Bộ văn hóa-thể thao và du lịch
Vụ gia đình
báo cáo tổng kết chuyên đề nghiên cứu:
đề xuất các giải pháp để xây dựng mô hình
nâng cao kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ em tại gia đình
Thực hiện chuyên đề: ThS. Hoa hữu vân
Thuộc đề tài KH&CN cấp bộ:
đánh giá thực trạng năng lực chăm sóc, giáo dục
trẻ em của các gia đình khu vực nông thôn phía bắc
Chủ nhiệm đề tài: ngô thị ngọc anh
Hà Nội, tháng 2 năm 2008
1
Đặt vấn đề:
Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời đã dành tình cảm và sự quan tâm
đặc biệt cho trẻ em. Tình thương yêu đó bắt nguồn từ tầm nhìn xa, trông rộng
của một vĩ nhân, “Vì lợi ích trăm năm” của nước nhà, từ một chiến lược con
người đúng đắn. Người đã dày công vun trồng thế hệ mầm non của đất nước
vì “Ngày nay các cháu là nhi đồng. Ngày sau các cháu là người chủ
của nước
nhà, của thế giới”. Tư tưởng này giờ đây vẫn còn giữ nguyên giá trị của nó và
hoàn toàn phù hợp với tư tưởng của thời đại: “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày
mai”.
Sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một sự nghiệp lớn lao
và quan trọng của đất nước. Nó đòi hỏi sự chỉ đạo của Đảng, s
ự quan tâm của
Nhà nước, sự nỗ lực và kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội;
trong đó có thể nói gia đình là yếu tố then chốt. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy
rằng: “Chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn
dân” và trước hết, gia đình (tức ông bà, cha mẹ, anh chị) phải làm tốt công
việc ấy.
PHẦN I: KHÁI NIỆM
Vitamin A đã trở nên rất hi hữu.
Giờ đây, trẻ em Việt Nam cũng được hưởng một nền giáo dục tốt hơn.
Khoảng 97% trẻ em trong độ tuổi được học tiểu học, và Chính phủ cam kết
tă
ng cường cơ hội giáo dục cho tất cả trẻ em Việt Nam.
Song, bên cạnh những thành quả đạt được, Việt Nam vẫn bị tụt hậu
trong một số lĩnh vực chính liên quan tới trẻ em. Vẫn còn nhiều trẻ em chưa
được tiếp cận đầy đủ với nước sạch và các phương tiện vệ sinh môi trường
phù hợp (51,5% dân số chưa được tiếp cận với nước sạ
ch; 74,7% chưa có nhà
vệ sinh phù hợp). Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em còn quá cao (25% trẻ em
dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng). Những yếu tố chính góp phần dẫn đến tình
trạng dinh dưỡng kém ở trẻ em bao gồm: các tập quán chăm sóc và nuôi
dưỡng kém; chỉ có 19% trẻ sơ sinh được hoàn toàn bú sữa mẹ trong 4 tháng
đầu. Một vấn đề Việt Nam cần cố gắng hơn là tạo điều kiện cho trẻ em được
3
tiếp nhận giáo dục khi các em còn nhỏ tuổi (chỉ có chưa đến 47% trẻ em từ 3 -
5 tuổi được đi nhà trẻ).
Ngoài những vấn đề tồn tại nêu trên, trẻ em Việt Nam còn đối mặt với
những thách thức mới. Điều tra về tai nạn thương tích ở Việt Nam cho thấy
gần 75% trường hợp tử vong ở trẻ em trên một tuổi là do thương tích. Nguyên
nhân tử vong chủ yếu là chế
t đuối và tai nạn giao thông.
Bên cạnh đó, việc tự do hóa về kinh tế đã làm thay đổi xã hội Việt
Nam, gây ra sức ép chưa từng thấy lên các gia đình, trong đó có trẻ em. Do
vậy, các vấn đề xã hội như: vô gia cư, sử dụng ma túy, bóc lột về kinh tế và
tình dục, buôn bán và bạo lực đang gia tăng. Ước tính có hơn 2,6 triệu trẻ em
cần bảo vệ đặc biệt tại Việt Nam, trong đ
ó có trẻ em khuyết tật, trẻ em mồ côi
dục.
PHẦN II: MỘT SỐ MÔ HÌNH BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO
DỤC TRẺ EM TẠI CỘNG ĐỒNG
1. Một số mô hình tiêu biểu ở cơ sở
1.1. Mô hình "Cộng đồng phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em" tại
Yên Bái.
