Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
1
PHÂN TÍCH ƯU – NHƯỢC ĐIỂM CÁC NGUỒN TÀI TRỢ DAPT
Nội Dung
I. Những vấn đề chung về nguồn tài trợ DAPT:
Nguồn tài trợ DAPT và vai trò của nguồn tài trợ DAPT
DAPT là những dự án có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của quốc
gia. Nó nhằm tới hai mục tiêu chính là hiệu quả tài chính và hiệu quả xã hội.
Một DAPT phải trải qua chu trình của nó với 3 giai đoạn chính, từ giai
đoạn chuẩn bị và phê duyệt dự án; đến giai đoạn đầu tư và đi vào vận hành quản
lý, khai thác.
Ngay từ khi dự án còn nằm trên những trang giấy, những nhà hoạch định
dự án không chỉ quan tâm đến đầu ra mà còn đặt nhiều mối quan tâm ngay từ
đầu vào cho dự án. Yếu tố đầu vào quan trọng nhất của DAPT chính là nguồn
vốn tài trợ.
Nguồn vốn tài trợ cho dự án hay lượng tư bản đóng góp vào để hình thành
nên dự án. Nó đóng vai trò sống còn cho 1 DAPT, quyết định sự tồn tại của dự
án và ảnh hưởng lớn tới tiến trình hoàn thành dự án.
Vì vậy, việc thiết kế nguồn tài trợ hợp lý sẽ tạo ra được phương án huy
động vốn tối ưu cho DAPT.
Đặc điểm nguồn tài trợ cho DAPT
Do bản thân DAPT mang những đặc trưng riêng biệt nên nó cũng đòi hỏi
nguồn tài trợ có những yêu cầu phù hợp.
Thứ nhất, DAPT thực hiện chiến lược phát triển tầm cỡ quốc gia, do đó,
qui mô của 1 DAPT rất lớn. Vì vậy, nguồn tài trợ cho DAPT thường gồm nhiều
nguồn khác nhau (hay còn được gọi là đồng tài trợ), để đảm bảo tập trung vốn
với khối lượng lớn trong thời gian ngắn.
Thứ hai, thời gian thực hiện DAPT thường kéo dài, dấn đến, vốn tài trợ
cho DAPT được coi như là nguồn vốn trung và dài hạn. Vì thế, nguồn tài trợ cho
DAPT cũng phải là nguồn vốn trung và dài hạn, để đảm bảo thời gian hoàn trả
vốn cho nhà đầu tư.
Hình thức
tài trợ
- thặng dư
NSNN
- Phát hành
TPCP
- Tài trợ ưu đãi
qua các chtr tin
dụng của Cp
- Huy động trên
tt
- Cho vay trung – dài
hạn
- các chương trình
hỗ trợ phát triển
- Vốn đầu tư trực
tiếp hoặc gián tiếp
DA ưu tiên
DA sinh lời
thấp, rủi ro cao
hoặc DA k có
khả năng hoàn
trả
DA đầu tư và
XNK lớn, rr cao ,
DA PT vùng.
DAPT có hiệu
quả TC
DA có hiệu quả kinh
tế, RR thấp
dài Dài từ 10-15 năm Không dài Dài, được ân hạn
Chủ dự án đứng trước những sự lựa chọn này, cần phải đưa ra những
quyết định:
- DAPT cần bao nhiêu vốn?
- Vốn được huy động từ những nguồn nào?
- Sử dụng nguồn vốn đó ntn để hiệu quả?
Mức độ ưu tiên sử dụng vốn theo đó thường được các chủ dự án cân
nhắc giữa lợi ích và chi phí theo tiêu chí tối đa lợi ích và giảm thiểu chi phí.
- Vốn chủ vốn vay
3
- Vốn trong nước vốn ngoài nước
- Vốn có lãi suất thấp vốn có lãi suất cao
II. Các nguồn tài trợ cho DAPT
Nguồn Ngân sách nhà nước (NSNN)
NSNN là một nguồn quan trọng đối với DAPT, nhất là đối với những
DAPT tầm cỡ quốc gia và liên quan đến lợi ích xã hội.
Theo Luật Ngân sách Nhà nước đã được Quốc hội Việt Nam thông qua
16/12/2002 định nghĩa: NSNN là toàn bộ các khoản thu chi của NN trong dự
toán đã được cơ quan NN có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong
một năm để đảm bảo các chức năng và nhiệm vụ của NN.
