TTCP
VKHTT
THANH TRA CHÍNH PHỦ
Viện khoa học thanh tra
17 Cao Bá Quát BÁO CÁO TỔNG KẾT CHUYÊN ĐỀ
CÁC GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA VÀ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ CHỐNG THAM NHŨNG
Thuộc Đề tài độc lập cấp nhà nước:
“LUẬN CỨ KHOA HỌC CHO VIỆC XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC
PHÒNG NGỪA VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẤU TRANH
PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM CHO ĐẾN NĂM 2020”
_______________________
THỰC HIỆN CHUYÊN ĐỀ: ĐINH VĂN MINH
Mặc dù chúng ta đã nhận thức được tính nguy hại của tệ tham nhũng
và coi đó như là một nguy cơ lớn đe doạ sự sống còn của chế độ xã hội chủ
nghĩa và đã không ít nỗ lực trong đấu tranh với tệ nạn này nhưng trên thực
tế tham nhũng không những không giảm mà có chiều h
ướng ngày càng
phát triển trầm trọng hơn. Chính vì vậy điều quan trọng hiện nay là cần chỉ
ra được nguyên nhân đích thực của căn bệnh này, đánh giá đúng các giải
pháp mà chúng ta đã và đang thực hiện để từ đó tìm ra các giải pháp mới,
thực sự có hiệu quả trên tất cả các mặt tổ chức và hoạt động của bộ máy
nhà nước, của hệ thống chính trị c
ũng như trên mọi lĩnh vực của đời sống
kinh tế xã hội. Trên cơ sở đó xây dựng một chiến lược phòng, chống tham
nhũng toàn diện có hiệu quả với một lộ trình thích hợp nhất phù hợp với
điều kiện và hoàn cảnh Việt Nam cũng như xu thế hội nhập thế giới.
A/ TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN THAM NHŨNG
1. Tình hình tham nhũng
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đ
ã tăng cường đấu
tranh phòng, chống tham nhũng và đã đạt được một số kết quả nhất định.
Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị chỉ rõ ý nghĩa, tầm quan
trọng, mục tiêu, nhiệm vụ, những chủ trương, giải pháp chủ yếu của cuộc
đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Quốc hội, Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhi
ều văn bản pháp luật, tạo lập cơ sở
pháp lý khá vững chắc cho công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí ở
nước ta. Các văn bản nói trên được triển khai thực hiện, góp phần phòng
ngừa, ngăn chặn tình trạng tham nhũng.
Các cấp uỷ đảng và chính quyền, từ trung ương đến địa phương, đã
quan tâm hơn đến công tác kiểm tra, thanh tra, nhất là kiểm tra, thanh tra
(2)
Trong 5 năm (2001-2005) ngành Thanh tra đã tiến hành 58.664 cuộc thanh tra, tập trung vào lĩnh vực
đầu tư xây dựng, quản lý, sử dụng đất đai và các tổng công ty nhà nước có dấu hiệu tiêu cực; đã phát hiện
nhiều sai phạm, kiến nghị thu hồi 15 nghìn tỉ đồng, hơn 23 vạn USD và 51.839 ha đất và kiến nghị xử lý
hình sự 319 vụ với 721 đối tượng. Hàng ngàn vụ án, trong đó có nhiều vụ án tham nhũng lớn, phức tạp, gây
hậ
u quả nghiêm trọng đã hoặc đang được điều tra, xử lý, như: vụ án ở Chi cục Hải quan Cửa khẩu Tân
Thanh (Lạng Sơn); vụ án Lã Thị Kim Oanh ở Công ty tiếp thị đầu tư nông nghiệp và phát triển nông thôn;
các vụ án tại Công ty dịch vụ kỹ thuật dầu khí, Công ty xăng dầu Hàng không; vụ Ngô Thanh Lam ở Ngân
hàng ngoại thương Việt Nam (tham ô hơn 4,6 triệu USD); vụ tham nhũng ở Thanh tra Chính phủ; các vụ
tham nh
ũng về đất đai ở Phú Quốc (Kiên Giang), Đồ Sơn (Hải Phòng), vụ mua bán quota ở Bộ Thương
mại, vụ PMU 18 thuộc Bộ Giao thông -Vận tải Theo báo cáo của Bộ Công an, trong 5 năm, từ năm 2000
Đã xử lý kiên quyết và nghiêm minh hơn những cán bộ, đảng viên,
công chức sai phạm, trong đó có cả cán bộ cao cấp là Uỷ viên Trung ương
Đảng, bộ trưởng, thứ trưởng, bí thư tỉnh uỷ, thành uỷ, chủ tịch, phó chủ
tịch UBND tỉnh, thành phố, vụ trưởng, tổng giám đốc ; khắc phục một
bước tình trạng xử lý “nhẹ trên, nặng dưới”, xử lý nội bộ, tách ra để xử lý
sau như
ng sau đó không xử lý hoặc xử lý nhẹ.