Đây là mô hình mới được xây dựng và bắt
đầu đi vào hoạt động tại
phường Nguyễn Phúc, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái từ năm 2006 nhưng
đã đạt những hiệu quả rõ nét, góp phần ngăn ngừa mạnh mẽ và hiệu quả tình
trạng xâm hại tình dục trẻ em. Với sự quan tâm, vào cuộc của các cấp, các
ngành, chính quyền địa phương và nhân dân, công tác tuyên truyền về những
nội dung phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em đã được đẩy mạnh. Qua
đó,
nhận thức của các gia đình, các em thanh thiếu niên về cách phòng ngừa xâm
hại tình dục trẻ em đã được nâng lên. Bên cạnh đó, hiệu quả xã hội mà mô
hình đem lại cũng rất lớn bởi sự quan tâm, chăm sóc, bảo vệ của cha mẹ đối
với các em đã được tăng lên rõ rệt và ngày càng chu đáo hơn. Bởi vậy, sự
nhân rộng mô hình này tới các địa phương trong cả nước là vô cùng cần thi
ết.
Tuy nhiên, để đảm bảo việc thực thi một cách có hiệu quả đòi hỏi phải
có sự đầu tư kinh phí hợp lý từ các cấp, các ngành chức năng, cùng với sự
tham gia đóng góp của các tổ chức và cá nhân trong xã hội.
1.2. Mô hình chăm sóc trẻ em tại cộng đồng
5
Đây là mô hình chăm sóc, nâng đỡ những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
khó khăn, trẻ mồ côi hiện sống thiếu thốn cả về vật chất và tinh thần trong
6
Mô hình này phục vụ cho tất cả mọi người, ưu tiên cho trẻ em dưới 16
tuổi. Mô hình sẽ bao gồm: khu vui chơi, khu thể thao, khu sinh hoạt văn hoá
văn nghệ, khu vườn hoa cây cảnh. Đối tượng hưởng lợi của mô hình khu vui
chơi thể thao, sinh hoạt văn hóa sẽ tham gia đóng góp công lao động, trồng
cây xanh, giữ gìn và phát triển điểm vui chơi xanh - sạch - đẹp.
Có thể nói, lợi ích mà mô hình điểm vui chơi này mang lại là rất lớ
n.
Mô hình có các câu lạc bộ sinh hoạt sẽ góp phần quản lý, giáo dục trẻ em
ngoài gia đình và nhà trường; tạo phong trào sinh hoạt văn hoá văn nghệ, thể
dục thể thao thông qua việc tổ chức các trò chơi dân gian mang đậm nét
truyền thống của từng làng xã. Đây cũng là một môi trường tốt để phát triển
và bồi dưỡng năng khiếu cho các em. Ngoài ra, mô hình này cũng góp phần
giảm lệ tỷ lệ trẻ em hư, trẻ em vi ph
ạm pháp luật; tăng cường rèn luyện thể
chất tạo nét sinh hoạt văn hoá lành mạnh; giảm khoảng cách chênh lệch giữa
thành thị và nông thôn; giảm ô nhiễm môi trường; giảm độ xói mòn đất tại
điểm vui chơi…
Tuy nhiên, hạn chế của mô hình này nằm ở chỗ: nguồn kinh phí đầu tư,
việc huy động thêm công lao động, đóng góp tiền của nhân dân là tương đối
lớn nhưng nguồn thu lại rất nh
ỏ bé, không đủ đáp ứng yêu cầu. Bởi vậy, để
phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế và đem mô hình này nhân rộng tại nhiều
địa phương rất cần có sự quan tâm hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong và
ngoài nước.
1.4. Một số mô hình do Hội Phụ nữ các tỉnh/thành phố chủ trì
Tại nhiều miền quê nghèo trong cả nước như xã Hải Sơn (Hải Hậ
u,
+ Mô hình “Phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ em”, “Phục hồi
chức năng và giáo dục hòa nhập cộng đồng cho trẻ em khuyết tật” ở xã Sa
Loong, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum … Thông qua các hoạt động của mô
hình này, việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục tr
ẻ em được thực hiện một cách
toàn diện.
+ Các mô hình phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ em như: mô
hình “Cộng đồng an toàn” tiêu chuẩn quốc tế do Bộ Y tế triển khai tại xã
Xuân Đỉnh, Từ Liêm; hay mô hình “Ngôi nhà an toàn” của ngành Dân số.
