Uỷ ban dân số, gia đình và trẻ em - Bộ quốc phòng
học viện quân y báo cáo kết quả
đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ
Đánh giá nhu cầu của cộng đồng và khả năng
đáp ứng của Trung tâm T vấn Dịch vụ Dân số,
Gia Đình và Trẻ em cấp tỉnh/thành phố
Chủ nhiệm đề tài: TS Hoàng Văn Lơng
Đồng chủ nhiệm: PGS.TS Phạm Bá Nhất 5689
15/02/2006
Hà Nội - 2005
Uỷ ban dân số, gia đình và trẻ em - Bộ quốc phòng
học viện quân y
báo cáo kết quả
đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ Đánh giá nhu cầu của cộng đồng và
khả năng đáp ứng của Trung tâm T vấn Dịch vụ Dân
Mục lục
Trang
Đặt vấn đề
1
Chng 1. Tổng quan tài liệu
4
1.1. Tỡnh hỡnh thc hin chớnh sỏch DS-KHHG Vit Nam
4
1.2. Mt s khỏi nim v tip cn lý lun v dõn s, gia ỡnh v tr em
8
1.3. S phỏt trin h thng dch v KHHG Vit Nam
12
1.3.1- Kờnh cung ng dch v KHHG lõm sng
12
1.3.2 - Kờnh phõn phi da vo cng ng (CBD)
13
1.3.3 - Kờnh tip th xó hi phng tin trỏnh thai
14
1.4. Tỡnh hỡnh nghiờn cu trong nc v d
ch v dõn s, gia ỡnh v
tr em
15
51
3.4.1. Thiếu cơ sở và căn cứ pháp lý
51
3.4.2. Một số chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của trung tâm còn
cha phù hợp và còn chồng chéo với một số ngành khác, nhất là
ngành y tế
53
3.4.3. Nguồn nhân lực của Trung tâm cha đáp ứng đợc nhu cầu
nhiệm vụ.
56
Kết luận
58
Kiến nghị
60
tài liệu tham khảo
61
Phụ lục
65
Đặt vấn đề
Công tác Dân số Kế hoạch hoá gia đình (DS-KHHGĐ) và công tác
Từ cuối năm 2001 đến nay, thực hiện thông t liên tịch số 32/TTLT
nói trên, nhiều tỉnh/thành phố đã thành lập Trung tâm t vấn dịch vụ DS,
GĐ & TE và đã đi vào hoạt động. Một số tỉnh đã triển khai sớm, chủ động
bố trí cán bộ, chuẩn bị cơ sở vật chất, trang thiết bị và triển khai hoạt động
đạt một số kết quả bớc đầu cả về t vấn và dịch vụ chuyên môn về DS,
GĐ & TE.
Sau khi Uỷ Ban Dân số, Gia đình và Trẻ em đợc thành lập ở Trung
ơng, hệ thống DS, GĐ & TE từ Trung ơng đến cơ sở đợc tăng cờng và
củng cố thêm một bớc, tác động đến việc kiện toàn Uỷ ban Dân số, Gia
đình và Trẻ em ở các địa phơng, trong đó có các đơn vị sự nghiệp trực
thuộc Uỷ ban DS, GĐ & TE cấp tỉnh/ thành phố. Theo báo cáo của các
tỉnh năm 2002 2003, kết quả hoạt động của Trung tâm t vấn dịch vụ
DS, GĐ & TE đã đạt đợc kết quả bớc đầu đáng khích lệ, đáp ứng một
phần nhu cầu t vấn và dịch vụ về DS, GĐ & TE của cộng đồng.