Vai trò giám sát, tham gia của nhân dân trong công tác phòng, chống
tham nhũng, lãng phí được nâng cao và có những đóng góp thiết thực hơn.
Các cơ quan báo chí đã tích cực phát hiện, phanh phui nhiều vụ tham
nhũng, lãng phí lớn, góp phần thúc đẩy quá trình điều tra, truy tố và xét xử
nghiêm các vụ án, những cán bộ, đảng viên sai phạm.
Những việc làm và kết quả nêu trên đã có tác dụng nhất định trong
việc ngăn ngừa, kiềm chế tệ
tham nhũng, góp phần phát triển kinh tế- xã
hội, giữ vững ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội, củng cố quyết
+ Thiệt hại trong các vụ tham nhũng ngày càng lớn: nếu trong
những năm 1990, thiệt hại trung bình trong một vụ tham nhũng là 710 triệu
đồng thì từ năm 2000 đến năm 2004 là 810 triệu đồng/vụ, cá biệt có nhũng
vụ tham nhũng hàng tỷ, thậm chí hàng chục tỷ đồng như một số vụ trong
lĩnh vực dầu khí, ngân hàng ;
+ Tính chất, thủ đoạn tham nhũng ngày càng phức tạp, nguy hiểm,
tinh vi. Một bộ phận đảng viên, cán bộ, công chức coi việc tham ô, nhận
hối lộ là “luật bất thành văn”
(4)
. Những hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực diễn
ra công khai, trắng trợn, phổ biến ở nhiều nơi mà phần lớn nạn nhân là
(4)
Qua điều tra của Ban Nội chính Trung ương thấy rằng 1/3 số cán bộ, công chức được hỏi sẵn sàng nhận
hối lộ nếu có người đưa.
những người dân có thu nhập thấp, đã tạo ra tâm trạng bức xúc và những
“điểm nóng” về an ninh trật tự trong thời gian qua
(5)
.
Gần đây xuất hiện một số vụ tham nhũng xuyên quốc gia, thủ đoạn
tham nhũng tinh vi (sử dụng công nghệ cao để thực hiện và che giấu hành
vi phạm tội, khai thác triệt để sơ hở của cơ chế, chính sách, pháp luật, có tổ
chức, móc nối trên dưới, trong ngoài).
Tội phạm tham nhũng mang tính tổ chức ngày càng nhiều, liên quan
tới nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều địa ph
ương, thậm chí đã mang tính chất
quốc tế.
+ Đối tượng tham nhũng là những người có địa vị, chức vụ trong hệ
thống chính trị ngày càng cao, nhiều người có trình độ chuyên môn giỏi, có
kinh nghiệm quản lý và hiểu biết về pháp luật.
làm vừa rút kinh nghiệm để tiếp tục hoàn thiện. Cơ chế mới cũ kỹ vốn quen
thuộc bị thay thế nhưng nếp nghĩ thói quen thì vẫn còn, trong khi đó cơ chế
mới đang được hình thành còn sơ khai cả trong nhận thực và quá tình th
ực
hiện không khỏi lúng túng. Tình trạng "tranh tối tranh sáng" là mảnh đất tốt
cho tệ nạn tham nhũng phát triển.
