Bộ văn hóa-thể thao và du lịch
Vụ gia đình
báo cáo tổng kết chuyên đề nghiên cứu:
xác định nhu cầu của các gia đình đối với
việc nâng cao kiến thức, kỹ năng trong
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Thực hiện chuyên đề: ThS. đặng Vũ cảnh linh
Thuộc đề tài KH&CN cấp bộ:
đánh giá thực trạng năng lực chăm sóc, giáo dục
trẻ em của các gia đình khu vực nông thôn phía bắc
Chủ nhiệm đề tài: ngô thị ngọc anh
Hà nội, tháng 2 năm 2008
1
Mục lục
Đặt vấn đề 3
Một số khái niệm dùng trong chuyên đề 7
Thực trạng nhu cầu của gia đình về việc nâng cao kiến thức, kỹ năng trong
chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em
9
Kết luận và khuyến nghị 29
2
Đặt vấn đề
Việt Nam đang khẳng định những bớc đi vững chắc trên con đờng công
nghiệp hóa, hiện đại hoá, ngày càng mở rộng quá trình giao lu và hội nhập quốc
tế. Những thành tựu thu đợc từ công cuộc đổi mới đất nớc trong những năm
thể thấy cho đến nay qua các số liệu thống kê, tình hình sức khỏe, học tập, đời
sống văn hóa tinh thần của trẻ em nói chung đã có nhiều cải thiện. Tỷ lệ tử vong
ở trẻ em dới 5 tuổi và trẻ sơ sinh đã giảm đáng kể trong hai thập kỷ qua. Với tỷ
lệ tiêm chủng luôn đạt ở mức cao, Việt Nam đã thanh toán đợc bệnh bại liệt vào
năm 2000 cũng nh bệnh uốn ván ở bà mẹ và trẻ sơ sinh vào năm 2005. Kể từ
năm 1990 đến nay, tỷ lệ mắc bệnh sởi đã giảm 95%. Còn trờng hợp thiếu
Vitamin A đã trở nên rất hi hữu.
Bên cạnh đó quá trình đổi mới hệ thống giáo dục và đào tạo ở nớc ta, trẻ
em cũng đã và đang đợc hởng một nền giáo dục tốt hơn so với các thế hệ trớc
đây. Khoảng 97% trẻ em trong độ tuổi đợc học tiểu học. Nhiều địa phơng
cũng đã hoàn thành chỉ tiêu 100% trẻ em đợc phổ cập giáo dục trung học cơ sở.
Chính phủ và ngành giáo dục cũng đã có nhiều biện pháp mạnh trong việc hoàn
thiện hệ thống giáo dục quốc dân, đổi mới chơng trình, phơng pháp giáo dục,
tăng cờng các hình thức hỗ trợ, tạo điều kiện học tập cho tất cả trẻ em Việt
Nam đối với mọi cấp học và ngành nghề đào tạo.
Tuy nhiên bên cạnh những thành quả đạt đợc, trên thực tế so với những
chỉ tiêu của trẻ em thế giới, nớc ta vẫn bị tụt hậu trong một số lĩnh vực chính
liên quan tới trẻ em. Theo báo cáo của UNICEF năm 2006, vẫn còn nhiều trẻ em
tại các vùng miền khác nhau cha đợc tiếp cận đầy đủ với nớc sạch và các
phơng tiện vệ sinh môi trờng phù hợp. Tỷ lệ suy dinh dỡng ở trẻ em còn quá
cao (25% trẻ em dới 5 tuổi bị suy dinh dỡng) do các tập quán chăm sóc và
nuôi dỡng kém. Chỉ có 19% trẻ sơ sinh đợc hoàn toàn bú sữa mẹ trong 4 tháng
đầu. Một vấn đề cần cố gắng hơn là tạo điều kiện cho trẻ em đợc tiếp nhận giáo
dục khi các em còn nhỏ tuổi (chỉ có cha đến 47% trẻ em từ 3 - 5 tuổi đợc đi
nhà trẻ). Ngoi những vấn đề tồn tại nêu trên, trẻ em Việt Nam còn phải đối mặt
với những thách thức mới nh điều tra về tai nạn th
ơng tích ở Việt Nam cho
thấy gần 75% trờng hợp tử vong ở trẻ em trên một tuổi là do thơng tích, qua
đó đa ra một cách nhìn nhận mới về tử vong về bệnh tật ở trẻ em.