Tuy nhiên, mô hình tổ chức và hoạt động của Trung tâm này ở các
địa phơng cha thống nhất, việc đầu t xây dựng cơ sở vật chất và trang
thiết bị còn nhiều hạn chế. Chức năng nhiệm vụ t vấn và cung cấp dịch
vụ về lĩnh vực DS,GĐ&TE cha đợc hớng dẫn, quy định rõ ràng; kỹ
năng thực hiện và triển khai các hoạt động t vấn và cung cấp dịch vụ về
lĩnh vực DS,GĐ&TE còn quá mới mẻ, cha đợc hớng dẫn và thiếu kinh
nghiệm triển khai về vấn đề này. Đến năm 2004 2005, trong khuôn khổ
các chơng trình phối hợp giữa Uỷ ban DS,GĐ&TE Trung ơng với các
bộ, ngành, đoàn thể ở Trung ơng, vấn đề cung cấp dịch vụ gia đình đối
với ngành DS,GĐ&TE mới đ
ợc đặt ra để định hớng cho các khảo sát
đánh giá và triển khai thí điểm mô hình tại một số tỉnh nh Hng Yên
Hiện nay vẫn cha có một nghiên cứu đánh giá đầy đủ về nhu cầu của
cộng đồng và khả năng hoạt động cung cấp các nội dung t vấn và dịch vụ
2
Chương 1
tæng quan tµi liÖu
1.1. Tình hình thực hiện chính sách DS, GĐ và TE ở Việt Nam:
Do sớm nhận thức được vị trí và tầm quan trọng của công tác dân số và
kế hoạch hoá gia đình (DS-KHHGĐ) đối với sự phát triển kinh tế xã hội của
đất nước và nâng cao đời sống nhân dân, ngay từ những năm đầu của thập kỷ
60 Đảng và Nhà nước ta đã đề ra chủ trương, chính sách DS-KHHGĐ. Sau 31
năm thực hi
ện công tác này, chúng ta đã đạt được những kết quả nhất định
nhưng vẫn còn rất thấp so với yêu cầu, chưa kiểm soát được tốc độ gia tăng
dân số quá nhanh. Năm 1992, tỷ lệ sinh vẫn còn cao tới 30,04%
0, dân số Việt
nam đã lên đến 70 triệu người, tỷ lệ phát triển dân số hàng năm vẫn trên 2%,
bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có gần 4 con. Nếu vẫn duy trì tốc
độ này thì cứ khoảng 30 năm một lần dân số Việt Nam sẽ tăng gấp đôi.
Nhận thức rõ "sự gia tăng dân số quá nhanh là một trong những
nguyên nhân quan trọng cản trở tốc độ phát triển kinh tế
- xã hội, gây khó
khăn lớn cho việc cải thiện đời sống, hạn chế điều kiện phát triển về mặt trí
tuệ, văn hoá và thể lực của giống nòi", "nếu xu hướng này cứ tiếp tục diễn ra
thì trong một tương lai không xa đất nước ta sẽ đứng trước những khó khăn
rất lớn, thậm chí những nguy cơ về nhiều mặt", và "làm tốt công tác kế ho
ạch
hoá gia đình, thực hiện gia đình ít con, giảm nhanh tỷ lệ phát triển dân số,
tiến tới ổn định quy mô dân số là vấn đề rất quan trọng và bức xúc đối với
nước ta", ngày 14 tháng 01 năm 1993, Hội nghị lần thứ 4 ban chấp hành
Trung ương Đảng khoá VII đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/HNTW về
chính sách DS-KHHGĐ (sau đây gọi tắt là NQTW4 khoá VII) với quyết tâm
giải quyết cơ bản về v
ấn đề quy mô dân số ở nước ta.
ố lượng lớn, nội dung phong phú, hình thức đa dạng, chất lượng được
nâng cao. Tuy chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu nhưng bình quân mỗi hộ
gia đình đã có ít nhất một sản phẩm truyền thông về DS-KHHGĐ.
5
Công tác giáo dục dân số đã được đưa vào trong hệ thống các trường
phổ thông, trường đại học và trung học chuyên nghiệp trong các môn học về
đạo đức công dân, sinh học, địa lý, tâm lý giáo dục
Đại bộ phận các ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội đã tích cực tham gia
vào công tác DS-KHHGĐ và coi đó là một trong những nhiệm vụ của mình.
Các mô hình truyền thông dân số được xây dựng và triển khai dựa trên thế
mạnh củ
a mỗi ngành, đoàn thể và đảm bảo tiếp cận phù hợp với từng nhóm
đối tượng như: Phụ nữ không sinh con thứ ba và giúp nhau làm kinh tế, các
chức sắc tôn giáo tham gia công tác DS-KHHGĐ, nam nông dân thực hiện
KHHGĐ, câu lạc bộ gia đình trẻ và câu lạc bộ tiền hôn nhân. Các mô hình
này đã tác động đến sự chuyển đổi nhận thức của đối tượng, làm thay đổi
hành vi và chấp nhận sử dụng các biện pháp tránh thai (BPTT) và thực hi
ện
quy mô gia đình ít con.
