i
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4. Ý nghĩa khoa học của Luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT -
KINH DOANH CHÈ 5
1.1. Cơ sở khoa học về hiệu quả kinh tế sản xuất - kinh doanh chè 5
1.1.1. Cơ sở lý luận 5
1.1.2. Cơ sở thực tiễn 19
1.2. Phương pháp nghiên cứu 28
1.2.1. Vấn đề nghiên cứu 28
1.2.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể 29
1.2.3. Phương pháp xử lý số liệu 31
1.2.4. Phương pháp phân tích số liệu 31
1.2.5. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 32
Chương 2: THỰC TRẠNG SẢN XUẤT - KINH DOANH CHÈ TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN 33
2.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 33
2.1.1. Điều kiện tự nhiên 33
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 37
2.1.3. Đánh giá thuận lợi và khó khăn trong quá trình sản xuất - kinh doanh
chè tại Thài phố Thái Nguyên 41
2.2. Thực trạng sản xuất, chế biến, tiêu thụ chè tại Thành phố Thái Nguyên 43
iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Giải nghĩa
ADB
Asian Development Bank: Ngân hàng phát triển Châu Á
AFD
Agence Française de Développement: Cơ quan phát triển
Pháp
ASEAN
Association of Southeast Asian Nations): Hiệp hội các
nước Đông Nam Á
BQ
Bình quân
BVTV
Bảo vệ thực vật
EU
European Union - Liên minh Châu Âu
FAO
Food and Agriculture Organization = Tổ chức Lương
thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc
GDP
Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm nội địa
GO
Gross Output - Tổng giá trị sản xuất
HACCP
Hazard Analysis Critical Control Point - phân tích mối
nguy và điểm kiểm soát tới hạn
Trang
Bảng 1.1
Diện tích, năng suất, sản lượng chè trên địa bàn tỉnh
Thái Nguyên giai đoạn 2006 - 2010
24
Bảng 1.2
Kim ngạch xuất khẩu chè Thái Nguyên các năm 2006 -
2010
25
Bảng 2.1
Diện tích trồng mới, trồng lại chè trên địa bàn thành
phố giai đoạn 2006 - 2010
44
Bảng 2.2
Cơ cấu giống chè trồng mới và trồng lại trên địa bàn
Thành phố giai đoạn 2006 - 2010
46
Bảng 2.3
Diện tích, năng suất, sản lượng chè trên địa bàn TP giai
đoạn 2006 - 2010
47
Bảng 2.4
Tổng hợp đặc điểm chung của các hộ nghiên cứu
48
Bảng 2.5
Đặc điểm diện tích đất trồng chè của các hộ nghiên cứu
50
Bảng 2.6
Cơ cấu diện tích đất trồng chè của các hộ nghiên cứu
51
70
Bảng 2.15
Kết quả hồi quy chè Trung du
71
Bảng 2.16
Phân tích phương sai - ANOVA của chè Trung du
71
Bảng 2.17
Hệ số hồi quy trong mô hình chè Trung du
72
Bảng 2.18
Hệ số tương quan giữa thu nhập và biến độc lập chè
cành
75
Bảng 2.19
Kết quả hồi quy chè cành
75
Bảng 2.20
Phân tích phương sai - ANOVA chè cành
76
Bảng 2.21
Hệ số hồi quy trong mô hình chè cành
76
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đối với Thành phố Thái Nguyên, cây chè khẳng định là cây trồng chính
trong chiến lược chuyển dịch cơ cấu cây trồng. Trong những năm qua, Thành
phố đã xây dựng và triển khai các chính sách, các chương trình, đề án, dự án
nhằm nâng cao giá trị sản xuất cây chè - cây đặc sản thế mạnh của địa phương.
