SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI
TRƯỜNG TRUNG HỌC Y TẾ HÀ NỘI
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tên đề tài:
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY CÁC NGUYÊN LÝ,
CÁC QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY
VẬT
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC Y TẾ HÀ NỘI
Người thực hiện: Đỗ Thị Thanh Mai
HÀ NỘI - 2001
A- PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phép biện chứng duy vật là một bộ phận không thể tách rời của triết
học mácxít, nó là một yếu tố hợp thành với chủ nghĩa duy vật, tạo nên bước
ngoặt vĩ đại trong lịch sử triết học. Nếu không nắm vững được phép biện
chứng duy vật (PBCDV) thì con người không thể nắm bắt được bản chất,
quy luật vận động của thế giới, và như vậy, con người cũng không thể tiến
hành hoạt động thực tiễn cải tạo và chinh phục thế giới.
Theo Lênin thì "PhÐp biện chứng tức là học thuyết về sự phát triển
dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và thoát hẳn được tính phiến diện.
"Phép biện chứng duy vật" trong chương trình chính trị ở các trường Trung
học chuyện nghiệp (THCN) bao gồm: 2 nguyên lý cơ bản, 3 quy luật cơ
bản. Nó góp phần trang bị có hệ thống về thế giới quan và phương pháp
luận biện chứng cho học sinh, trang bị phương pháp học tập để các em
nhận thấy sự hợp lý, lôgíc khách quan của tri thức triết học, từ đó tạo nên
hứng thú, động cơ học tập, khắc phục hạn chế dần cách nghĩ, cách làm chủ
quan duy ý chí, siêu hình trong học tập và cách nhìn nhận cuộc sống nói
chung.
Từ nhiều năm nay, việc đổi mới, nâng cao chất lượng giảng dạy bộ
môn chính trị trong các trường THCN đã được sự quan tâm sâu sắc, cùng
với sự đầu tư đáng kể của các cơ quan chỉ đạo và quản lý ở Trung ương,
nội dung của môn giáo dục công dân (Giáo trình Phương pháp giảng dạy
môn giáo dục công dân, Nhà xuất bản Giáo dục, 1992), hoặc như Thạc sĩ
triết học Nguyễn Thị Nhiều Thủy với đề tài cấp trường năm 1999 đã đề cập
đến "Vận dông lý luận nhận thức của chủ nghĩa Mác - Lênin trong việc đổi
mới giảng dạy môn triết học ở trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội" Đến
nay, chưa có đề tài nào nghiên cứu và đề xuất việc nâng cao chất lượng
giảng dạy các nguyên lý, các quy luật cơ bản của PBCDV ở các trường
THCN, vì vậy đề tài này với mong muốn góp vào một cách trình bày, cách
tiếp cận mới trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy các nguyên lý, các
quy luật cơ bản của PBCDV.
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
3.1. Mục đích
Góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy các nguyên lý, các quy
luật cơ bản của PBCDV ở các trường THCN nói chung và ở trường THYT
Hà Nội nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ
- Tìm hiểu vị trí, vai trò của PBCDV.
- Góp phần xác định rõ hơn nội dung của "chất lượng" giảng dạy
môn chính trị nói chung và chất lượng giảng dạy "Phép biện chứng duy vật'
nói riêng.
- Nâng cao chất lượng dạy học thông qua việc đổi mới phương pháp
dạy học.
- Coi việc tổ chức hướng dẫn học sinh tự học, nghiên cứu giáo trình
ở nhà là nội dung chủ yếu trong giảng dạy của giáo viên, để học sinh thực
sự là nhân vật trung tâm của quá trình dạy học - giáo dục - đào tạo với sự
hướng dẫn gợi mở của giáo viên.
4. Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin, chú trọng các
phương pháp: Phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, tổng kết và so sánh.
thể như là sự thay đổi của dòng sông, như Đêmôcrit, sự mềm mại và vô tận
của "ngọn lửa" như Hêraclit
Đánh giá mặt tích cực và sự hạn chế của quan điểm biện chứng
chất phác thời cổ đại, F.Ăngghen cho rằng trong quan điểm đó chúng ta
thấy một bức tranh về sự chằng chịt vô tận của những mối liên hệ và những
sự tác động qua lại, sự vận động và phát triển, nhưng chưa làm rõ được cái
gì đang liên hệ cũng như những quy luật nội tại của sự vận động và phát
triển, nhưng chưa làm rõ được cái gì đang liên hệ cũng như những quy luật
nội tại của sự vận động và phát triển.