Cùng với những thành tựu thu đợc từ công cuộc đổi mới, cơ chế thị
ờng hợp trẻ em đã tử vong sau những hình thức bạo hành nh
vậy. Theo số liệu điều tra của Lê Thị Quý - Đặng Vũ Cảnh Linh tại Thái Bình,
Phú Thọ và Hà Nội cho thấy có 63.5% các gia đình cho rằng hiện tợng cha mẹ
5
đánh đập con cái còn là khá phổ biến. Tỷ lệ này cao hơn so với các hình thức bạo
hành gia đình khác.
1
Vấn đề nuôi dỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em cũng nổi lên với khá
nhiều bức xúc, đặc biệt trong bối cảnh mà cha mẹ ngày nay ngày càng bận rộn,
ít dành thời gian quan tâm đến con cái và gia đình. Thực tế cho thấy nuôi dỡng
và chăm sóc trẻ em không phải là một vấn đề đơn giản, nó đòi hỏi ở việc xử lý
những kiến thức, kỹ năng một cách khoa học, đồng thời là tinh thần trách nhiệm
cao đối với từng công việc cụ thể. Nhiều trờng hợp đợc phản ánh qua báo chí
thời gian gần đây, do bố mẹ thiếu hiểu biết về những kỹ năng chăm sóc đã dẫn
đến những hậu quả đáng tiếc với trẻ em và gia đình, gây thơng tật, thậm chí tử
vong ở trẻ.
Bên cạnh đó, giáo dục trẻ em trong gia đình ngày nay cũng đứng trớc
hàng loạt những khó khăn và thách thức lớn. Cha mẹ ngày nay trở nên khó đối
thoại với con cái. Một mặt do thời gian bận rộn của công việc kiếm sống đã tạo
ra khoảng cách ngày càng xa hơn giữa các thế hệ. Mặt khác với những tác động
mặt trái từ nền kinh tế thị trờng, sự du nhập của lối sống và văn hóa phơng
Tây, sự bùng nổ của mạng internet khiến cho gia đình khó kiểm soát trẻ em hơn.
Hệ quả của những thiếu hụt về giáo dục trong gia đình là nguyên nhân trực tiếp
dẫn đến sự gia tăng hàng loạt của những hành vi lệch chuẩn ở trẻ em và vị thành
niên nh hiện tợng ăn chơi, đua đòi, quan hệ tình dục trớc hôn nhân, tiêm
nhiễm tệ nạn xã hội và vi phạm pháp luật. Nghiêm trọng hơn trong thời gian gần
đây có khá nhiều vụ việc liên quan đến trẻ em lựa chọn hành vi tự tử để chối bỏ
những áp lực trong cuộc sống mà các em gặp phải.
Từ thực tế cho thấy, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đang có
Trong chuyên đề này, khái niệm gia đình đợc sử dụng để xác định mối
quan hệ giữa cha mẹ, ông bà đối với con cái là trẻ em trong gia đình. Các mối
liên hệ về chức năng trong gia đình cũng đợc tập trung chủ yếu vào các hoạt
động bảo vệ, chăm sóc ( Chức năng nuôi dỡng, chăm sóc, tình cảm) và giáo dục
(chức năng xã hội hóa) đối với trẻ em.
1.2 Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong gia đình.
Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là các hoạt động nhằm duy trì chức
năng cơ bản của gia đình đối trong việc đảm bảo những quyền lợi cơ bản và thiết
thực nhất của trẻ em, tạo môi trờng tốt để các em phát triển toàn diện từ tâm
sinh lý, thể chất, sức khỏe cho đến trí tuệ, học vấn. Điều 16, Luật Bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục trẻ em quy định : Cha m ho
c ngi u l ngi trc
tiờn chu trỏch nhim v vic bo v, chm súc, nuụi dy tr em, dnh iu kin
7
tt nht cho s phỏt trin ca tr em. Cha m, cỏc thnh viờn ln tui khỏc
trong gia ỡnh, ngi u phi lm gng tt v mi mt cho tr em noi theo,
khi gp khú khn t mỡnh khụng gii quyt c, cú th yờu cu c quan hoc t
chc hu quan giỳp thc hin tt ngha v ca mỡnh.