Giai đoạn 2006 - 2010, diện tích chè toàn thành phố liên tục được mở rộng, đến
năm 2010 diện tích chè toàn thành phố là 1.302,9 ha tăng 1,18 lần so với năm
2006, đã hình thành vùng chuyên canh chè ở các xã trọng điểm như: Tân Cương,
Phúc Xuân, Phúc Trìu, Quyết Thắng [UBND TPTN, 2011]. Cùng với việc mở
rộng diện tích, thành phố cũng đã có những chính sách khuyến khích các tổ
chức, doanh nghiệp tham gia khâu chế biến, tiêu thụ sản phẩm, đồng thời có
những chính sách hỗ trợ trực tiếp cho nông dân về giống, vốn, khoa học kỹ
thuật…
Tuy nhiên, ngành chè của tỉnh Thái Nguyên nói chung và của Thành phố
Thái Nguyên nói riêng vẫn còn gặp nhiều khó khăn, giá trị sản xuất của cây chè
chưa tương xứng với tiềm năng. Vậy, để nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh doanh
thì người trồng chè cần chú trọng những vấn đề gì trong tất cả các khâu sản xuất,
chế biến và tiêu thụ chè vẫn là vấn đề thời sự và cấp bách khi tiếp cận và mở
rộng thị trường mới cũng như là nâng cao giá trị xuất khẩu. Chính vì vậy, chúng
tôi lựa chọn đề tài “Nghiên cứu hiệu quả sản xuất - kinh doanh chè tại Thành
phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên”. 3
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất - kinh doanh chè nhằm đưa ra những
khuyến nghị cho người trồng chè có sự lựa chọn đúng đắn phương hướng sản
xuất - kinh doanh chè đạt hiệu quả cao hơn. Bên cạnh đó, đề tài nhằm đưa ra
những cơ sở khoa học đóng góp vào việc hoạch định các chính sách và chiến
lược phát triển cây chè đảm bảo phát huy tối đa các lợi thế của vùng trong sản
các huyện, các địa phương khác trên địa bàn tỉnh có định hướng phát triển sản
xuất - kinh doanh chè đạt hiệu quả cao, góp phần bảo vệ và phát triển thương
hiệu chè Thái Nguyên, không ngừng nâng cao mức sống của người trồng chè.
5. Bố cục Luận văn
Bố cục của Luận văn gồm
Mở đầu
Chương 1: Cơ sở khoa học về hiệu quả kinh tế sản xuất - kinh doanh chè
Chương 2: Thực trạng về sản xuất - kinh doanh chè tại Thành phố Thái
Nguyên
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh
doanh chè trên địa bàn Thành phố Thái Nguyên
Kết luận và kiến nghị 5
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ
SẢN XUẤT - KINH DOANH CHÈ
1.1. Cơ sở khoa học về hiệu quả kinh tế sản xuất - kinh doanh chè
1.1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1.1. Lịch sử cây chè tại Việt Nam
Về nguồn gốc cây Chè Việt Nam
Theo thư tịch cổ Việt Nam, cây chè đã có từ xa xưa dưới 2 dạng: cây chè
vườn hộ gia đình vùng châu thổ Sông Hồng và cây chè rừng ở miền núi phía bắc.
Cây chè Suối Giàng trong sách "Vân Đài loại ngữ" [Lê Quý Đôn, 1773] có
ghi trong mục IX, Phẩm vật như sau: " Cây chè đã có ở mấy ngọn núi Am
Tóm lại, đến nay các nhà khoa học thế giới đã xác nhận: Cây chè xuất hiện
đầu tiên từ một vùng sinh thái hình cái quạt, giữa các ngọn đồi Naga, Manipuri
và Lushai, dọc theo đường biên giới giữa Assam và Mianma ở phía Tây, ngang
qua Trung Quốc ở phía Đông, và theo hướng Nam chạy qua các ngọn đồi của
Mianma và Thái Lan vào Việt Nam, trục Tây Đông từ kinh độ 95
o
đến 120
o
Đông, trục Bắc Nam từ vĩ độ 29
o
đến 11
o
Bắc.
Sự phát triển của cây Chè Việt Nam
Thời kỳ trước năm 1882: Từ xa xưa, người Việt Nam trồng chè dưới 2 loại
hình: Chè vườn hộ gia đình uống lá chè tươi, tại vùng chè đồng bằng sông Hồng
ở Hà Đông, chè đồi ở Nghệ An. Chè rừng vùng núi, uống chè mạn, lên men một
nửa, như vùng Hà Giang, Bắc Hà 7
Thời kỳ 1882-1945: Ngoài 2 loại chè trên, xuất hiện mới 2 loại chè công
nghiệp; chè đen công nghệ truyền thống OTD và chè xanh sao chảo Trung Quốc.