2.1.1. Vai trò
- Vai trò huy động các nguồn Tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của
Nhà nước .
- Ngân sách Nhà nước là công cụ điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và
chống lạm phát.
- Ngân sách Nhà nước là công cụ định huớng phát triển sản xuất.
- Ngân sách Nhà nước là công cụ điều chỉnh thu nhập giữa các tầng lớp
dân cư .
Các vai trò trên của Ngân sách nhà nước cho thấy tính chất quan trọng của Ngân
sách nhà nước, với các công cụ của nó có thể quản lý toàn diện và có hiệu quả
• Chi ngân sách nhà nước: Chi ngân sách là một công cụ của chính sách
tài chính quốc gia có tác động rất lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế. Đ ó
là việc phân phối, sử dụng nguồn Thu ngân sách vào các khoản chi tiêu khác
nhau nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu của Nhà nước.
5
- Chi đầu tư phát triển: là những khoản chi mang tính chất tích lũy phục
vụ cho quá trình tái sản xuất mở rộng gắn với việc xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm
tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi cho việc bỏ vốn đầu tư của các doanh
nghiệp vào các lĩnh vực cần thiết, phù hợp với mục tiêu của nền kinh tế. (như
chi mua sắm máy móc, thiết bị và dụng cụ, chi cho xây dựng mới và tu bổ
đường, trường, công sở, kiến thiết đô thị, chi cho thành lập các DNNN...)
- Chi thường xuyên: Bao gồm các khoản chi cho tiêu dùng xã hội gắn liền
với chức năng quản lý xã hội của nhà nước, khoản chi này được phân thành hai
bộ phận: một bộ phận vốn được sử dụng để đáp ứng nhu cầu của dân cư về phát
triển văn hóa xã hội, nó có mối quan hệ trực tiếp đến thu nhập và nâng cao mức
sống của dân cư và một bộ phận phục vụ cho nhu cầu quản lý kinh tế xã hội
chung của nhà nước.
Chi tiêu dùng thường xuyên bao gồm các khoản chi sau đây:
o Chi quản lý hành chính
o Chi văn hóa, giáo dục, y tế
o Chi quốc phòng
o Chi trợ cấp
Nhu cầu chi thường xuyên thường rất cấp bách tại các nước
nghèo.Do vậy Khoản thặng dư (được hiểu là chi cho đầu tư phát triển) sẽ được
ưu tiên dành cho các dự án không có khả năng hoàn trả
Trái phiếu Chính phủ
• Trái phiếu: Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của
người phát hành (người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán
(người cho vay) một khoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thời
tiêu lớn, do đó tình trạng phổ biến thường là bội chi ngân sách .
7
Bội chi ngân sách không chỉ diễn ra phổ biến đối với các nước nghèo,
kém phát triển mà xảy ra ngay cả đối với những nước thuộc nhóm các nền kinh
tế phát triển nhất (nhóm OECD). Đối với các nước đang phát triển, bội chi ngân
sách thường để đáp ứng nhu cầu rất lớn về đầu tư cơ sở hạ tầng ban đầu như:
Giao thông, điện, nước... Nhiều nước phát triển và đang phát triển trong khu vực
Đông Á và Đông Nam Á cũng vẫn bội chi ngân sách.
V í d ụ: Theo thống kê của Bộ Tài chính, thu NSNN 2009 cả năm ước đạt
390.650 tỉ đồng, bằng 100,2% dự toán (vượt hơn 750 tỉ đồng). Trong khi đó,
tổng chi NSNN năm 2009 ước đạt 533.005 tỉ đồng.Như v ậy, bội chi ngân sách
nhà nước (NSNN) năm 2009 là 115.900 tỉ đồng, bằng 6,9% GDP, tăng 28.600 tỉ
đồng so với dự toán.( Theo dự toán l à 4.82%GDP)
Trong tổng chi NSNN, chi đầu tư phát triển ước đạt 135.500 tỉ đồng,
chiếm 25,4% tổng chi NSNN và bằng 8,1% GDP, xấp xỉ mức thực hiện năm
2008; chi trả nợ và viện trợ cả năm ước đạt 64.800 tỉ đồng, tăng 10,2% so với dự
toán; chi thường xuyên ước thực hiện cả năm đạt 332.605 tỉ đồng
Cũng theo tính toán trên, bội chi NSNN năm 2010 dự kiến là 119.700 tỉ
đồng, tương ứng 6,2% GDP. Khoản bội chi này sẽ được bù đắp từ: vay trong
nước (98.700 tỉ đồng) và vay ưu đãi ngoài nước (21.000 tỉ đồng).