1
Nh vậy, việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em theo quy định của pháp
luật đợc hiểu là trách nhiệm, nghĩa vụ của cha mẹ và những ngời trực tiếp nuôi
dỡng trẻ em trong gia đình phải luôn duy trì và thực hiện. Tuy nhiên thực tế cho
thấy các hoạt động bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là khá nhiều và phức
tạp, không có những quy định cụ thể về không gian, mức độ, tính chất và phạm
vi của các hoạt động này. Về cơ bản có thể xác định hoạt động này qua một số
tiêu chí sau :
Bảo vệ trẻ em là hoạt động trực tiếp gắn với việc thực hiện quyền trẻ em.
Gia đình có trách nhiệm trong việc bảo vệ sức khỏe, thể chất, tinh thần, tính
mạng của các em, ngăn chặn các nguy cơ xâm hại đến trẻ em nh đánh đập, bạo
tiễn và hớng tới việc thực hiện tốt những chức năng cơ bản của gia đình đối với
trẻ em, đặc biệt là ở vị trí của cha mẹ và những ngời đang chịu trách nhiệm
nuôi dỡng các em. Thực tế cho thấy, khi gia đình và xã hội càng biến đổi nhanh
thì sự tác động tiêu cực tới trẻ em và công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em ngày càng nảy sinh những vấn đề khó khăn và phức tạp hơn. Điều này càng
làm tăng lên nhu cầu của gia đình trong việc cập nhật kiến thức, kỹ năng để có
thể ứng xử với các tình huống, trẻ em, đồng thời có thể kiểm soát và điều chỉnh
các hoạt này theo hớng tích cực và phù hợp với các chuẩn mực xã hội.
2. Thực trạng nhu cầu của gia đình trong việc nâng cao kiến thức kỹ
năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Sau ngày 01 /6 /2004, Bộ trởng, chủ nhiệm Uỷ ban dân số gia đình và trẻ
em đã ra quyết định về việc ban hành văn bản Hớng dẫn tiêu chuẩn xã phờng
phù hợp với trẻ em với 28 chỉ tiêu đợc áp dụng đối với xã, phờng, thị trấn
trong cả nớc. Đây là một văn bản pháp quy quan trọng, cụ thể hoá những cam
kết của Việt Nam với Liên Hiệp Quốc và là cơ sở để đánh giá kết quả công tác
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của xã, phờng, thị trấn (cấp xã phờng),
quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố và cấp Trung ơng. Sau
ba năm thực hiện quyết định của Bộ trởng, vừa qua Cục Trẻ em - Bộ Lao động -
Thơng Binh - Xã hội và Viện Nghiên cứu Truyền thống và Phát triển phối hợp
tổ chức nghiên cứu đánh giá việc thực hiện các chỉ tiêu này tại hai địa bàn tỉnh
1
http://vi.wikipedia.org/
9
Hà Nam và Nghệ An. Kết quả nghiên cứu cho thấy công tác bảo vệ, chăm sóc
giáo dục trẻ em đã thu đợc những kết quả và những bài học kinh nghiệm nhất
định.
Trong số 28 chỉ tiêu đợc quy định, chỉ tiêu 9 nêu rõ Các thành viên
trong gia đình đều có kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em: đạt
lạc bộ chủ yếu vẫn là phụ nữ và chỉ có một phần nhỏ là nam giới. Do đó nhiều
gia đình trong đó có một số gia đình trẻ cha có điều kiện tiếp xúc với thông tin
về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em. Nh trờng hợp của bí th đoàn xã An
Lão, huyện Bình Lục, Hà Nam. Anh cho rằng mình chủ yếu mới chỉ tiếp xúc
thông tin qua sách báo do trong quá trình công tác đợc tiếp cận. Với đối tợng
là các bậc cha mẹ trẻ ở địa phơng thì phần nhiều việc chăm sóc là do một tay
ngời phụ nữ đảm nhiệm. Các kiến thức chủ yếu là do cha mẹ truyền lại hoặc do
kinh nghiệm. Câu nói con h tại mẹ, cháu h tại bà xem ra vẫn còn tồn tại
trong cộng đồng với vấn đề nuôi dạy con cái, đặc biệt là chăm sóc và giáo dục
trẻ em.