Bắt đầu phát triển những đồn điền chè lớn tư bản Pháp với thiết bị công nghệ
hiện đại. Người dân Việt Nam, sản xuất chè xanh tại hộ gia đình và tiểu doanh
điền. Chè đen xuất khẩu sang thị trường Tây Âu, chè xanh sang thị trường Bắc
Phi là chủ yếu. Diện tích chè cả nước là 13305 ha, sản lượng 6.000 tấn chè
khô/năm.
Thời kỳ độc lập (1945- nay): Sau năm 1954, Nhà nước xây dựng các Nông
- Caféin và một số hợp chất ancaloit khác có trong chè là những chất có
khả năng kích thích hệ thần kinh trung ương, kích thích vỏ đại não làm cho tinh
thần minh mẫn, tăng cường sự hoạt động của các cơ trong cơ thể, nâng cao năng
lực làm việc, giảm bớt mệt nhọc sau những lúc làm việc căng thẳng.
- Hỗn hợp tanin chè có khả năng giải khát, chữa một số bệnh đường ruột
như tả, lỵ, thương hàn. Nhiều thầy thuốc còn dùng nước chè, đặc biệt là chè xanh
để chữa bệnh sỏi thận, sỏi bàng quang và chảy máu dạ dày. Theo xác nhận của
M.N. Zaprometop thì hiện nay chưa tìm ra được chất nào lại có tác dụng làm
vững chắc các mao mạch tốt như catechin của chè. Dựa vào số liệu của Viện
nghiên cứu Y học Leningrat (Liên bang Nga), khi điều trị các bệnh cao huyết áp
và neprit mạch thì hiệu quả thu được có triển vọng rất tốt, nếu như người bệnh
được dùng catechin chè theo liều lượng 150mg trong một ngày. E.K.
Mgaloblisvili và các cộng tác viên đã xác định ảnh hưởng tích cực của nước chè
xanh tới tình trạng chức năng của hệ thống tim mạch, sự cản các mao mạch, trao
đổi muối - nước, tình trạng của chức năng hô hấp ngoại vi, sự trao đổi vitamin C,
trạng thái chức năng của hệ thống điều tiết máu.v.v
- Chè còn chứa nhiều loại vitamin như vitamin A, B1, B2, B6, vitamin PP
và nhiều nhất là vitamin C. 9
- Một giá trị đặc biệt của chè được phát hiện gần đây là tác dụng chống
phóng xạ. Điều này đã được các nhà khoa học Nhật Bản thông báo qua việc
chứng minh chè có tác dụng chống được chất Stronti (Sr) 90 là một đồng vị
phóng xạ rất nguy hiểm. Qua việc quan sát thống kê nhận thấy nhân dân ở một
vùng ngoại thành Hirôsima có trồng nhiều chè, thường xuyên uống nước chè, vì
vậy rất ít bị nhiễm phóng xạ hơn các vùng chung quanh không có chè. Các tiến
sĩ Teidzi Ugai và Eisi Gaiasi (Nhật Bản) đã tiến hành các thí nghiệm trên chuột
bạch cho thấy với 2% dung dịch tanin chè cho uống sẽ tách ra được từ cơ thể
90% chất đồng vị phóng xạ Sr - 90.
công nghiệp chế biến chè hiện đại ngay ở những vùng đó, do đó làm cho việc
phân bố công nghiệp được đồng đều và làm cho vùng trung du và miền núi mau
chóng đuổi kịp miền xuôi về kinh tế và văn hóa.
1.1.1.3. Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế chung nhất, có liên quan trực tiếp
đến nền sản xuất hàng hóa và tất cả các phạm trù, các quy luật kinh tế khác.
Hiệu quả kinh tế được biểu hiện ở mức đặc trưng quan hệ so sánh giữa
lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra.
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế, phản ánh về mặt chất lượng của
các hoạt động sản xuất - kinh doanh. Trong khi các nguồn lực sản xuất có hạn,
nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ của xã hội ngày càng gia tăng và đa dạng thì
nâng cao hiệu quả kinh tế là một xu thế khách quan và bức xúc của sản xuất xã
hội. 11
Bản chất của hiệu quả xuất phát từ mục đích của sản xuất và sự phát triển
kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, đó là thỏa mãn ngày càng cao (tăng số lượng
và chất lượng) về nhu cầu vật chất xã hội. Đánh giá kết quả sản xuất là đánh giá
về mặt số lượng còn đánh giá hiệu quả của sản xuất là xem xét tới mặt chất
lượng của quá trình sản xuất đó.