2.1.2- Ảnh thưởng tiêu cực của nền kinh tế thị trường: Cùng với
những mặt tích cực, cơ chế thị trường cũng đã bộc lộ mặt trái của nó. Đó là
sự cạnh tranh khốc liệt, sự ngự trị của đồng tiền làm cho người sản xuất
kinh doanh có xu hướng tối đa hoá lợi nhuận bằng mọi giá, tìm cách hối lộ
công chức nhà nước để tạo lợi thế trong kinh doanh. Trong xã hội, sự phân
hoá giàu nghèo ngày càng rõ rệt, các giá trị xã hội bị đảo lộn, mọi người
đều bị sức ép của việc kiếm thật nhiều tiền, tâm lý mọi việc đều có thể mua
bán. Đây là điều chúng ta đã dự báo trước nhưng lại không kịp thời có biệ
n
pháp thích hợp để chủ động hạn chế ngay từ đầu cho nên từ mối lo về kinh
tế đến nay chuyển sang những mối lo về các tệ nạn xã hội.
2.1.3- Do ảnh hưởng của tập quán văn hoá: Trong tâm lý xã hội của
người Á đông nói chung và người Việt Nam nói riêng có rất nhiều khía
cạnh khiến cho tệ tham nhũng mà biểu hiện tập trung nhất là nạn quà cáp
hối lộ có cơ sở tồn t
ại và phát triển. Chuyện biếu xén quà cáp được coi là
một nét văn hoá của người Việt Nam. Trong dân gian cũng như trong hoạt
động quan trường thì quà cáp dường như là điều được dễ dàng chấp nhận.
Kết quả điều tra xã hội học cho thấy có đến 41% số người dân được hỏi
cho r»ng việc đưa quà cáp chỉ là “món quà nhỏ” cám ơn người đã giúp đỡ
mình giải quyết công việc.
2.2- Những nguyên nhân chủ quan
2.2.1- Hệ thống chính trị chậm đượ
c đổi mới, hoạt động của bộ máy
chẽ dẫn đến tình trạng ‘vô chủ”, thiếu trách nhiệm. Bộ máy nhà nước còn
cồng kềnh, nền hành chính chậm được cải cách. Những nhược điểm
đó đẻ
ra tệ quan liêu, tham nhũng và thiếu kỷ cương, tạo điều kiện cho tệ hối lộ,
hà lạm công quĩ, quấy nhiễu cấp dưới và nhân dân.
2.2.4- Cải cách hành chính vẫn còn chậm và lúng túng, cơ chế “xin –
cho” vẫn còn phổ biến; thủ tục hành chính phiền hà, nặng nề, bất hợp lý tạo
kẽ hở cho sự sách nhiễu, vòi vĩnh, ăn hối lộ. Chế độ công vụ của cán b
ộ,
công chức mới bắt đầu được quan tâm xây dựng, thiếu cơ chế kiểm tra,
giám sát có hiệu quả. Chế độ trách nhiệm của cán bộ, công chức thiếu rõ
ràng, cụ thể, đặc biệt là trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo đối với những sai
phạm, tiêu cực xảy ra trong cơ quan, đơn vị mình. Chế độ tiền lương đối
với đội ngũ cán bộ, công chức bất h
ợp lý, chậm được cải cách. Đồng lương
không đủ đảm bảo nhu cầu của cuộc sống là một động cơ thúc đẩy cán bộ,
công chức thực hiện hành vi tham nhũng, tiêu cực khi có điều kiện, cơ hội.
Công tác quản lý đất đai còn nhiều yếu kém, việc đăng ký quyền sử dụng
đất, cấp đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển giao quyền sử dụng đất…còn
nhiề
u kẽ hở, tạo điều kiện cho tiêu cực, sai phạm. Cơ chế quản lý tài chính
công, mua sắm công, quản lý đầu tư xây dựng cơ bản còn nhiều bất hợp lý,
vòng vèo, qua nhiều khâu, nhiều “cửa”. Đây chính là những lĩnh vực hay
xảy ra tham nhũng nhất trong thời gian vừa qua.