Điểm cần nhấn mạnh ở đây là các tiêu chuẩn cụ thể thế nào là nắm đợc
các kỹ năng thì lại không rõ ràng. Do vậy kỹ năng chăm sóc ,giáo dục trẻ em
mới chỉ thể hiện ở một số điều. Trên thực tế, có cả trờng hợp gia đình cấm đoán
hoạt động truy cập Internet của con trẻ, coi đây là hành vi mắc lỗi lầm nghiêm
trọng. Có cả trờng hợp thầy cô giáo khi biết học sinh vào quán Internet thì đã
buộc học sinh viết bản kiểm điểm và liên hệ về gia đình, vì việc làm này dẫn tới
tâm lý rụt rè thậm chí còn có tâm lý rất sợ Internet của một số em học sinh
trên địa bàn thẩm định.
Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra một số trờng hợp điển hình về việc thiếu
hiểu biết của các bậc phụ huynh trong kỹ năng chăm sóc con trẻ. Một số gia
đình luôn nghĩ rằng trẻ em đang ở độ tuổi đi học thì phải dành toàn thời gian
cho việc học hành nên dẫn tới hành động cấm đoán các em vui chơi giải trí.
Về phía trẻ em đang bớc vào độ tuổi dậy thì trên thực tế các em chủ yếu
là tự tìm hiểu thông tin qua sách báo, các phơng tiện truyền thông mà cha có
đợc sự chỉ bảo từ phía gia đình ở mức độ cần thiết. Trờng hợp của một số em
học sinh tại trờng cấp II An Lão cho thấy, kiến thức về giới tính đợc các em
trao đổi với nhau, đọc sách về vấn đề giới tính, sức khoẻ sinh sản vẫn còn rất hạn
chế. Điều đó cho thấy sự truyền dạy của các bậc phụ huynh là khá giới hạn.
trẻ em và gia đình có tỷ lệ ngời dân đã đợc đọc trực tiếp là không cao xếp theo
thứ tự bao gồm Luật Hôn nhân gia đình (44.5%), Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo
12
dục trẻ em (27.7%), Luật giáo dục (19.7%) và Công ớc Quốc tế về quyền trẻ
em (15.5%). Các văn bản khác có tỷ lệ ngời trực tiếp đọc chiếm tỷ lệ dới 10%.
Riêng là Pháp lệnh Dân số 2003 lại mới chỉ có 7.9 % ngời đọc.
Cũng trong nghiên cứu này ở mức độ ngời dân đợc nghe nói đến có hai
văn bản đợc lựa chọn nhiều nhất là : Luật Bảo vệ, Chăm sóc, Giáo dục trẻ em
(73.4%), Công ớc Quốc tế về Quyền trẻ em ( 72.1%). Ngoài ra là 60 % ngời
trả lời là các văn bản : Luật Giáo dục (68.7%), Công ớc chống phân biệt đối xử
với phụ nữ (67.4%), Chơng trình Hành động vì trẻ em đến 2010 (64.8%), Chiến
lợc Quốc gia về chăm sóc sức khoẻ sinh sản 2000 đến 2010 (63.5%), Chơng
trình Quốc gia vì Tiến bộ phụ nữ (63.1%) và Luật Hôn nhân gia đình (61.5%).
Các văn bản còn lại cũng có trên 50 % ngời trả lời đợc nghe nói đến.