Phép biện chứng duy tâm khách quan của Hêghen - một đại biểu
xuất sắc của nền triết học cổ điển Đức thế kỷ XIX quan niệm rằng giới tự
nhiên và xã hội loài người chỉ là sự tồn tại khác của "ý niệm tuyệt đối", do
sù tha hóa của "ý nhiệm tuyệt đối" mà thành. Ý niệm nằm trong sự vận
động và phát triển không ngừng. Việc nghiên cứu tính biện chứng của ý
niệm đã dẫn Hêghen đến chỗ đưa ra một hệ thống các khái niệm các phạm
trù, các quy luật cơ bản của Phép biện chứng. Đây là công lao lớn của
Hêghen. Song, do bị chi phối bởi chủ nghĩa duy tâm sai khách quan,
Hêghen đã rót ra kết luận hoàn toàn sai lầm: Biện chứng: Biện chứng của ý
niệm quy định tiến biện chứng của các sự vật và hiện tượng.
Kế thừa có chọn lọc, có phê phán những thành quả của các nhà triết
học tiền bối, mà trực tiếp nhất là phép biện chứng duy tâm của Hêghen và
quan điểm duy vật của Phơ-bách, dựa trên việc khái quát những thành quả
mới nhất của khoa học đương thời cũng như thực tiễn lịch sử loài người,
vào giữa thế kỷ XIX, C.Mác và F.Ăngghen đã sáng lập ra triÕt học duy vật
biện chứng (DVBC) và PBCDV và về sau được V.I.Lênin phát triển hơn
nữa vào đầu thế kỷ XX. Trong phép biện chứng đó luôn luôn có sự thống
nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng duy
vật: Phép biện chứng duy vật đã khái quát một cách đúng đắn những quy
luật vận động và phát triển chung nhất của thế giới.
cho môn khoa học mà những người XHCN cần phải phát triển hơn nữa về
mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống".
Việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập triết học mácxít nói chung và bài
Những nguyên lý và những quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật là
một vấn đề rất quan trọng đặt ra cho mỗi giáo viên làm sao cố gắng cải tiến cả
phương pháp và nội dung truyền đạt sao cho học sinh hiểu được tinh thần cơ
bản của nó. Đồng thời học sinh cảm thấy hứng thú có nhu cầu học tập
PBCDV với tinh thần tìm tòi, vận dụng vào trong công tác và cuộc sống
của mình.
Chương 2
CẢI TIẾN PHƯƠNG PHÁP NHẰM CHUYỂN TẢI NỘI DUNG
TRI THỨC TRONG BÀI "NHỮNG NGUYÊN LÝ VÀ NHỮNG
QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT"
2.1. Một số hạn chế và phương pháp khắc phục trong giảng dạy
chính trị nói chung và bài "Những nguyên lý và những quy luật cơ bản
của PBCDV" nói riêng ở trường THYT Hà Nội
Hạn chế trong việc giảng dạy môn chính trị còn nhiều, tuy nhiên
những hạn chế này vẫn tồn tại lâu dài, khó khắc phục không chỉ do nguyên
nhân chủ quan mà do cả nguyên nhân khách quan. Hạn chế này ở khâu nào
trong quá trình giảng dạy chính trị? Có thể nói rằng ở tất cả các khâu: Từ
xác định mục tiêu, chương trình giảng dạy đến việc tiến hành biện pháp
chuyển tải tri thức trong giờ lên lớp và phương pháp tiến hành Xêmina
Trong việc xác định mục tiêu môn học là thống nhất nhưng nhiều
lúc chưa thống nhất và quán triệt cụ thể đến từng bài. Mục tiêu của môn
học này là làm cho học sinh nắm được tinh thần nội dung cơ bản của chủ
nghĩa Mác, và đường lối, chính sách của Đảng để có thái độ và hành động
đúng. Thế nhưng việc dạy chính trị hiện nay vẫn chưa quán triệt nguyên tắc
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, thường đi sâu phân tích các khái niệm,
phạm trù, quy luật Làm cho việc dạy lý luận Mác - Lênin trở nên phức
Người giáo viên còn làm tốt vai trò là người truyền dẫn, khơi gợi ý
thức liên hệ giữa các vấn đề lý luận được trang bị với các vấn đề thực tiễn
chính trị - xã hội đặt ra. Nên chăng trong khi dạy, một mặt người giáo viên
cần chú ý xây dùng cho người học hệ thống tri thức lý luận cần thiết, đồng
thời cũng phải chú trọng đến việc chỉ ra ý nghĩa thực tiễn, chú trọng kỹ
năng thực hành, vận dụng kiến thức, phát triển năng lực phát hiện và năng
lực giải quyết những vấn đề của thực tiễn đề ra. Làm như vậy đã kích thích
phát triển nhu cầu tri thức lý luận cho người học, phát huy tính tích cực, tự
giác của người học. Như vậy, giáo viên đã giúp cho học sinh từ không biết
đến biết, từ biết đến biết làm, muốn làm phải tự giác tìm đọc tài liệu để
nắm lấy tri thức mà làm cho tốt.