8
Tham gia vào mô hình, người dân, trẻ em được hướng dẫn từ những việc nhỏ
nhất để phòng tránh tai nạn thương tích.
+ Mô hình câu lạc bộ “Quyền trẻ em” trong trường học ở Hồng Lĩnh,
Hà Tĩnh. Câu lạc bộ nhằm tập hợp trẻ em, nhất là trẻ em có nguy cơ vi phạm
pháp luật, để giáo dục nhân cách, bồi dưỡng tâm hồn trẻ thơ. Tại đây, các em
cũng có dịp được bày tỏ tâm tư nguyện vọng để các cấp, các ngành thấy rõ
hơn trách nhiệm của mình với trẻ.
2. Một số mô hình do các tổ chức nước ngoài hỗ trợ
Trong thời gian vừa qua, các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ
nước ngoài đã có không ít hoạt động thiết thực vì trẻ em Việt Nam, trong đó
có việc xây dựng các mô hình hiệu quả, tích cực, góp phần giúp đẩy mạnh các
hoạt động bảo vệ, chăm sóc và bảo vệ trẻ em trong cộng
đồng. Điển hình như:
Tổ chức cứu trợ trẻ em Thụy Điển với mô hình “Môi trường học tập bạn
hữu”; Quỹ Nhi đồng thế giới với các mô hình: “Tình bạn hữu trẻ em”, “Bệnh
viện bạn hữu trẻ em”, “Ngôi nhà an toàn với trẻ em”, “Trường học an toàn với
trẻ em” và “Cộng đồng an toàn với trẻ em”; tổ chức Plan với mô hình “Phát
triển cộng đồng lấy tr
chất lượng học tập và đời sống tinh thần của các em là việc tăng cường các
cuộc đối thoại giữa học sinh với học sinh, học sinh với thầy cô, có cả sự tham
gia của nhiều phụ huynh và chính quyền địa phương sở tại, dưới hình thức hội
thảo, bố trí cho từng nhóm hội ý riêng để tránh áp đặt, mất đi tính trung thực.
Nh
ờ đó, các em nhỏ đã tự tin, mạnh dạn nói lên tất cả khúc mắc cũng như
mong muốn của mình trong học tập, về cách cư xử của bố mẹ, thầy cô.
- Ngoài những cuộc hội thảo định kỳ hàng tháng, trong những ngày học
bình thường, các em được phép vẽ màu trên giấy để thể nghiệm năng lực
bằng mong muốn, ý tưởng bất chợt của mình, sau đó được dán lên tườ
ng lớp
học. Với những em không thích vẽ, có thể viết lên những điều mình không hài
lòng về bạn bè, gia đình, cách rầy la nặng lời của cô giáo mỗi khi không làm
xong bài tập… Nhờ sự “khuyến khích” này, các em đã không phải giữ trong
lòng mình những ấm ức, sự bực dọc có thể gây ảnh hưởng xấu đến học tập.
- Kinh phí không phải là điều cần nhất trong khi thực hiện mô hình học
t
ập bạn hữu mà là phương pháp thực hiện và sự kiên trì, nhẫn nại.
10
+ Hạn chế:
Mô hình này mới chỉ được thí điểm cho nên vẫn bộc lộ một số hạn chế
như: tình trạng “quá tải” tại các lớp học (khoảng 50 học sinh) nên còn ảnh
hưởng đến hiệu quả và mục tiêu mà mô hình đề ra; cách học này chưa phù
hợp với trẻ em khuyết tật và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn…
2.2. Unicef với các mô hình phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ
em:
UNICEF đã và đang hỗ trợ triển khai sáng ki
ến “Bệnh viện bạn hữu trẻ
2.3. Mô hình “Tình bạn hữu trẻ em” của Unicef
Tuy Việt Nam đã
đạt được những kết quả đáng kể trên con đường tiến
tới đảm bảo khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản cho mọi người dân,
song vẫn tồn tại những sự chênh lệch giữa các vùng thành thị và nông thôn.
Trên thực tế, sự khác biệt giữa 12 tỉnh giàu nhất và 12 tỉnh nghèo nhất thường
rất rõ rệt, những tỉnh nghèo nhất ở Việt Nam phả
i đối mặt với rất nhiều yếu tố
cản trở như: khả năng tiếp cận với các nguồn lực và dịch vụ hạn chế, cơ sở hạ
tầng nghèo nàn và thường xuyên bị thiên tai… Mô hình “Tỉnh bạn hữu trẻ
em” của Unicef ra đời với mục tiêu góp phần hỗ trợ những nhóm dân cư dễ bị
tổn thương như: người nghèo, trẻ em và lứa tu
ổi vị thành niên, phụ nữ, đồng
bào dân tộc thiểu số và những người dân di cư.