Bảng 1 : Hiểu biết các văn bản pháp luật liên quan đến gia đình ( %)
1
Các loại văn bản Đã đọc Đợc nghe Đã biết
Luật Hôn nhân gia đình 44.5 61.5 96.0
Luật Bảo vệ, Chăm sóc, Giáo dục trẻ em 27.7 73.4 94.7
Luật Giáo dục 19.7 68.7 83.9
Công ớc Chống phân biệt, đối xử với phụ nữ 8.9 67.4 74.0
Công ớc Quốc tế về Quyền trẻ em 15.5 72.1 84.2
Chơng trình Quốc gia vì Tiến bộ phụ nữ 9.8 63.1 70.4
Chơng trình Hành động vì trẻ em đến 2010 8.9 64.8 71.7
Chiến lợc Dân số quốc gia đến 2000 - 2010 8.6 58.3 64.8
Pháp lệnh Dân số 2003 7.9 57.6 63.5
Chiến lợc CSSKSS quốc gia đến 2000 - 2010 8.2 63.5 68.4
Ngày Gia đình Việt Nam 7.5 55.2 61.2
hôn ở Hà Nội về nhận thức đối với Luật Hôn nhân và gia đình, kết quả khảo sát
cho thấy có rất ít thanh niên có sự tìm hiểu về Luật hôn nhân và gia đình dù họ
đợc hiểu là những ngời sắp trở thành chủ gia đình. Điều đáng chú ý là chỉ có
4.5% thanh niên có nghiên cứu cẩn thận Luật hôn nhân và gia đình và 95.5%
còn lại là không tìm hiểu kỹ về lĩnh vực này. Đa số các bạn trẻ chỉ đợc tiếp cận
qua ti vi, đài báo (50.2%). Chỉ có 6.6% thanh niên đã từng đọc toàn bộ luật, 20%
là xem lớt qua một vài phần nội dung của luật. Trong vấn đề này ở nhà trờng
cũng cha đợc phổ biến nhiều, vì thế cho nên chỉ có 20.3% là đợc nghe nói
đến vấn đề luật trong nhà trờng.
1
Đặng CảnhKhanh - Lê Thị Quý (2007) Gia đình học, nhà xuất bản lý luận chính trị, Hà Nội
14
Bảng 2: Tỷ lệ tiếp cận Luật hôn nhân và gia đình của thanh niên chuẩn bị kết hôn
1
Tỷ lệ (%)
Các chỉ báo
Có Không
Đã nghiên cứu cẩn thận 4.4 92.3
Đã đợc đọc toàn bộ 6.4 90.3
Chỉ xem lớt qua một vài phần 20 80
Chỉ đợc nghe cán bộ nói chuyện 11.8 88.2
Chỉ nghe nói đến trong nhà trờng 20.3 79.7
Chỉ đợc tiếp cận qua ti vi, đài báo 50.2 49.8
Chỉ nghe mọi ngời xung quanh nói 17.4 82.6
Đợc biết qua trung tâm t vấn 3.6 96.4
Đợc biết qua truy cập Internet 13.3 86.4
Nghe bố mẹ nói 9.9 90.1
Cũng trong công trình nghiên cứu này, tỷ lệ thanh niên chuẩn bị kết hôn
đình của thanh niên chuẩn bị kết hôn ở Hà Nội, ủyban Dân sô Gia đình và Trẻ em Hà Nội
15
Bên cạnh đó, tìm hiểu về nhận thức của thanh niên về Luật Hôn nhân và
gia đình kết quả cho thấy chỉ có một số thanh niên thực sự hiểu một cách đầy đủ
về các chơng mục và nội dung của luật, còn lại đa số thanh niên có mức độ hiểu
biết trung bình, hoặc không biết gì (Xem bảng 4). Hay nh trong Luật Hôn nhân
và gia đình Điều 34, Chơng IV quy định: Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền thơng
yêu, trông nom, nuôi dỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
con ; chăm lo việc học tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất,
trí tuệ và đạo đức. Tuy nhiên vẫn còn khá nhiều thanh niên chuẩn bị kết hôn
cha hiểu đúng về các quy định này nh 25.5% cho rằng việc cha mẹ dùng bạo
lực và xâm phạm đến nhân phẩm của con cái là hợp pháp và 25 % khác cho rằng
điều này không quy định trong luật. Khoảng 30% thanh niên đồng tình với việc
cha mẹ đánh khi con cái không vâng lời. Có 29.3% không biết là cha mẹ phải có
trách nhiệm cấp dỡng cho con cái trong độ tuổi vị thành niên và 15.9% hiểu
không đúng về trách nhiệm giáo dục của cha mẹ đối với con cái.