Các hoạt động truyền thông được tiến hành đồng bộ từ Trung ương đến
tận thôn, xóm, bản làng và được đầu tư ngân sách ngày càng tăng cả về nguồn
lực và tỷ trọng kinh phí trong Chương trình quốc gia.
Tuy nhiên, công tác thông tin - giáo dục - tuyên truyền về dân số chưa
đi vào chiều sâu. Sản phẩm truyền thông chưa phù hợp với đặc thù của từng
vùng lãnh thổ và đồng bào các dân tộc ít người, với các đố
i tượng có trình độ
thấp; chưa đáp ứng đủ nhu cầu thông tin đối với các vùng sâu, vùng xa; chưa
chú ý thích đáng tới xây dựng và củng cố các mô hình truyền thông ở tuyến
cơ sở. Việc phân phối và cung cấp tài liệu chưa được kịp thời và đầy đủ.
khuyến khích tham gia cung cấp dị
ch vụ KHHGĐ cho các đối tượng có nhu
cầu.
Thay cho chương trình "một biện pháp" (đặt vòng), chủ trương đa dạng
hoá các BPTT được triển khai nhanh chóng đáp ứng nhu cầu của người dân.
Cùng với việc làm tốt công tác tuyên truyền vận động, đẩy mạnh xây dựng cơ
sở vật chất, cung cấp trang thiết bị Y tế và đào tạo cán bộ kỹ thụât KHHGĐ
cho các cơ sở y tế Nhà nước, m
ở rộng và đa dạng hoá các kênh cung cấp dịch
vụ KHHGĐ, đáp ứng yêu cầu cung cấp dịch vụ đa dạng, an toàn, thuận tiện
đã tạo điều kiện tăng nhanh số người áp dụng BPTT.
7
Tuy nhiên, ở một số nơi thuộc khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa
dịch vụ KHHGĐ chưa đáp ứng được yêu cầu thuận tiện, kịp thời, an toàn và
đa dạng; chất lượng dịch vụ KHHGĐ chưa cao; chưa có mô hình cung cấp
dịch vụ KHHGĐ có hiệu quả đối với khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa,
hải đảo và các vùng có nhiều người di cư từ nông thôn tới; tiếp thị xã hộ
i các
PTTT vẫn còn nhiều khó khăn trở ngại. Công tác tư vấn còn yếu, dịch vụ tư
vấn chưa được chú ý đúng mức, tỷ lệ nạo phá thai còn cao, đặc biệt là thời kỳ
trước năm 2000.
1.2. Một số khái niệm và tiếp cận lý luận về dân số, gia đình và trẻ em:
Dân số: Theo nghĩa đơn giản, dân số là số lượng người sống tại một
đị
a phương, một vùng lãnh thổ, một quốc gia nhất định trong một thời gian
xác định.
Trong dân số học, dân số được hiểu là: Một tập hợp người sinh sống
trong một địa phương, vùng lãnh thổ hay một quốc gia. Tập hợp người đó thể
hiện về mặt số lượng, về cơ cấu: tuổi, giới tính, nghề nghiệp, dân tộc, tôn
Gia đình: Là tập hợp những người có quan hệ hôn nhân và huyết thống
sống cùng trong một nhà.
Quy mô gia đình: Là số người có quan hệ ruột thịt sống với nhau và có
quỹ thu chi chung. Xét theo số con của mỗi cặp vợ chồng, có quy mô gia đình
nhỏ
, ít con (1 đến 2 con) quy mô gia đình nhiều con, quy mô gia đình lớn (3
con trở lên). Có hai loại gia đình: Gia đình truyền thống (có nhiều thế hệ cùng
chung sống) và gia đình hạt nhân (có 2 thế hệ).
Kế hoạch hoá gia đình: Là việc điều chỉnh số con sinh ra trong nội bộ
gia đình (nghĩa hẹp). Thông qua những quyết định tự nguyện của cặp vợ
chồng trong việc lựa chọn quy mô gia đình (chủ yế
u là số con) và các khả
năng thực hiện các quyết định ấy. Ở một số nước KHHGĐ hoặc chương trình
KHHGĐ được hiểu là các biện pháp nhằm hạn chế sinh đẻ. KHHGĐ hiểu
theo nghĩa rộng còn bao hàm cả sự nỗ lực của các cặp vợ chồng để có con.