Việc kiểm soát và minh bạch hoá thu nhập và tài sản của cán bộ,
công chức gặp rất nhiều khó khăn và gần như không đạt kết quả mong
muốn. Chế định kê khai tài sản đối với cán bộ, công chức
đã được áp dụng
nhưng chỉ mang tính hình thức, một phần do chế độ quản lý tiền tệ và thanh
toán qua ngân hàng còn hết sức yếu kém.
2.2.9- Công tác giáo dục chính trị đạo đức tư tưởng nói chung, công
tác tuyên truyền, nâng cao nhậ
n thức của xã hội về tham nhũng và đấu
tranh chống tham nhũng mặc dù đã được quan tâm nhưng chưa tạo ra một
sự chuyển biến tích cực trong ý thức của xã hội trong việc phản ứng với tệ
nạn tham nhũng cũng như đề cao ý thức trách nhiệm của người dân trong
việc tham gia vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng.
3. Thiếu sót, khuyết điểm trong công tác đấu tranh chống tham
nh
ũng
3.1. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của một số cấp uỷ đảng, chính quyền, từ
trung ương đến cơ sở đối với công tác phòng, chống tham nhũng chưa kiên
quyết và chưa tập trung đúng mức; ở một số tổ chức đảng, sức chiến đấu
thấp, có nơi bị tê liệt; không ít cán bộ lãnh đạo còn nể nang, né tránh, dung
túng, bao che cho các hành vi tham nhũng, lãng phí.
3.2. Chính sách, giải pháp phòng, chống tham nhũng vẫn còn nửa
vời, thiếu nhất quán, tính khả thi còn thấp; một số văn bản có những quy
định không hợp lý hoặc lạc hậu nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung
(6)
.
3.3. Việc thực hiện các quy định về phòng, chống tham nhũng, chưa
nghiêm túc, thiếu thường xuyên, lời nói chưa đi đôi với việc làm, vẫn còn
tình trạng nói nhiều làm ít
(7)
.
3.4. Các cơ quan có chức năng chống tham nhũng chưa thật sự trong
sạch, vững mạnh, chưa đủ khả năng làm lực lượng nòng cốt trong cuộc đấu
tranh; năng lực chuyên môn của một số cán bộ, công chức còn hạn chế,
không ít cán bộ, công chức thiếu bản lĩnh và tính chiến đấu, một số bị tha
hoá, thậm chí tiếp tay, bao che, bảo kê cho bọn tội phạm. Cơ chế chỉ
Theo tổng kết của ngành Công an thì chúng ta chỉ phát hiện được khoảng 5% số vụ việc tham nhũng xảy
ra trong thực tế.
Những thiếu sót, khuyết điểm nói trên làm cho cuộc đấu tranh
phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt mục tiêu mà chúng ta đề ra;
chưa tạo được những chuyển biến cơ bản.
Nghiên cứu về tham nhũng và phòng, chống tham nhũng vốn là một
vấn đề hết sức khó khăn. Tuy nhiên quá trình triển khai nghiên cứu đề tài
này lại có những thuận lợi nhất định. Đó là việc nghiên cứu được tiến hành
trong bối cảnh vấn đề tham nhũng đang trở thành mối quan tâm lớn của toàn
Đảng và toàn dân ta. Một thuận lợi to lớn khi nghiên cứu vấn đề này là cùng
với việc ban hành và triển khai mạnh mẽ Luật phòng, chống tham nhũng,
Đảng đã quyết định ban hành Nghị quyết về tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng đối với công tác đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí. Chính trong
quá trình thảo luận và xây dựng Luật và Nghị quy
ết, có rất nhiều vấn đề vốn
là nội dung đang được nghiên cứu trong Đề tài này đã được thảo luận, tranh
luận hết sức sôi nổi. Một mặt những kết quả nghiên cứu đã được thẩm định
và không ít giải pháp đã được vận dụng ở những mức độ khác nhau trong