Bảng 4 : Hiểu biết của thanh niên đối với Luật Hôn nhân và gia đình (%)
Đơn vị: %
Mức độ
Nội dung
Biết rất rõ Biết sơ qua Chỉ nghe nói
Những quy định chung của Luật 19.6 45.5 34.8
Kết hôn và điều kiện kết hôn 32.7 42.2 25.1
Quan hệ giữa vợ chồng 17.5 46.7 35.8
Quan hệ giữa cha mẹ và con cái 34.9 43.5 21.6
Quan hệ giữa các thành viên gia đình 40.9 37.9 21.2
Nghĩa vụ cấp dỡng 20.8 50.8 28.3
Xác định cha mẹ, con 21.4 49.2 29.4
Vấn đề nuôi con 19.3 45.7 35.0
.
Với nhu cầu khá cao trong việc đợc cung cấp kiến thức, kỹ năng liên
quan đến các văn bản pháp luật trong công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em, các gia đình hiện nay cũng mong muốn đợc đáp ứng những nhu cầu cụ thể
về nội dung và phơng pháp truyền thông. Qua việc triển khai dự án phòng
chống bạo lực gia đình ở Phú Thọ, Thái Bình và Hà Nội, nhiều ngời dân cho
rằng kiến thức pháp luật đợc tuyên truyền trong dự án còn quá chung chung, vì
vậy cần phải nghiên cứu và thao tác cụ thể nội dung, chi tiết hóa với các tình
huống và giải thích để quá trình tiếp nhận thông tin có chiều sâu và hiệu quả
hơn. Kết quả điều tra và phỏng vấn sâu trong dự án này cũng chỉ ra, hầu hết các
gia đình mong muốn nhận đợc kiến thức về pháp luật thông qua các hình thức
giáo dục trực tiếp, các khóa tập huấn và sinh hoạt câu lạc bộ nhiều hơn là tuyên
1
1
Lê Thị Quý - Đặng Vũ Cảnh Linh, (2007) sđd
2
Đặng Vũ Cảnh Linh (2006) sđd
3
Vụ gia đình - ủy ban Dân số Gia đình, Trẻ em và Trung tâm Nghiên cứu Giới và Phát triển (2006) Đề tài Xây
dựng mô hình thí điểm giáo dục tiền hôn nhân
17
truyền rộng rãi trên các phơng tiện thông tin đại chúng, hoặc qua các pano, áp
phích,tờ rơi
Nhu cầu đợc nâng cao kiến thức, kỹ năng trong vấn đề bảo vệ trẻ em
Bảo vệ sự an toàn cho trẻ em trong đời sống lao động, học tập và sinh hoạt
không chỉ là sự đảm bảo về quyền trẻ em mà còn là mong muốn của hầu hết các
18
tác bảo vệ trẻ em trong gia đình hiện nay. Theo kết quả điều tra, chỉ có 14.9 %
cha mẹ có kiến thức và kỹ năng hiểu biết sâu sắc về vấn đề này. Trong khi đó
12.1% đánh giá ở mức độ hiểu biết bình thờng, 53.5% hiểu biết cha sâu sắc,
16.7% hiểu biết qua loa và 2.8% không hiểu biết gì.
1
Một trong những công trình nghiên cứu về nhóm trẻ em lang thang gần
đây cho thấy, khó khăn lớn nhất mà các em găp phải bên cạnh những yếu tố về
tính chất công việc vất vả, năng nhọc, các em còn gặp nhiều nguy hiểm khác nh
bị ngời có thẩm quyền bắt/đánh (27,4%), bị trẻ em khác hoặc ngời lớn
đánh/bắt nạt( 25,5%), bị cớp (19,8%). Đây là tỷ lệ khá cao, phản ánh tình trạng
ngợc đãi trẻ em đang khá phổ biến nhất là đối với các nhóm trẻ em yếu thế.