+ Ưu điểm:
- Thông qua mô hình này, Unicef sẽ phối hợp với Chính quyền Trung
Ương đóng góp vào việc xây dựng các kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội ở
cấp địa phương để đảm bảo các kế hoạch này quan tâm hỗ trợ cho những trẻ
em nghèo và dễ bị tổn thương.
- Mô hình cũng hỗ trợ thiết lập các dịch vụ tổng hợp về sức khỏe và
dinh dưỡng, giáo dục, nước sạch và vệ
sinh môi trường, bảo vệ và phòng
ngừa thương tích ở trẻ em.
- Chính quyền cấp tỉnh và các cấp dưới được hỗ trợ xây dựng năng lực,
lập kế hoạch và ngân sách, thiết lập và quản lý các dịch vụ xã hội có chất
lượng, thực hiện công tác theo dõi, đánh giá các hoạt động.
- Góp phần nâng cao nhận thức và đổi mới ý thức, tư duy về các vấn đề
trẻ em và phụ nữ
cho các cán bộ lãnh đạo và cán bộ chính quyền địa phương,
Quyền trẻ em…
13
- Các em còn được học nhiều buổi tập huấn nghiệp vụ, kỹ năng về các
vấn đề liên quan đến trẻ em, giúp các em làm quen với kiến thức báo chí và
kỹ năng sống cũng như các vấn đề về quyền và luật chăm sóc, giáo dục và
bảo vệ trẻ em.
- Các em còn được tạo điều kiện đi giao lưu, tiếp cận thực tế cuộc sống,
chia sẻ kinh nghiệ
m với bạn bè ở các tỉnh lân cận như: Bắc Giang, Phú Thọ,
Thái Nguyên… Nhiều em ở CLB Phóng viên nhỏ được tạo cơ hội tham quan
tại nước ngoài và được tham gia chia sẻ kinh nghiệm tuyên truyền của Việt
Nam với bạn bè quốc tế
- Viết báo là một việc làm thêm phù hợp và thiết thực đối với các em.
- Góp phần giáo dục và phát triển tính thiện, tính trung thực cho trẻ em,
đặc biệt là trẻ em thiệt thòi.
Hạn chế:
- Số lượng thành viên trong CLB còn ít.
- Kinh phí còn hạn chế nên nhuận bút cho các em là chưa cao.
- Riêng với “CLB Tiếng nói Ong Xanh”: thành viên CLB đều là những
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em mồ côi, trẻ em phải lao động sớm nên
việc tập hợp sinh hoạt được các em gặp nhiều trở ngại. Trình độ học vấn của
các em là không đồng đều nên việc tham gia viết báo gặp nhiều khó khăn.
Đây là một mô hình đặc thù nên việc nhân rộng còn vấp phải nhi
ều
vướng mắc, nếu không tiến hành khảo sát cẩn thận, chi tiết, không có sự phối
hợp đồng bộ, không có sự tham gia của trẻ em ngay từ đầu thì sẽ rất dễ thất
bại.
3. Các mô hình điển hình trong cộng đồng
+ Tạo sự phối hợp đồng bộ và gắn kết giữa các ngành, bao gồm: hệ
thống ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em; Sở Văn hoá Thông tin; Sở Kế
hoạch Đầu tư; Sở Tài nguyên Môi trường; Sở Văn hoá Thông tin; Sở Thể dục
Thể thao; UBND các huyện, thành phố; Sở Y tế; Sở Giáo dục Đào tạo; Sở
Lao động Thương binh Xã hội; các cơ quan thông tin đại chúng…
+ Tham gia xây dựng t
ổ ấm gia đình hạnh phúc, bình đẳng, tạo môi
trường giáo dục tốt trong nhà trường, thôn xóm, khu dân cư lành mạnh - đó là
15
cái nôi tốt nhất để trẻ em được phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, đạo đức
và nhân cách.