KHHGĐ là sự lựa chọn có ý thức của các cặp vợ chồng nhằm điều
chỉnh số con, thời điểm sinh con và khoảng cách sinh con sao cho phù hợp
với điều kiện sống và hoàn cảnh. KHHGĐ không chỉ bao hàm các BPTT mà
còn bao gồm cả sự giúp đỡ các cặp vợ chồng để có thai và sinh con.
9
Biện pháp kế hoạch hoá gia đình:
Là những sự thực hành nhằm giúp cho các cá nhân hay các cặp vợ
chồng đạt được mục đích: Tránh được những trường hợp có thai không mong
muốn; Chủ động điều hoà khoảng cách giữa các lần sinh và chủ động thời
điểm sinh con, số con mong muốn phù hợp với bản thân".
Sức khoẻ sinh sản:
Là tình trạng thoải mái hoàn toàn về mặt thể
chất, tinh thần, xã hội và
không chỉ là không có bệnh tật trong mọi vấn đề liên quan đến hệ thống sinh
người cán bộ tư vấn, mà xuất phát từ nhu cầu của khách hàng (người nhận).
Vì vậy, tư vấn là một loại truyền thông đặc biệt với một nhóm đối tượng có
nhu cầu cụ thể, cần được khuyên bảo, góp ý, giải thích, vận động để khách
hàng được thoải mái và tự nguyện thực hiện.
Công tác tư vấn KHHGĐ khác với tư vấn trị bệnh. Nó cũng khác với
lời khuyên của nhân viên y tế về công tác chăm sóc, điều trị bệnh nhân. Trong
việc này người góp ý kiến thường yêu cầu bệnh nhân phải chấp hành. Ngược
lại, công tác tư vấn KHHGĐ có mục tiêu chuyên biệt đó là giúp cho khách
hàng đề ra các quyết định tự nguyện, đã được suy tính kỹ càng về vấn đề sinh
sản. Họ
được hài lòng với những biện pháp đã lựa chọn.
Nội dung tư vấn KHHGĐ:
Tư vấn KHHGĐ là dạng truyền thông trực tiếp rất có hiệu quả. Người
tư vấn thường là điểm tiếp xúc đầu tiên giữa khách hàng với chương trình
KHHGĐ, là một nhiệm vụ quan trọng của những người cung cấp dịch vụ này.
Tư vấn dịch vụ KHHG
Đ có những nội dung sau:
* Cung cấp những thông tin đầy đủ và chính xác về dịch vụ KHHGĐ.
* Tìm hiểu sự băn khoăn, lo lắng của đối tượng về sự lựa chọn các biện
pháp KHHGĐ.
* Thảo luận và đưa ra lời khuyên khách quan, trung thực phù hợp với
đối tượng.
* Xây dựng cho đối tượng có thái độ tích cực đối với chương trình
KHHGĐ để họ thấy trách nhiệm đố
i với gia đình và xã hội.
11
Để thực hiện tốt và hiệu quả công tác tư vấn đòi hỏi những những điều
kiện cần thiết, những tiêu chuẩn của người cán bộ làm công tác tư vấn, đồng
thời cần có những phương pháp tư vấn vê DS-KHHGĐ.
cầu, khả năng đáp ứng và các số liệu thống kê thực hiện BPTT phân theo
nguồn cung cấp đều xác nhận trạm y tế xã là một địa chỉ đặc biệt quan trọng.
Từ năm 1992, Bộ Y tế đã cho phép triển khai đặt vòng, hút điều hoà kinh
nguyệt (hút thai sớm) tại trạm y tế xã.
1.3.2 - Kênh phân phối d
ựa vào cộng đồng (CBD):
Phân phối dựa vào cộng đồng là một chiến lược dựa vào các thành
viên không phải là nhân viên y tế, được đào tạo về cung cấp các dịch vụ
KHHGĐ tới tay từng thành viên của cộng đồng.
