng không
thể sinh ra từ hư không, nó luôn biến đổi trong tự nhiên. Trong toàn vũ trụ, tổng
năng lượng không đổi, nó chỉ có thể chuyển từ hệ này sang hệ khác. Con người
không thể "tạo ra" năng lượng, mà chỉ "chuyển dạng" năng lượng mà thôi.
Nói cách khác, nhiệt năng truyền vào một hệ bằng với thay đổi nội năng của
hệ cộng với công năng mà hệ sinh ra cho môi trường.
Định luật 1 của nhiệt động học cũng là một nguyên lý tổng quát cho tất cả
các lý thuyết vật lý (cơ học, điện từ học, hóa học, vật lý hạt nhân...). Tiên đề
Noether cho rằng sự bảo toàn năng lượng có liên quan chặt chẽ tới độ đồng
dạng về cấu trúc của không gian - thời gian.
2.2.1.3. Định luật 2
Định luật 2, hay nguyên lý thứ hai, còn gọi là nguyên lý về entropy, liên
quan đến tính không thể đảo ngược của một quá trình nhiệt động lực học và đề