+ Kết quả bước đầu cho thấy việc xây dựng mô hình này đã có những
tác động tích cực tới sự quan tâm của chính quyền, đoàn thể và của mỗi gia
đình trong việc tạo điều kiện tốt nhất cho trẻ em được phát triển. Qua đó đã
tạo được sự chuyển bi
ến mạnh mẽ về nhận thức, nâng cao ý thức trách nhiệm
của các cấp uỷ Đảng, chính quyền và nhân dân về công tác bảo vệ, chăm sóc
trẻ em. Vai trò, trách nhiệm của gia đình trong công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ
em cũng được khẳng định nâng lên rõ rệt.
+ Các hoạt động phong phú, tích cực và bổ ích được triển khai. Cụ thể:
- Các hình thức CLB như: CLB “Ông bà mẫu mực, con cháu thảo
hiền”…
- Một số ho
ạt động được duy trì thường xuyên như: tổ chức tư vấn
sức khỏe sinh sản, phòng chống tệ nạn xã hội cho trẻ vị thành
niên; ký cam kết phòng chống ma tuý, HIV/AIDS đến từng gia
đình, nhằm ngăn chặn sự xâm hại tới trẻ em.
- Các cuộc vận động: “Môi trường văn hóa - xã hội vì trẻ em”; xây
dựng “Gia đình vì trẻ em”; Tháng hành động vì trẻ em; hưởng
- Xây dựng xã, phường phù hợp trẻ em là một việc làm khó, liên quan
đến công việc của nhiều cấp, nhiều ngành, đặc biệt khi điều kiện cả nước còn
nhiều khó khăn, ngân sách đầu tư cho các lĩnh vực văn hoá xã hội nói chung,
công tác bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em nói riêng còn chưa đáp ứng yêu
cầu.
- Về mặt chủ quan, vẫn còn không ít cấp uỷ, chính quyền, cán bộ, đảng
viên và một bộ ph
ận nhân dân chưa nhận thức đầy đủ vị trí, tầm quan trọng
của công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong việc chuẩn bị nguồn
nhân lực để thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, đặc
biệt là tạo điều kiện và phát huy vai trò của các gia đình, cộng đồng để giải
quyết tốt những vấn đề về trẻ
em
- Mức độ đạt được theo các tiêu chí đề ra chưa cao, còn thiếu tính bền
vững và mô hình chậm được nhân rộng.
- Việc xây dựng những mô hình như thế hầu hết mới chỉ được triển
khai ở những địa phương có điều kiện thuận lợi về dân trí, điều kiện kinh tế.
17
- Cần thiết phải nghiên cứu, sửa đổi bổ sung các tiêu chuẩn, xây dựng
văn bản hướng dẫn các địa phương thực hiện mô hình “Xây dựng xã phường
phù hợp với trẻ em” phù hợp với từng vùng, từng khu vực.
3.2. Mô hình “Gia đình văn hóa”
Mô hình “Gia đình văn hóa” được Đại hội VIII của Đảng chỉ rõ: xây
dựng gia đình“ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc làm cho gia đình
thực s
ự là tế bào của xã hội, là tổ ấm của mỗi người”.
Kết quả:
+ Tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và tư tưởng, đạo đức
truyền vận động từ nhiều năm trước đây.
Định hướng:
+ Đây là mô hình có tính toàn diện, góp phần đưa việc thực hiện chính
sách về dân số, gia đình và trẻ em một cách bền vững, là một trong những tiêu
chí thi đua có tính quyết liệt hơn ở tại cộng đồng dân cư.
+ Đề ra các biện pháp vận động trẻ em trong độ tuổi được tiêm chủng
mở rộng đầy đủ, được đến trường học tập đúng độ tuổi; khắc phụ
c tình trạng
trẻ em suy dinh dưỡng, trẻ em thất học, trẻ em lang thang, bị lạm dụng tình
dục và bị ảnh hưởng bởi các tệ nạn xã hội; đồng thời, khuyến khích con cháu
chăm học, chăm làm, kính trọng ông, bà, cha, mẹ, thực hiện nghĩa vụ phụng
dưỡng ông, bà, cha, mẹ lúc ốm đau, già yếu; khuyến khích ông, bà, cha, mẹ
nuôi dưỡng con, cháu nên người, sống mẫu mực, làm gương cho con cháu.
+ Gắn kết chặt ch
ẽ với phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hóa ở khu dân cư".