Điều khá ngạc nhiên là trong nghiên cứu này vấn đề nguy hiểm nhất theo trẻ em
lang thang cảm nhận là sợ bị ngời có thẩm quyền bắt, đánh (38.7%) còn cao
hơn so với lo sợ về ma tuý và HIV/AIDS. Tìm hiểu về vấn đề bảo vệ đối với các
em, kết quả phỏng vấn sâu của nghiên cứu này cho biết hầu hết các em tự lo liệu
và giải quyết khi gặp nguy hiểm chứ không nói với gia đình vì theo các em cha
mẹ vừa ở xa, vừa không đủ kiến thức, kỹ năng để hiểu đợc những tình huống
các em gặp để có thể có hành vi ứng xử thích hợp bảo vệ các em.
2
Nhìn chung, qua các cuộc khảo sát gần đây cho thấy gia đình đã bắt đầu
quan tâm nhiều hơn đến vấn đề bảo vệ trẻ em trong gia đình. Nhu cầu của gia
đình đợc thể hiện rõ trong nhu cầu đợc cung cấp kiến thức và kỹ năng liên
quan đến bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trong những tình huống cụ thể. Nhiều gia
đình trong mẫu phỏng vấn sâu của Viện Nghiên cứu Thanh niên bày tỏ mong
muốn đợc có thêm hiểu biết về các nguy cơ đối với trẻ em, cách phòng tránh và
xử lý cụ thể với từng nguy cơ. Một đại diện gia đình cho biết Thực ra phòng
tránh cho con em mình trớc nguy cơ bị xâm hại tình dục, buôn bán hay lang
thang cơ nhỡ, chúng tôi vẫn làm thờng xuyên nhng cũng chỉ dạy dỗ, bảo ban
chu cấp về vật chất và chăm sóc tinh thần.
Thực tế cho thấy chăm sóc sức khỏe nhằm đảm bảo cho trẻ em phát triển
đầy đủ và toàn diện là một vấn đề khá khó khăn với các gia đình hiện nay do đây
là một quá trình lâu dài, bền bỉ, đòi hỏi cha mẹ phải có đầy kiến thức, kỹ năng và
thông tin khoa học. Mặt khác những kiến thức và kỹ năng này lại luôn phải cập
nhật và điều chỉnh cùng với những tiến bộ khoa học mà chúng ta thu đợc.
Theo kết quả khảo sát của Vụ gia đình - ủy ban Dân số Gia đình, Trẻ em
và Trung tâm Nghiên cứu Giới và Phát triển đối với nhóm thanh niên chuẩn bị
kết hôn có thể thấy sức khỏe vợ chồng và gia đình là một trong những vấn đề
đợc quan tâm nhiều nhất hiện nay. Có 62.6% thanh niên cho rằng phải đi kiểm
1
Đặng Vũ Cảnh Linh (2004) Báo cáo đánh giá sự hỗ trợ tâm lý xã hội đối với nhóm trẻ em vi phạm pháp luật tại
Hải Phòng, UNICEF
20
tra sức khỏe trớc khi kết hôn để đảm bảo cho vợ chồng và con cái sau này,
trong đó có tới 43% khẳng định phải kiểm tra sức khỏe toàn bộ, kể cả thử máu.
Tuy nhiên, tìm hiểu kiến thức liên quan đến chăm sóc sức khỏe của nhóm
thanh niên chuẩn bị kết hôn thì kết quả khảo sát đã cho thấy những chỉ báo đáng
lo ngại nh chỉ có khoảng trên dới 1/3 thanh niên có những hiểu biết rõ về
những các vấn đề sức khỏe trong đời sống hôn nhân và gia đình.
Bảng 5: Kiến thức, kinh nghiệm về sức khoẻ và chăm sóc sức khoẻ trong
gia đình (%)
Không biết
Biết
sơ
sài
tình dục, chuyện chăn gối vợ chồng, chăm sóc và nuôi dạy trẻ em (Xem bảng
5).