Hiện nay, số đông học sinh chưa có nhu cầu học chính trị. Họ học
tập môn học này là bắt buộc, nếu không học, không đủ điều kiện thi tốt
nghiệp. Vì thế, họ học cho qua, cố sao đạt được yêu cầu. Trong quan niệm
của họ, môn học này chẳng có Ých mấy cho việc học tập và công tác của
họ sau này.
Cách học của họ hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào bài giảng của
thầy hoặc sách giáo khoa. Học sinh Ýt đặt ra những suy nghĩ mới, họ chủ
yếu học thuộc lòng cốt sao tái hiện đúng, đủ nội dung sách giáo khoa và bài
giảng của thầy. Họ Ýt đề xuất thắc mắc, Ýt lý giải và tìm giải pháp cho
thực tiễn. Chính vì vậy kết quả thi đa số sinh viên đạt điểm trung bình, số
Ýt đạt khá giỏi, và số không nhỏ bị điểm kém.
Việc dạy học chính trị đòi hỏi giáo viên đặc biệt quan tâm tới việc
bồi dưỡng phương pháp cho học sinh. Trước hết, phải hướng dẫn học sinh
tự đọc, tự nghiên cứu để làm giàu tri thức cho mình. Trong khuôn khổ quỹ
thời gian học ở trường THCN thì bình quân ba tiết trên lớp có một tiết tự
nghiên cứu (thực tế thời gian tự học còn Ýt hơn). Vì vậy hướng dẫn học
sinh đọc, nghiên cứu tài liệu đòi hỏi giáo viên phải chuẩn bị chu đáo và chỉ
dẫn thật cụ thể:
Hiện nay, hầu hết ở các trường THCN, số giờ Xêmina được thực
hiện quá Ýt, chất lượng cũng chưa cao, chưa hướng tới việc vận dụng tri
thức lý luận để giải quyết những vấn đề bức xúc của thực tiễn, nặng về tái
hiện tri thức
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục lý luận chính trị, nhất
thiết phải tăng cường các buổi Xêmina có chất lượng. Muốn vậy cần phải
làm tốt các việc sau:
- Tổ chuyên môn phải lựa chọn và đưa ra cho học sinh những đề tài
Xêmina có nội dung phù hợp với thời gian, với vốn hiểu biết lý luận và
thực tiễn của sinh viên.
- Chuẩn bị tiến hành Xêmina phải thật chu đáo. Giáo viên phải
chuẩn bị trước và kỹ lưỡng để hướng dẫn cụ thể học sinh chuẩn bị. Giới
thiệu những tài liệu cần đọc để phục vụ đề tài, đưa ra hệ thống những câu
hỏi, những vấn đề để học sinh suy nghĩ chuẩn bị thực hiện triển khai đề tài.
- Lựa chọn hình thức tổ chức buổi Xêmina thích hợp. Phân công
chuẩn bị để chủ động thực hiện đúng tiến độ và yêu cầu đặt ra của buổi
Xêmina.