nội dung của Luật và Nghị quyết. Mặt khác có những vấn đề được nêu ra
trong quá trình th
ảo luận xây dựng Luật và Nghị quyết cần thiết phải tiếp
tục nghiên cứu một cách thấu đáo hơn đã trở thành những vấn đề đặt ra cần
tiếp tục được nghiên cứu. Bản thân các đồng chí trong Ban chủ nhiệm đề tài
cũng là những thành viên của Ban Chỉ đạo xây dựng Nghị quyết, Ban soạn
thảo Luật và trực tiếp tham gia Tổ biên tập của Luậ
t và Nghị quyết. Vì vậy
nhiệm vụ của đề tài này là tiếp tục phân tích và nêu ra các giải pháp cụ thể
trên cơ sở bảo đảm các luận cứ khoa học cả về lý luận và thực tiễn của nó
và tất nhiên cũng sẽ đưa ra cả những giải pháp mới có thể thực hiện ngay
hoặc cần thực hiện trong những năm tiếp theo với một tinh thần kế thừa và
toàn diện và có tính khả thi, phải tính cả đến các giải pháp trước mắt và giải
pháp lâu dài ; cả về con người và thể chế pháp luật hình thành một khung
chiến lược cho cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta
1.1 Mục tiêu:
Các giải pháp mà chúng ta thực hiện phải ngăn chặn, kiềm chế, từng
bước đẩy lùi tham nhũng; tạo bước chuyển biến rõ rệt trong cuộc đấu tranh
chống tệ nạn này trong cả bộ máy nhà nước và xã hội, góp phần củng cố
lòng tin của nhân dân vào đường l
ối chính sách của đảng và các cơ quan nhà
nước, bảo đảm giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế-xã hội, xây
dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, xã hội công khai, minh bạch, dân chủ,
kỷ cương, đội ngũ cán bộ, công chức liêm chính.
Trước mắt, hạn chế xảy ra tham nhũng lớn, nghiêm trọng; giảm hẳn
lãng phí, nhũng nhiễu, tham nhũng nhỏ, lẻ, nhất là trong các lĩnh vực cung
cấ
p dịch vụ công, tạo ra một bước chuyển căn bản về nhận thức và hành
động của cán bộ, công chức trong mối quan hệ giữa công dân và các cơ
quan hành chính nhà nước.
1.2 Quan điểm và những định hướng lớn trong phòng, chống
tham nhũng:
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của
cả hệ thống chính trị và của toàn dân; kết hợp đồng bộ
các biện pháp chính
trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế, hình sự;
- Vừa tích cực, chủ động phòng ngừa, vừa kiên quyết đấu tranh chống
tham nhũng, trong đó phòng ngừa là chính. Gắn phòng, chống tham nhũng,
với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát huy dân chủ, thực hành tiết kiệm,
chống chủ nghĩa cá nhân, chống quan liêu;
- Phòng, chống tham nhũng vừa là nhiệm vụ cấp bách, vừa là nhiệm
vụ lâu dài, phải tiế
tham nhũng…Tuy nhiên trong một chừng mực nhất định thì có những biện
pháp thể hiện rõ, nhấn mạnh mục tiêu phòng ngừa tham nhũng, chẳng hạn
công tác giáo dục đạo đức tư tưởng hay việc hoàn thiện cơ chế chính sách
pháp luật về quản lý kinh tế-xã hội, hoặc mục đích phát hiện (hoạt động
thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, việc tiếp nhận và giải quyết tố cáo tham
nhũng…) hay mục đích xử lý (các chế tài thể hiện chính sách hình sự…)
Một vấn đề nữa có ý nghĩa phương pháp luận khi muốn đưa ra một hệ
thống các giải pháp đấu tranh chống tham nhũng thì cần thống nhất bắt đầu
từ yếu tố nào? yếu tố nào có thể được lựa chọn làm trung tâm cho hệ thống
các giải pháp đó?