Những dịch vụ này tiến hành cung cấp thông tin và các biện pháp tránh
thai tạm thời, thường là bao cao su và thuốc viên tránh thai. Các dịch vụ
chăm sóc sức khoẻ ban đầu cũng có thể áp dụng thông qua phân phối d
ựa
vào cộng đồng như: Cung cấp thuốc uống chống mất nước hoặc viên thuốc
điều trị sốt rét. Kênh phân phối dựa vào cộng đồng xuất hiện bởi chính những
hạn chế của mô hình cung ứng dịch vụ KHHGĐ lâm sàng của ngành y tế, bao
gồm:
- Sự cung ứng chủ yếu theo "mô hình tĩnh", khách hàng phải đến nhận
phương tiện tránh thai và dịch vụ tại các cơ
sở y tế.
- Quan hệ giữa người cung cấp với khách hàng là mối quan hệ thầy
thuốc và bệnh nhân. Vì vậy, bên cạnh những hiệu quả và tính hợp lý đã xuất
hiện "những cản trở y học đối với sự chấp nhận KHHGĐ" dựa trên những
chống chỉ định có khi đã lỗi thời vẫn được áp dụng một cách máy móc dẫn
đến khi sử dụng một bi
ện pháp tránh thai còn nhiều thủ tục như thăm khám và
những xét nghiệm bắt buộc, làm cho khách hàng KHHGĐ trở thành những
bệnh nhân thật sự. Vì vậy, đã hình thành kênh phân phối dựa vào cộng đồng:
Tổ chức Y tế thế giới cho rằng phân phối dựa vào cộng đồng thích hợp
với nhiều nước đang phát triển, vì ở đây các nguồn lực (nhân lực và vật lực)
miễn phí và thị trường tự do.
Tiếp thị xã hội PTTT thực chất là bán trợ giá một số loại sản phẩm
nhằm chuyển hướng từ
cung cấp miễn phí đến tự thanh toán phí dịch vụ trong
14
KHHGĐ. Mục tiêu cuối cùng của tiếp thị xã hội PTTT là góp phần đẩy nhanh
xu thế xã hội hoá làm cho người sử dụng chia sẻ kinh phí với cộng đồng, với
nhà nước trong chương trình KHHGĐ.
1.4. Tình hình nghiên cứu trong nước về dịch vụ dân số, gia đình và trẻ
em
- Về dịch vụ DS-KHHGĐ:
Nghiên cứu trong nước về dịch vụ dân số, gia đình và trẻ em
(DS,GĐ&TE) còn chưa nhi
ều, nhất là dịch vụ tư vấn đối với các cơ sở dịch
vụ do hệ thống DS,GĐ&TE thực hiện.
+ Đối với dịch vụ Y tế tư nhân về Phụ sản - Kế hoạch hoá gia đình (PS-
KHHGĐ) được phép hoạt động từ khi có Pháp lệnh Hành nghề Y - Dược tư
nhân của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội năm 1993.
Năm 1995-1996, Bộ Y tế và U
ỷ ban Quốc gia DS-KHHGĐ đã khảo sát
và triển khai mô hình thử nghiệm về hành nghề tư nhân PS-KHHGĐ tại 6
huyện của 3 tỉnh/TP là: Hà Nội, Cao Bằng và Đồng Nai. Năm 1997 khảo sát
được mở rộng ra 8 tỉnh/TP là: Hà Nội, Cao Bằng, Thanh Hoá, Đồng Nai, Đà
Nẵng, Hưng Yên, Hải Dương và Lâm Đồng. Năm 2000, khảo sát được tiếp
tục tại 8 tỉnh nói trên nhằm đánh giá kết quả triển khai mô hình thử nghiệm.
K
ết quả nghiên cứu của Lê Đức Chính (1998) và Phạm Bá Nhất, Đào
Văn Dũng (2000) cho thấy những thông tin về khách hàng chấp nhận, sử dụng
dịch vụ KHHGĐ như sau:
Trong số 369 khách hàng có 47,7% đến 1 lần, 49,0% đến 2-3 lần và
3,2% đế
n trên 3 lần. Đến 1 lần cao nhất là Thanh Hoá (58,3%), đến 2 lần cao
nhất tại Đà Nẵng, đến trên 3 lần cao nhất tại Hà Nội.
So sánh số lần đến cơ sở Y tế tư nhân và Y tế Nhà nước:
Trong 364 khách hành đến cơ sở tư nhân, tổng số có 422 lần đến với cơ
sở Y tế tư nhân và 313 lần đến với cơ sở Y tế với Nhà nước.