+ Góp phần nâng cao nhận thức của nhân về các vấn đề liên quan đến
Dân số, Gia đình và Trẻ em. Đặc biệt, công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ
em được cải thiển. Thông qua mô hình, việc chăm sóc thai nghén được các bà
mẹ quan tâm; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm; tiêm chủng miễn dịch cơ bản
cho trẻ em được thự
c hiện tốt; trẻ em mới sinh làm giấy khai sinh đúng hạn
tăng; trẻ em lâm vào các tệ nạn xã hội giảm đáng kể; trẻ em có hoàn cảnh khó
khăn đặc biệt, khuyết tật được quan tâm giúp đỡ để hòa nhập cộng đồng.
Hạn chế: Sự thay đổi trong bộ máy tổ chức Ủy ban Dân số, Gia đình và
Trẻ em các cấp cũng là khó khăn trong quá trình triển khai mô hình.
19
3.4. Mô hình “Câu lạc bộ xây dựng gia đình hạnh phúc”
20
biểu diễn văn nghệ; thi nấu ăn, bữa cơm dinh dưỡng giữa các câu lạc bộ trong
địa phương; tham quan du lịch học tập điển hình và thụ hưởng văn hoá giải
trí…
Hạn chế:
+ Việc xây dựng, biên soạn tài liệu sinh hoạt, hướng dẫn tổ chức thực hiện,
theo dõi tổng hợp tình hình hoạt động của mô hình ở các địa phương còn hạn chế.
+ Sự tham gia của trẻ em còn ít mặc dù trẻ em cũng là một thành viên
tích cực và quan trọng của gia đình.
PHẦN IV: ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH
1. Mục đích của mô hình
Cung cấp cập nhật kiến thức, kỹ năng cho các thành viên gia đình, giúp
họ có đủ năng lực để hoàn thành chức năng xã hội hóa giáo dục con người.
2. Sơ đồ mô hình Ban chỉ đạo:
tuổi
Hội
nông
dân
Lãnh đạo các
trường PT,
CS, Tiểu học,
Mầm non
Câu lạc bộ Câu lạc bộ Câu lạc bộ
Trưởng ban
(Lãnh đạo UBND xã)
21
Các thành viên trong Ban chỉ đạo cần:
+ Có tình cảm yêu mến trẻ em
+ Có kiến thức, hiểu biết về trẻ em, hiểu được tâm sinh lý từng cá thể,
từng nhóm và từng cộng đồng riêng biệt của trẻ em.
+ Nắm được đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với trẻ
em (qua các Nghị quyết, Chỉ thị, Văn bản…)
+ Biết phương pháp vận động quần chúng, vận động người lớn
để làm
tốt công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
2. Đối tượng tham gia mô hình
2.1. Cha
Với vai trò là người chủ gia đình, người cha thường thực hiện các chức
năng: kiếm sống, bảo vệ, chăm sóc các thành viên trong gia đình; định hướng
2.4. Anh chị
Anh/chị có vai trò
đắc lực trong việc giúp cha mẹ chăm sóc, trông nom,
bảo vệ trẻ. Ở cùng trang lứa nên anh/chị dễ gần gũi, hiểu biết tâm sinh lý của
trẻ hơn. Họ có thể cùng tham gia hướng dẫn trẻ những hoạt động vui chơi bổ
ích, những hành vi, thái độ và cách cư xử đúng đắn
2.5. Người giúp việc
Trong các gia đình ngày nay, nhu cầu thuê người giúp việc tăng nhanh.
Đặc biệt đối với cặp vợ ch
ồng có con nhỏ, nhu cầu này trở nên quan trọng và
cần thiết.
Người giúp việc là người trực tiếp chăm sóc đứa con trẻ, sống cùng gia
đình nên họ có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển, trưởng thành của
trẻ. Nếu người giúp việc có thân thiện, vui vẻ, chu đáo thì trẻ sẽ học được
nhiều điều hay. Nhưng nếu họ là người hay văng tục, hoặc mang sẵn tâm thế
u uất, không mấy khi cười nói thì sẽ có những ảnh hưởng xấu đến sự phát
triển tâm sinh lý và nhân cách của trẻ. 23
3. Các hoạt động của mô hình
3.1. Đào tạo - Tập huấn:
3.1.1. Cho đội ngũ cán bộ:
Tiến hành tập huấn, cung cấp kiến thức, kỹ năng và thông tin về công
tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em cho đội ngũ cán bộ, bao gồm:
- Cán bộ trong cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan đến các vấn
đề trẻ em như: ngành giáo dục, y tế, Lao động thương bình xã hội.
- Cán bộ trong công tác Đảng, đoàn thể liên quan đế