- Nghệ thuật hướng dẫn phải nhạy bén linh hoạt khai thác những
điều cần tranh luận từ ngay lời phát của học sinh trong buổi Xêmina, khéo
dẫn dắt thảo luận đi đúng hướng, làm cho buổi Xêmina sôi nổi.
Để nâng cao chất lượng giảng dạy, khắc phục những hạn chế trong
công tác giảng dạy lý luận chính trị nói chung và giảng dạy PBCDV nói
riêng, chúng ta cần phải tiến nội dung và phương pháp chuyển tải tri thức.
2.2. Cải tiến phương pháp nhằm chuyển tải nội dung tri thức
trong "Những nguyên lý và những lý luận của PBCDV"
2.2.1. Trước hết, phải tạo cho học sinh một cái nhìn tổng thể đúng
đắn những nội dung cơ bản của PBCDV, thông qua một sơ đồ tổng quát.
Sau đó chỉ rõ cho học sinh những nội dung học sinh cần phải học (hai
ngôn ngữ khoa học và ngôn ngữ thường ngày nhưng thực ra nội hàm của
chúng vẫn chưa ở trạng thái tường minh trong đầu óc học sinh.
Sau khi bóc tách ra hệ thống các thuật ngữ triết học có trong nội
dung bài học, tức là liệt kê các thuật ngữ, khái niệm, học sinh có nhiệm vụ
chuyển tri thức về nội dung thuật ngữ, khái niệm Êy từ sách giáo khoa sang
vở ghi của riêng mình một cách ngắn gọn hơn.
2.2.3. Trong phạm vi của cụm bài này sau khi liệt kê và xác định
nội hàm của các thuật ngữ khái niệm, học sinh được tiếp tục hướng dẫn tìm
kiếm từ sách giáo khoa và từ thực tiễn cuộc sống xã hội và vốn sống của
mỗi cá nhân, những dẫn chứng minh họa cho các khái niệm triết học vốn
được diễn đạt bằng thuật ngữ triết học.
Ở đây thao tác tư duy của học sinh là từ cụ thể nâng lên trừu tượng
và từ trừu tượng nâng lên một bước cao hơn là cụ thể hóa. Nói cách khác,
theo phép lôgic của nhận thức thì đó là sự kết hợp đi từ riêng đến chung rồi
từ chung đến riêng, kết hợp quy nạp tìm cái chung từ những cái riêng với
diễn dịch tìm cái riêng từ cái chung.
Ở đây cũng sẽ xuất hiện những khó khăn trở ngại yếu kém trong
bản thân, trình độ tư duy của học sinh không chỉ ở bước từ cụ thể nâng lên
trừu tượng mà rõ hơn là ở bước từ trừu tượng nâng lên cụ thể để đạt trình
độ chất lượng mới trong tư duy.
Chính trong quá trình tìm dẫn chứng để minh họa các khái niệm
triết học sẽ đồng thời diễn ra quá trình vận dụng các khái triết học vào cuộc
sống, ta gọi đó là sự hình thành cái nhìn triết học về thực tại, ở đó đang
diễn ra muôn mặt những sự vật hiện tượng của giới tự nhiên của xã hội, của
con người cùng tư duy, tinh thần, tâm lý của con người, sự hình thành cái
K( ) +'
( 1+@
'7!LM; +'
A +1& 0'
giới tự nhiên nhưng cũng lại rất có thể dung tâm siêu hình, duy ý chí khi
suy nghĩ những vấn đề thuộc đời sống xã hội và cá nhân con người từ thực
tiễn hoạt động giao lưu đến tâm lý, tư tưởng. Hơn nữa, ngay khi đề cập đến
những lĩnh vực của giới tự nhiên thì cũng cần lưu ý rằng đó không thể là
giới tự nhiên thuần túy nguyên sơ, hoang dã mà đã có mối liên hệ chặt chẽ
với xã hội, con người, đó là cái tự nhiên được xã hội hóa, nhân văn hóa.
Bảng liệt kê các thuật ngữ (từ) triết học được sử dụng trong bài
"Những nguyên lý, những lý luận của phép biện chứng duy vật".
* Các nguyên lý:
Nguyên lý 1: Mối liên hệ phổ biến của các sự vật và hiện tượng
- Sự vật, hiện tượng (trong tự nhiên, xã hội, tư duy).
- Mối liên hệ, mối liên hệ phổ biến.