Các giải pháp nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng có thể
hiểu một cách đơn giản là những biện pháp tác động vào các yếu tố, đối
tượng…để tham nhũng không xảy ra hoặc đã xảy ra thì bị phát hiện nhanh
chóng, kịp thời ngăn chặn và xử lý nghiêm khắc. Nhìn về phương diện khoa
h
ọc thì các yếu tố đó có thể sẽ bao gồm chủ thể của sự tác động, đối tượng
của sự tác động, phương thức tác động…Chẳng hạn, nêu căn cứ vào chủ thể
tiến hành các biện pháp thì có thể lần lượt nghiên cứu vai trò và hiệu quả
hoạt động của các thành tố trong hệ thống chính trị tiếp đến là các cơ quan
chức năng được coi là có trách nhiệm trự
c tiếp đến đấu tranh chống tham
nhũng (mà chúng ta vẫn thường gọi là các cơ quan nội chính…) Nếu căn cứ
vào đối tượng tác động thì có thể lấy đối tượng là cán bộ, công chức hoặc
nói rộng ra là những người thay mặt nhà nước thực hiện quyền lực, bởi vì
đây là nhóm đối tượng có nguy cơ tham nhũng nhất vì tham nhũng luôn gắn
với yếu tố lợi dụng quyền lực t
ừ đó kiểm soát quyền lực là một biện pháp
đấu tranh chống tham nhũng…Nếu coi phương thức của sự tác động là quan
trọng thì lại có thể nhìn nhận từ hệ thống pháp luật, bao gồm cả pháp luật
quản lý và pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự…
Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu, mang tính cơ bản lâu dài mà
lâu nay chúng ta chưa thực sự coi trọng. Mặc dù luôn đề cao công tác giáo
dục đạo đức chính trị tư tưởng nhưng có thể thẳng thắn mà thừa nhận rằng ở
nhiều nơi, nhiều lúc công tác này còn được làm rất hình thức qua loa, chiếu
lệ và hậu quả rất thấp. Giữa nói và làm, giữa nghị quyết của Đảng, pháp luật
của Nhà nước và cuộc sống, giữa chủ trương, biện pháp đề ra và thực tiễn
thi hành còn một khoảng cách khá xa. Chính vì vậy chúng ta cần phải đổi
mới cả tuy duy và cách làm trong việc giáo dục đạo đức chính trị tư tưởng,
trong tuyên truyền giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân để nâng cao
nhận thức và ý thức trách nhiệm trong phòng chố
ng tham nhũng
Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến quan điểm, chủ trương,
chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về công tác phòng, chống
tham nhũng, nhất là Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết
kiệm, chống lãng phí. Toàn thể cán bộ, đảng viên phải đạt tới một nhận thức
thống nhất và đầy đủ về những tác động tiêu cực của tham nhũng đố
i với sự
phát triển đất nước nói chung, đối với đạo đức, công lý và công bằng xã hội
nói riêng. Tất cả các trường đào tạo về chính trị, hành chính và bồi dưỡng
cán bộ, công chức của các bộ, ngành, địa phương phải có nội dung đào tạo
về sự liêm chính trong hoạt động công vụ. Phải coi vấn đề nhận thức về
tham nhũng và đấu tranh chống tham nhũng là những yêu cầu không thể
thiếu đối với mọi công chức nhà nước nhất là những người giữ vị trí lãnh
đạo, quản lý.
Tiến hành cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh” về chống tham ô, lãng phí, chống chủ nghĩa cá nhân vị kỷ,
làm cho toàn Đảng, toàn dân nhận thức sâu sắc về yêu cầu học tập và làm
theo tấm gương đạo đức “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
”; tạo nên
ống và những đặc
điểm về truyền thống, tâm lý của các đối tượng khác nhau để bảo đảm
hiệu quả của công tác này. Công tác giáo dục đạo đức, lối sống, lý tưởng, sự
mẫn cán, liêm chính của những người cán bộ công chức, tính tiên phong
gương mẫu của người đảng viên, người lãnh đạo Cuộc vận động này phải
được làm thường xuyên sâu rộng, tránh hình thức « đầu voi đuôi chuột »,
tranh khô khan cứng đờ, sáo rỗng vốn là hình ảnh hiện nay của công tác
giáo dục, tuyên truyền
Nâng cao khả năng « tự đề kháng, tự miễn dịch » trước những tác
động tiêu cực từ bên ngoài xã hội và sự cám dỗ của tiền bạc vật chất cùng
lối sống vị kỷ tầm thường, tạo yếu tố nội sinh, thái độ vững vàng của cán
bộ, đảng viên trước mọi tình huống.