- Chất lượng nhiều công trình từ nguồn ngân sách Nhà nước không đảm
bảo chất lượng, nhanh chóng xuống cấp.
Ví dụ: 31/3/2010: Dự án Sửa chữa mặt cầu Thăng Long (Hà Nội) do Ban
Quản lý dự án 2, Cục Đường bộ Việt Nam làm chủ đầu tư, với tổng kinh phí gần
100 tỷ đồng. Nhưng chỉ sau một tháng đưa vào sử dụng, mặt cầu đã xuất hiện
nhiều vết nứt, lún.
Dự án Sửa chữa mặt cầu Thăng Long do Ban Quản lý dự án 2, thuộc Cục
Đường bộ Việt Nam làm chủ đầu tư. Đơn vị thiết kế, và giám sát thi công là
Viện Khoa học công nghệ (Bộ Giao thông Vận tải). Công ty Cổ phần đầu tư và
xây dựng Bảo Quân là đơn vị thi công. Công trình này đã sử dụng loại bê tông
Bà - Hải Phòng 23,52 tỷ đồng, hoàn thành rồi không hoạt động;
Hạng mục vườn ươm Thanh Táo, Công trình tuyến tránh Hà Nội - Cầu
Giẽ đầu tư 1,2 tỷ đồng đến nay bỏ hoang...
9
Ngoài ra, tình trạng đầu tư dàn trải, manh mún chậm được khắc phục, dẫn
đến nhu cầu vốn cho các dự án vượt quá khả năng ngân sách. Điều này dẫn đến
tình trạng có dự án phải kéo dài gần 20 năm.
Điển hình, Dự án đầu tư xây dựng trường Đại học Hàng Hải triển khai từ
năm 1981 đến nay chưa xong do không bố trí đủ vốn.
- Tình trạng giải ngân các dự án có nguồn vốn NS còn chậm.
Ví dụ: Theo báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tài chính - Ngân sách, việc giải
ngân các khoản vốn đã được duyệt cho năm 2009 tại hầu hết các địa phương đều
chậm. Tính đến hết ngày 31/5, vốn trái phiếu Chính phủ mới giải ngân được
khoảng 5.336 tỷ đồng, bằng 18,4% kế hoạch. Trong đó, Trung ương đạt 3.771 tỷ
đồng, đạt 21,6% kế hoạch, địa phương đạt 1.565 tỷ đồng, đạt 16,6% kế hoạch.
Giải ngân nguồn vốn trái phiếu Chính phủ cũng chậm, kể cả huy động và tiến
độ thực hiện, những dự án ưu tiên như y tế, trường học cũng đạt kết quả rất thấp.
Nguyên nhân của tình trạng giải ngân chậm nguồn vốn.
o Do công tác chuẩn bị đầu tư chậm.
o Do giải phóng mặt bằng chậm. …
o Do tổ chức thi công chậm.
o Do nghiêm thu, thanh toán chậm.
o Do công tác chỉ đạo, điều hành của cơ quan chủ quan đầu tư
(các bộ, địa phương) chưa sát sao, kiên quyết
- Nợ đọng XDCB ở nhiều dự án đầu tư thuộc nguồn NSNN còn lớn.
-
Quản lý tài chính trong dự án đầu tư còn lỏng lẻo gây thất thoát vốn NS.
Bệnh thành tích. Chỉ coi trọng tăng trưởng về số lượng, tốc độ tăng trưởng mà
không coi trọng chất lượng tăng trưởng kinh tế
Đối với nguồn trái phiếu chính phủ (TPCP)
11
lắp máy Việt Nam đầu tư bổ sung các dự án lọc hóa dầu Dung Quất, dự án xây
dựng thủy điện Xê Ca Mản 3, nhà máy thủy điện Hủa Na và mua tàu vận tải
biển). Trước đó, vào tháng 10/2005, Việt Nam cũng đã hoàn thành đợt chào bán
trái phiếu quốc tế đầu tiên với giá trị phát hành là 750 triệu USD, thời hạn 10
năm và lợi suất 7,125% sau đó cho Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam
vay lại.