- Quan điểm về hiệu quả kinh tế :
+ Theo C. Mác, hiệu quả kinh tế là tiết kiệm và phân phối một cách hợp
lý thời gian lao động sống và lao động vật hóa giữa các ngành. Đó chính là quy
luật “tiết kiệm và tăng năng suất lao động” [Lê Thái Bạt, 1996] hay là hiệu quả.
Ông cho rằng “nâng cao năng suất lao động là cơ sở của hết thảy mọi xã hội”
[David Begg, 1992] và sự tăng lên của sức sản xuất hay mức lao động.
+ David Begg còn cho rằng “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không
thể tăng một loại hàng hóa mà không cắt giảm sản lượng của một hàng hóa khác.
Một nền kinh tế có hiệu quả, một doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì các điểm
1996].
+ Hiệu quả kinh tế phải lượng hóa được cụ thể việc sử dụng các yếu tố đầu
vào (chi phí) và các yếu tố đầu ra (kết quả) trong quá trình sản xuất ở từng đơn
vị, ngành, nền sản xuất xã hội trong từng thời kỳ nhất định các doanh nghiệp với
mục đích là tiết kiệm, lợi nhuận tối đa trên cơ sở khối lượng sản phẩm hàng hóa
nhiều nhất với các chi phí tài nguyên và lao động thấp nhất. Do đó, hiệu quả kinh
tế liên quan trực tiếp đến yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra của quá trình sản xuất.
Tuy nhiên, việc lượng hóa cụ thể các yếu tố này để xác định hiệu quả kinh tế là
vấn đề gặp nhiều khó khăn (đặc biệt là trong sản xuất nông, lâm nghiệp). 13
Tóm lại, bản chất của hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh
doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình
độ sử dụng các nguồn lực (Vốn, lao động, đất đai…) để đạt được mục tiêu cuối
cùng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh - mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
- Phân loại hiệu quả kinh tế
Mọi hoạt động sản xuất của con người và quá trình ứng dụng kỹ thuật tiến
bộ vào sản xuất đều có mục đích chủ yếu là kinh tế. Kết quả của các hoạt động
đó không chỉ duy nhất đạt được về mặt kinh tế mà đồng thời tạo ra nhiều kết quả
liên quan tới đời sống kinh tế - xã hội của con người. Những kết quả đó là: cải
thiện điều kiện sống và làm việc, cải tạo môi trường, môi sinh, nâng cao đời sống
tinh thần và văn hóa cho nhân dân, tức là đạt được hiệu quả xã hội.
+ Căn cứ vào yêu cầu tổ chức và quản lý kinh tế các cấp, các ngành
[Đảng Cộng sản Việt Nam, 2004], hiệu quả phân chia thành: Hiệu quả kinh tế
quốc dân, hiệu quả kinh tế vùng lãnh thổ, hiệu quả kinh tế của khu vực sản xuất
và vật chất, chi phí vật chất và hiệu quả kinh tế xí nghiệp, doanh nghiệp.
+ Nếu căn cứ theo các yếu tố cơ bản của sản xuất và phương hướng tác
động vào sản xuất thì hiệu quả kinh tế bao gồm: Hiệu quả sử dụng lao động và
các yếu tố tài nguyên như đất đai, năng lượng…, hiệu quả sử dụng vốn, máy móc
bình quân thích hợp nhất cho chè là từ 15 - 25
o
C, tổng nhiệt độ hàng năm
8.000
o
C. Độ nhiệt tối thấp tuyệt đối mà cây có thể chịu đựng được thay đổi tùy
theo giống, có thể từ -5
o
C đến -25
o
C hoặc thấp hơn. Độ nhiệt quá thấp hoặc quá
cao đều giảm thấp việc tích lũy tanin. Độ nhiệt là một trong những nhân tố chủ 15
yếu chi phối sự sinh trưởng của búp và quyết định thời gian thu hoạch búp trong
chu kỳ một năm.