Nguyên lý 2: Sự phát triển là khuynh hướng chung của sự vật và
hiện tượng
- Xu hướng, khuynh hướng.
- Vận động, hình thành, tồn tại, biến đổi, biến hóa, chuyển hóa.
- Phát triển.
- Lịch sử cụ thể.
* Các quy luật:
- Phạm trù quy luật.
- Quy luật khoa học, quy luật của tự nhiên, của xã hội, của tư duy.
- Quy luật triết học - quy luật của phép biện chứng duy vật.
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập.
- Mâu thuẫn như là một thuật ngữ của triết học, mâu thuẫn hiểu theo
ngôn ngữ sinh hoạt.
- Mặt đối lập.
- Thống nhất, đồng nhất của các mặt đối lập.
- Đấu tranh của các mặt đối lập.
- Chuyển hóa lẫn nhau, bài trừ nhau của các mặt đối lập.
Học sinh đọc sách giáo khoa tìm ra các thuật ngữ triết học, xác
định nội hàm của các thuật ngữ đó, công việc mà ta quen gọi là định nghĩa
(xác định nghĩa và ý của thuật ngữ) nội dung, nội hàm của các thuật ngữ
này được đề cập ngay trong sách giáo khoa mà sinh viên có trong tay hoặc
trong các loại từ điển. Như là Từ điển Tiếng Việt, Từ điển Hán Việt, Từ điển
Triết học.
* Phương án tổ chức cho sinh viên thực hiện công việc "liệt kê" và
"định nghĩa" các thuật ngữ - khái niệm thuộc bài phép biện chứng duy vật
có thể được xác định như sau:
- Phương án 1: Từng cá nhân học sinh làm việc liệt kê toàn bộ các
thuật ngữ, khái niệm cùng xác định nội hàm của chúng.
- Phương án 2: Chia thành 3 phần để học sinh thực hiện theo nhóm,
mỗi nhóm một phần và để học sinh tự tổ chức công việc của nhóm mình.
- Phương án 3: Mỗi học sinh chỉ thực hiện một trong ba phần việc.
Dù theo phương án nào thì kết quả công việc của cá nhân học sinh
nhóm học sinh cũng phải được trình bày trước lớp dưới hình thức bảo vệ -
phản biện, giáo viên giữ vai trò bổ khuyết, đánh giá và tổng kết.
2.2.6. Xác định rõ nội dũng và ý nghĩa của các nguyên lý và quy
luật của phép biện chứng duy vật. Ở bước này công việc được tiến hành hai
giai đoạn.
2.2.6.1. Giai đoạn 1: Giáo viên yêu cầu học sinh dựa vào sách giáo
khoa tóm lược nội dung và ý nghĩa của từng nguyên lý và từng quy luật,
đưa những tri thức về nội dung và ý nghĩa của các nguyên lý và quy luật
lấp kín các ô trong sơ đồ đồng thời thử phát hiện mối quan hệ giữa hai
nguyên lý với nhau, giữa 3 quy luật với nhau, giữa nguyên lý và quy luật.
2.2.6.2. Giai đoạn 2: Giáo viên thuyết trình, giảng giải nội dung
từng nguyên lý, từng quy luật và mối quan hệ giữa chúng với nhau:
Sơ đồ 2: Mối quan hệ biện chứng giữa
miêu tả "dựng lại" đầy đủ, chân thực, sống động về tình hình học sinh (tức
là về sự vật và hiện tượng). Sau đó bằng tư duy triết học; tức là bằng sự tập
dượt vận dụng những tri thức lý luận của PBCDV, phân tích, mổ xẻ các
hiện tượng Êy qua đó trả lời những câu hỏi đây:
Trong hiện trạng Êy, các nguyên lý và mối liên hệ phố biến về sự
vận động và phát triển, những quy luật mâu thuẫn, lượng - chất, phủ định
của phủ định đã biểu hiện như thế nào? Để cho sự vật, hiện tượng Êy vận
động và phát triển phù hợp với phép biện chứng duy vật thì cần phải làm
những gì trong việc phát triển, xử lý các mâu thuẫn, trong việc thúc đẩy sự
biến đổi từ lượng sang chất và trong việc tạo điều kiện để quá trình phủ
định diễn ra thuận lợi và để cho cái mới ra đời, phủ định cái cũ cùng kế
thừa những kết quả đã đạt được.