21
Bảng 6: Tỷ lệ cần thiết đợc cung cấp thông tin về kiến thức, kỹ năng
trong cuộc sống vợ chồng trẻ. (%)
1
Kiến thức Kỹ năng
Luật hôn nhân và Gia đình 80.1 24.2
Biện pháp tránh thai 73.9 30.9
Chăm sóc và nuôi dạy trẻ em
72.2 57.4
Các bệnh STDs/ STIs và cách phòng tránh 72.1 23.9
Tâm lý và ứng xử trong quan hệ vợ chồng
70.5 46.8
Bệnh nhiễm khuẩn đờng sinh dục và cách phòng tránh
67.6 26.4
Văn hoá, đạo đức, nếp ứng xử trong gia đình, dòng tộc 67.6 41.2
Tâm lý và ứng xử trong quan hệ với bố mẹ, họ hàng 63.6 43.3
Các chính sách, pháp luật khác của Đảng và Nhà nớc 57.0 15.4
Phơng thức giải quyết mâu thuẫn, xung đột gia đình 56.4 46.8
Tâm lý và ứng xử trong quan hệ bạn bè, đồng nghiệp 50.9 40.8
Chi tiêu, quản lý công việc trong gia đình 49.3 40.8
Chuyện chăn gối đem lại thoải mái cho vợ chồng 48.6 28.2
Theo kết quả điều tra tại Thái Bình, Phú Thọ và Hà Nội, gia đình hiện nay
cũng có nhu cầu khá cao trong việc đợc cung cấp những kiến thức, kỹ năng liên
quan đến sức khỏe sản, mặc dù công tác xã hội hóa những kiến thức, kỹ năng
này ngày càng sâu rộng nhng nhu cầu hiểu biết của gia đình không vì thế mà
đình. Cũng chính vậy, thời gian gần đây có hàng loạt website đợc các ông bố,
bà mẹ thành lập để trao đổi, tích lũy kinh nghiệm, chia sẻ thông tin và kiến thức
trong việc chăm sóc trẻ em nh website vì trẻ thơ, web trẻ thơ,
chamsocgiadinh.com
Cùng với vấn đề sức khỏe, chăm sóc vật chất và tinh thần cho trẻ em cũng
đợc nhiều gia đình hiện nay quan tâm nh một nhu cầu thiết yếu của gia đình.
Nếu nh trớc đây việc chu cấp cho trẻ em đợc hiểu đơn thuần là vấn đề mua
sắm, chi tiêu cho trẻ, thì ngày nay cùng với sự gia tăng của chất l
ợng cuộc sống,
nhu cầu vật chất ngày càng cao của trẻ em và gia đình đã làm cho vấn đề này trở
nên phức tạp hơn. Trên nhiều diễn đàn của gia đình hiện nay đã xuất hiện nhiều
cuộc tranh luận xung quanh vấn đề chu cấp cho trẻ em. Nhiều gia đình khá giả
đã không chỉ tạo mọi điều kiện vật chất tốt nhất cho trẻ em nh ăn ngon, mặc
đẹp, học ở trờng Tây, mà còn đáp ứng mọi nhu cầu vui chơi giải trí của trẻ.
Trong khi ngợc lại với một số gia đình khác thì việc chu cấp cho trẻ em lại
không thể thoát ra khỏi khuôn mẫu giáo dục truyền thống để cho trẻ em khổ để
hiểu thế nào là hơng vị của cuộc sống. Việc chu cấp vật chất cho trẻ em nh
thế nào, nên thế nào và bao nhiêu là đủ điều này cũng đòi hỏi cha mẹ phải có
những kiến thức và kỹ năng nhất định, đặc biệt liên quan đến những tiêu chí về
giáo dục.
Chăm sóc sức khỏe tinh thần cho trẻ em cũng là một quá trình phức tạp,
đòi hỏi ở cha mẹ phải có những kiến thức và kỹ năng xử lý linh hoạt trong các
tình huống. Nhiều nghiên cứu về gia đình hiện nay đã chỉ ra cha mẹ trong thời
đại thị trờng ngày nay ít có điều kiện và dành quá ít thời gian cho con cái
23
mình, từ bảo ban, dạy dỗ, nêu gơng cho đến những sinh hoạt hàng ngày nh
nói chuyện tâm sự với con cái, chơi với con và đa con đi chơi Những nghiên
cứu tâm lý học, cho thấy chăm sóc sức khỏe tinh thần cho trẻ em cũng quan
trọng không thua kém gì việc chăm sóc về thể chất và sức khỏe, nó có thể giúp