Về điều kiện độ ẩm trong đất và không khí: Chè là loại cây ưa ẩm, là cây
thu hoạch búp, lá non, nên càng cần nhiều nước và vấn đề cung cấp nước cho
quá trình sinh trưởng của cây chè lại càng quan trọng hơn. Nước có ảnh hưởng
lớn đến sinh trưởng và phẩm chất chè. Khi cung cấp đủ nước, cây chè sinh
trưởng tốt, lá to mềm, búp non và phẩm chất có xu hướng tăng lên. Lượng mưa
và phân bố lượng mưa của một nơi có quan hệ trực tiếp tới thời gian sinh trưởng
và mùa thu hoạch chè dài hay ngắn, do đó ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng cao
hay thấp.
+ Điều kiện đất đai: Chè yêu cầu về đất không nghiêm khắc lắm, nhưng để
cây chè sinh trưởng tốt, năng suất cao và ổn định thì đất trồng chè phải đạt
những yêu cầu sau: tốt, nhiều mùn, sâu, chua và thoát nước. Độ pH thích hợp
cho chè phát triển là 4,5 - 6,0. Đất trồng phải có độ sâu ít nhất là 80cm, mực
nước ngầm phải dưới 1 mét thì hệ rễ mới phát triển bình thường.
nghệ: diệt men→ sấy nhẹ hoặc không sấy nhẹ→ vò→ làm tơi chè vò→ sấy hoặc
sao khô và phân loại.
Chè đỏ là loại chè trung gian giữa chè đen và chè xanh, có đặc tính gần
với chè đen hơn. Sản phẩm thu được sau khi chế biến chè tươi theo sơ đồ công
nghệ: làm héo và lên men kết hợp cùng một lúc (khi làm héo có định kỳ, lắc nhẹ,
làm dập tế bào để khi tiếp tục làm héo thì phần lá bị dập được lên men) sau đó
diệt men, vò, sấy khô và phân loại. 17
Chè vàng thuộc loại chè trung gian giữa chè xanh và chè đen có đặc tính
gần với chè xanh hơn. Sản phẩm thu được sau khi chế biến chè tươi theo sơ đồ
công nghệ: làm héo→ diệt men→ vò phơi nắng hoặc sấy sơ bộ→ ủ nóng→ sấy
khô→ giữ nhiệt chè bán thành phẩm và phân loại.
c) Nhóm nhân tố về điều kiện xã hội
Thị trường và giá cả: Thị trường và giá cả tác động đến việc ra quyết định
của doanh nghiệp, nông trại hay nông hộ. Việc ra quyết định của nhà doanh
nghiệp nông nghiệp phần lớn dựa theo các tín hiệu thị trường được phản ánh qua
cơ chế giá và các nguyên tắc lý thuyết biên, còn việc ra quyết định của nông hộ
vừa tuân theo tín hiệu thị trường lại vừa phản ánh mục đích kinh tế xã hội và
nhân văn của nông hộ [Phạm Vân Đình, 1997]. Thị trường chè bao gồm thị
trường nội tiêu và thị trường xuất khẩu, cả hai thị trường này đều phản ánh hoạt
động mua bán, trao đổi giữa người mua và người bán. Giá cả quyết định đến việc
cung và cầu sản phẩm chè. Khi giá cao người sản xuất có xu hướng cung nhiều
hơn ra thị trường, nhưng cầu của người mua giảm và ngược lại. Tuy nhiên, một
thực tế hiển nhiên là nông sản, hay sản phẩm chè có hạn sử dụng, bảo quản ngắn
do đó, có thời điểm người bán phải chấp nhận giao dịch ở mức giá do người mua
áp đặt.
Lao động: Lao động là yếu tố cần thiết của mọi quá trình sản xuất. Không
có lao động thì không có các hoạt động nông nghiệp [Phạm Vân Đình, 1997].
thuật, các hoạt động xúc tiến thương mại. Chính sách “bốn nhà” gồm Nhà nước,
nhà khoa học, doanh nghiệp và nhà nông đã đem lại những hiệu quả cho ngành 19
chè, do có sự hỗ trợ và điều tiết ở các khâu sản xuất - chế biến và tiêu thụ chè.
Có thể nói, chính sách của Nhà nước và của chính quyền các cấp đã hỗ trợ tích
cực cho hoạt động của ngành chè, đem lại hiệu quả cả về kinh tế - xã hội giúp
cho ngành chè tiếp tục phát triển bền vững trong giai đoạn tới.