16
Khách hàng đông nhất là những người ở gần cơ sở tư nhân < 2km
(60,1%) tuy nhiên vẫn có 24,7% nhà cách cơ sở Y tế tư nhân 3-5km và 15,2%
do nhà cách cơ sở Y tế tư nhân trên 5km.
Vấn đề khách hàng ngoài địa bàn của chủ cơ sở Y tế tư nhân:
Trong 326.853 lượt người được dịch vụ, có 1.636 lần (chiếm 3.25%)
khách hàng ngoài địa bàn đến sử dụng dịch vụ tư nhân, chủ yếu là tìm đến với
các bác sỹ
mà họ đã biết về uy tín tay nghề hoặc được người thân giới thiệu.
Trong 303 cơ cở Y tế tư nhân có báo cáo, có 52,4% ở thành phố, thị
trấn 17,4% và 30,0% ở nông thôn.
Về lý do chọn lựa cơ sở Y tế tư nhân:
Trong số 420 người có trả lời phỏng vấn có 2.585 ý kiến về 9 lý do
chọn lựa, trong đó lý do được chăm sóc tư vấn tận tình, chu đáo và chất lượng
tốt là lý do quan trọ
ng nhận được 39,7% đối tượng trả lời; lý do kín đáo của
cơ sở dịch vụ PS-KHHGĐ là lý do để 13,6% đối tượng chọn lựa; tiếp theo là
các lý do không phải chờ đợi, do kỹ thuật và giá chấp nhận được 12,1-12,9%.
Lý do khách hàng được chăm sóc tận tình cao tới 39,7%.
Vấn đề dự báo nhu cầu khách hàng đến với cơ sở tư nhân:
Khách hàng đã đến với cơ sở tư nhân phần lớ
n đều hài lòng nên khi hỏi
Đối với phát triển kinh tế gia đình, nhu c
ầu tư vấn hướng dẫn trồng trọt,
chăn nuôi 35,2%; kinh doanh nhỏ gia đình 47,7%; giới thiệu việc làm và
thông tin thương mại 49,1%.
Tác giả đã sơ bộ kết luận là: Nhu cầu về dịch vụ gia đình là một trong
những loại dịch vụ mới ở Việt Nam; mức độ nhu cầu và nội dung cung cấp
dịch vụ gia đình đa dạng và rất khác nhau giữa từng vùng, trình độ kinh t
ế,
mức sống và những nhóm gia đình. Hai loại nhu cầu về dịch vụ tư vấn gia
đình và dịch vụ bảo vệ sức khoẻ, an toàn cho các thành viên gia đình.
18
+ Theo Nguyễn Đức Mạnh và cộng sự trong nghiên cứu về nhu cầu
dịch vụ gia đình Việt Nam trong thời kỳ đổi mới cho thấy:
Nhu cầu tư vấn về sản xuất kinh doanh: Có 62,2% có nhu cầu tư vấn
vay vốn để phát triển sản xuất; nhu cầu cung cấp thông tin giá cả thị trường
51,0%; nhu cầu tư vấn về tiêu thụ sản phẩm 59,4%; tư vấn pháp luật về kinh
tế 30,3%; tư vấn về dịch vụ nhà ở và việc làm từ 57-64,3%.
Vấn đề tư vấn sử dụng dịch vụ Y tế, chăm sóc sức khoẻ: Nhu cầu khám
sức khoẻ định kỳ 42,3%; nhu cầu tiêm chủng phòng các bệnh nguy hiểm
35,3%; nhu cầu tư vấn và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho người già,
phụ nữ, trẻ em và người tàn tật chiếm 60,2%
Cũng theo Nguyễ
n Đức Mạnh, khả năng đáp ứng các nhu cầu về tư vấn
phát triển kinh tế, tư vấn chăm sóc sức khoẻ tại nhà hiện nay đều chưa đáp
ứng nhu cầu cho cả khu vực thành thị và nông thôn.
- Về dịch vụ tư vấn đối với trẻ em:
Theo báo cáo đánh giá của Trung tâm tư vấn và Dịch vụ Truyền thông
của Uỷ ban DS,GĐ&TE sau 1 năm hoạt động mô hình thí
điểm đường dây tư
20