Trái phiếu quốc tế do Việt Nam phát hành thành công nhưng TPCP bằng
ngoại tệ phát hành trong những đợt gần đây, đặc biệt trong năm 2009 đều không
thu được kết quả như mong muốn, nguyên nhân chính là do vấn đề lãi suất
không hấp dẫn. Đợt phát hành thứ nhất vào tháng 3/2009, 3 lần đấu thầu chỉ huy
động được 230,11 triệu USD trong tổng số 300 triệu USD được đưa ra mời thầu.
Đợt 2 vào tháng 8/2009, trái phiếu ngoại tệ kỳ hạn dài số lượng bỏ thầu rất ít.
Trong đó, cả 3 phiên chỉ huy động được 100 triệu USD/100 triệu USD trái phiếu
chào bán kỳ hạn 1 năm; 47 triệu USD/100 triệu USD trái phiếu kỳ hạn 2 năm;
và 10 triệu USD/50 triệu USD trái phiếu kỳ hạn 3 năm. Đợt phát hành thứ 3, và
thứ 4 vào ngày 29/12/2009, kết quả chỉ huy động được 73 triệu USD trong tổng
số 200 triệu USD giá trị trái phiếu gọi thầu, đạt 36,5%. Tỷ lệ huy động thành
công có xu hướng giảm dần theo từng đợt phát hành kể từ đầu 2009 tới nay.
Năm 2010, vốn trái phiếu Chính phủ là 56.000 tỷ đồng. Trong đó, bố trí
vốn cho 5 Bộ: Quốc phòng, Giao thông vận tải, Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, Y tế, Công an là 20.200 tỷ đồng; giao cho 63 tỉnh, thành là 35.800 tỷ đồng.
Số vốn dành cho giao thông là 28.000 tỷ đồng, thủy lợi 13.600 tỷ đồng, y
tế 5.600 tỷ đồng, kiên cố hóa trường lớp học và nhà công vụ cho giáo viên là
4.500 tỷ đồng, ký túc xá sinh viên là 2.000 tỷ đồng và di dân tái định cư thủy
điện Sơn La 1.500 tỷ đồng.
Vay Ngân hàng phát triển ( NHPT)
Ngân hàng phát triển là một tổ chức tài chính của Chính Phủ, có nhiệm vụ
tổ chức nguồn vốn cho dự án phát triển.
12
thông lệ quốc tế là lãi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 5 năm cộng thêm một
khoản phí nhất định (khoảng 1%/năm).
- Thời hạn cho vay dài sẽ giúp cho đối tượng vay vốn chủ động hơn
trong kế hoạch sản xuất. Hơn nữa, việc khấu hao máy móc, nhà xưởng, v.v.
cũng được dài hơn nên khách hàng vay vốn có điều kiện tích lũy để tái sản xuất
và mở rộng đầu tư. Do vậy, thông qua NHPT, vốn ưu đãi được quay vòng có
hiệu quả hơn.
- Điều kiện cho vay của ngân hàng phát triển đơn giản hơn so với vay
từ các NHTM khác như không phải thế chấp, hoặc nếu có thì tỷ lệ thế chấp ở
mức tương đối thấp, bằng 30% giá trị khoản vay. Trong tương lai, ngân hàng có
dự định trình Chính phủ giảm mức thế chấp xuống còn 15% giá trị khoản vay.
DNNVV được VDB bảo lãnh sẽ mất 0,5% phí bảo lãnh trên tổng số vốn vay
nhưng lãi suất vay vốn vẫn thấp hơn lãi suất trên thị trường, thậm chí ngân hàng
có thể được hỗ trợ 4% lãi suất vay vốn.
2.2.3. Nhược điểm
Nguồn vốn cho vay theo diện bảo lãnh này vẫn chưa nhiều; thậm chí có
ngân hàng chưa cho vay được một đồng vốn nào, chỉ vì chưa có DN nào được
VDB bảo lãnh vay vốn. Nguyên nhân là do: Chương trình bảo lãnh của VDB
cho các DN vay vốn từ NHTM là một chương trình dành cho các tín dụng dưới
chuẩn, mà đã là tín dụng dưới chuẩn thì các điều kiện cần phải nới lỏng. Tuy
nhiên, điều kiện để áp dụng cho các DN được VDB bảo lãnh là những điều kiện
rất khó khăn. Và thực ra, người ta đã vay đâu mà có tiền để thực hiện bảo lãnh
cho VDB.
2.2.4. Ví dụ
Theo tin từ Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB), VDB sẽ cung ứng
15.000 tỷ đồng tín dụng cho xuất khẩu và 26.400 tỷ đồng tín dụng đầu tư để
14