1.1.2. Cơ sở thực tiễn
1.1.2.1. Tình hình sản xuất - kinh doanh chè trên thế giới
Ngày nay trên thế giới có khoảng 40 nước trồng chè. Chè được trồng tập
trung nhiều nhất ở châu Á, sau đó đến châu Phi. Trong đó, có một số nước có
diện tích và sản lượng chè lớn, có ưu thế và truyền thống trong nghề trồng chè
như:
Trung Quốc: Nghề trồng chè của Trung Quốc đã có một lịch sử lâu đời.
Ngườ i Trung Quố c uố ng trà đã có hơn 4 nghìn năm lịch sử , trong sinh hoạt hằ ng
ngày của người T rung Quốc không thể thiế u mộ t loạ i nướ c giả i khá t đó là trà , trà
đượ c liệ t và o mộ t trong 7 thứ quan trọ ng trong cuộ c số ng . Chè được trồng chủ
yếu ở 15 tỉnh: Chiết Giang, An Huy, Hồ Nam, Đài Loan, Tứ Xuyên, Vân Nam,
Phúc Kiến, Hồ Bắc, Giang Tây, Quý Châu, Quảng Đông, Quảng Tây,Giang Tô,
Thiểm Tây, Hà Nam. Trung Quốc là nước có sản lượng chè cao nhất thế giới, có
khoảng 70% sản lượng phục vụ cho nhu cầu trong nước, còn lại là xuất khẩu.
Trung Quốc có rất nhiều giống chè, trong đó chủ yếu là giống chè Trung Quốc lá
to và lá trung bình.
Ấn Độ: Ấn Độ bắt đầu trồng chè vào khoảng từ năm 1834 - 1840. Đặc
điểm sản xuất chè của Ấn Độ là trồng tập trung, giống chè lá to, trồng cây bóng
râm cho chè và áp dụng phương pháp hái chừa nhiều lá. Do điều kiện khí hậu
thích hợp, những năm gần đây, Ấn Độ đã đứng đầu thế giới về sản xuất và xuất
những cây có ưu thế nhất cả về điều kiện khí hậu và nguồn lực lao động.
Việt Nam có một quỹ đất dồi dào và điều kiện khí hậu phù hợp để cây chè
phát triển. Khắp nơi trên cả nước, đâu đâu cũng có thể trồng chè từ trung du,
đồng bằng đến vùng núi cao quanh năm mây mù bao phủ. Ở miền Nam, chè
được trồng chủ yếu ở hai tỉnh Lâm Đồng và Gia Lai, ở miền Bắc là các tỉnh:
Thái Nguyên, Phú Thọ, Tuyên Quang, Sơn La, Hà Giang, Yên Bái, Lào Cai
Việt Nam là quốc gia sản xuất và xuất khẩu chè lớn thứ 5 thế giới chỉ sau Ấn Độ,
Trung Quốc, Kenya, Sri Lanka và ngang hàng với Indonesia.
Trong nhiều năm qua, ngành chè Việt Nam đã nỗ lực trong công tác giống
nhằm nâng cao năng suất, sản lượng chè, từ 40 nghìn tấn (năm 1994) lên đến
160.000 tấn (năm 2008) và vươn lên đứng thứ 5 trên thế giới về diện tích và sản
lượng chè. Năm 2008, khối lượng chè xuất khẩu của Việt Nam đạt 104.000 tấn,
trị giá đạt 147 triệu USD. Pakistan, Đài Loan, Nga là những thị trường lớn nhập
khẩu nhiều chè Việt Nam.
Kể từ năm 2004, ngành chè Việt Nam thực hiện đề án đầu tư xây dựng
thương hiệu cho ngành chè. Cũng từ đây đánh dấu bước chuyển mình mới của
ngành chè, trong đó có sự chung tay của Hiệp hội Chè Việt Nam (Vitas) và các
doanh nghiệp chè trong nước. Ngoài thương hiệu riêng của mỗi doanh nghiệp
sản xuất, xuất khẩu, thương hiệu chè Việt Nam phải hội đủ các tiêu chuẩn của
chè cả nước: vùng nguyên liệu, chất lượng giống, quy trình và công nghệ chế
biến, mẫu mã đẹp, giá cả hợp lý. Để có được cây chè cho chất lượng cao trước
hết phải kể đến giống. Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phía
Bắc đã có những đóng góp không nhỏ vào công tác giống. Hiện Viện đã có một
vườn ươm với 173 giống chè với 40% giống trong nước và 60% giống nhập nội.