Bài tập thực hành nghiên cứu của học sinh sẽ là sự chuẩn bị cho
một Xêmina, bước kết thúc cũng là đỉnh cao của toàn bộ quá trình học tập -
dạy học bài học về PBCDV.
2.3. Kết quả của một số thử nghiệm ban đầu
Với những suy nghĩ, trăn trở trên đây, chúng tôi đã tiến hành thử
nghiệm việc đổi mới nội dung và cách thức chuyển tải tri thức bài học:
"Những nguyên lý, những quy luật cơ bản của PBCDV" ở 4 lớp năm thứ
nhất, năm học 2000 - 2001.
Kết quả thực nghiệm như sau
TT Líp Tổng số học sinh Đạt yêu cầu % Không đạt yêu cầu
1 ĐD 32C 42 32/42 = 76,2 10/42 = 23,8%
2 ĐD 32D 40 33/40 = 82,5% 7/40 = 17,5%
3 ĐD 32E 40 30/40 = 75% 10/40 = 25%
4 NHS20 45 29/45 = 64,4% 16/45 = 35,6%
Nhận xét:
Ưu điểm:
- Nhìn chung các em chuẩn bị bài khá tốt, đủ 100%.
Nếu đem so sánh với điểm kiểm tra 1 tiết (lần 1) của học sinh năm
thứ nhất khóa 31, năm học 1999 - 2000 khi chưa áp dụng phương pháp mới
thì chất lượng bài kiểm tra đã vượt hẳn lên. Hầu như năm trước, không có
học sinh ngay bài kiểm tra đầu tiên đạt loại giỏi, tỷ lệ học sinh đạt loại khá
chỉ từ 4 - 8% mà thôi, trong đó tỷ lệ yếu khá các từ 12 - 37%. Điều đó chứng
tỏ rằng: Việc áp dụng phương pháp giảng dạy mới trong quá trình giảng dạy
PBCDV cho học sinh THYT Hà Nội đã mang lại những kết quả rất khả quan.
C- KẾT LUẬN
1. Ý Nghĩa và nhiệm vụ của việc dạy học phép biện chứng duy vật
trong chương trình chính trị thật to lớn và nặng nề. Song để thực hiện được
nhiệm vụ Êy nhằm đạt được ý nghĩa giáo dục thế giới quan và phương
pháp luận cho học sinh, giáo viên phải đối diện với những khó khăn trở
ngại không nhỏ.
Đó là khó khăn trở ngại trong ý thức và tâm lý người học trước một
thực tế là chính trị vốn là một môn học hết sức trừu tượng, khó hiểu, cách
trình bày diễn đạt của thày chưa khúc triết, dễ hiểu. Điều đó càng tạo ra
những điều kiện khách quan để củng cố ý thức và tâm lý tiêu cực vốn có
trong người học, mặc dầu bản thân người học với lứa tuổi của mình đang
có nhu cầu lý giải có tính chất triết học đối với hiện thực mà ở đó mình
đang hoạt động và quan hệ.
2. Không thụ động và chờ đợi thêm những điều kiện thuận lợi từ
bên ngoài và bên trên, bằng đề tài NCKH này, từ hai bình diện của sự tìm
tòi suy nghĩ lý luận và thể nghiệm qua thực tế bài giảng, tác giả đã trình
bày kết quả qua những gì đã làm được.
Một là: Làm sáng tỏ thêm một bước nội dung của yêu cầu nâng cao
chất lượng học tập những nguyên lý, quy luật của PBCDV.
Hai là: Tìm kiếm một con đường thích hợp hơn để đạt được yêu
cầu nâng cao chất lượng dạy chính trị cho học sinh THCN nói chung và
học sinh THYT Hà Nội nói riêng.
Những kết quả nghiên cứu trên đây, chúng tôi cho rằng mới chỉ là
bước đầu. Do đó, nó chỉ có ý nghĩa khi không ngừng tiếp tục nghiên cứu để
hoàn chỉnh thêm rất nhiều trên cả hai bình diện tìm tòi lý luận, lôgic và thể
nghiệm trong thực tiễn của cả giáo viên và sinh viên.