2.2 Các giả
i pháp nhằm tăng cường kiểm soát hoạt động công vụ của
cơ quan, tổ chức và kiểm soát cán bộ công chức
Mặc dù tham nhũng đang có những diễn biến mới phức tạp khi chúng
ta chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa nhưng xuất phát từ đặc trưng cơ bản của tham
nhũ
ng là phải dựa trên yếu tố quyền lực cho nên sự tác động trước hết phải
nhằm vào các cơ quan tổ chức và cán bộ công chức nhà nước. Cụ thể hơn là
phải tăng cường sự kiểm soát hoạt động của các cơ quan nhà nước và cán bộ
công chức nhà nước những người được giao thực thi quyền lực. Ở nước ta
quyền lực không chỉ do các cơ quan nhà nước thực hi
ện mà còn thông qua
hệ thống chính trị mà luật gọi chung là cơ quan, tổ chức đơn vị, với đội ngũ
cán bộ, công chức, bao hàm những người làm việc trong các cơ quan nhà
nước, tổ chức đảng, đoàn thể và cả doanh nghiệp của nhà nước. Chúng ta
thường gọi chung là "khu vực nhà nước". Công khai minh bạch để đặt hoạt
động của bộ máy nhà nước dưới sự kiểm soát, giám sát chặt chẽ. Sự kiể
Chính phủ xem xét danh mục các nội dung bí mật do các cơ quan, tổ chức
đề nghị.
- Nội dung đó có thuộc nội dung bắt buộc phải công khai mà luật đã
xác định hay không?
- Nội dung đ
ó có cần thiết phải bí mật hay không?
2.2.1.2 Ban hành cơ chế công khai minh bạch và quyền tiếp cận của
công dân đối với thông tin về hoạt động của cơ quan tổ chức.
Đây là biện pháp bảo đảm thực hiện nguyên tắc công khai. Cần cụ thể
hoá trách nhiệm của các cơ quan tổ chức trong việc thực hiện công khai
trong hoạt động của cơ quan, tổ chức mình, qui định các hình thức công
khai bắt buộc hoặc lựa chọn. Nghiên cứ
u ban hành Luật về quyền tiếp cận
thông tin về hoạt động của cơ quan, tổ chức của công dân như ở nhiều nước
trên thế giới đã có. Trong đó xác định quyền của người dân được tiếp cận,
sao chụp, khảo cứu các tài liệu thông tin của cơ quan tổ chức (không nằm
trong danh mục bí mật); trách nhiệm của cơ quan tổ chức trong việc cung
cấp hoặc trả
lời yêu cầu của công dân về thông tin liên quan đến trách
nhiệm của cơ quan tổ chức mình; trách nhiệm kỷ luật đối với cơ quan, tổ
chức hoặc người có trách nhiệm nếu vi phạm
Công khai, minh bạch là một chủ trương lớn để xây dựng xã hội dân
chủ, nhà nước pháp quyền, đồng thời là một chính sách, biện pháp rất quan
trọng để ngăn chặn tham nhũng. Cốt lõi của một nề
n dân chủ là sự tham gia
tích cực và có ý nghĩa của người dân vào các quyết định của Chính phủ
« Một Chính phủ của đại chúng mà không có thông tin rộng rãi hoặc không
có phương tiện để có được những thông tin đó thì chỉ là đoạn mở đầu của
một tấn bi kịch hoặc hài kịch hay có thể là của cả hai » (James Madison,
1822)
những thông tin đó không thuộc bí mật nhà nước và việc thực hiện quyền
tiếp cận đó không ảnh hưởng đến lợi ích của người khác. Công ước của
Liên hợp quốc về chống tham nhũng mà Việt Nam đã ký kết và trong quá
trình phê chuẩn đã có những nguyên tắc khá rõ ràng trong vấn đề này
1. Mỗi quốc gia thành viên của Công
ước, trong khả năng có thể và
phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp nước mình, áp dụng các