Kinh nghiệm từ các nước trên thế giới về thanh tra, giám sát ngân hàng thương mại - Pdf 13

KINH NGHIỆM TỪ CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ
THANH TRA, GIÁM SÁT NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Vấn đề giám sát ngân hàng luôn nhận được sự quan tâm lớn từ các nhà
nghiên cứu cũng như các nhà hoạch định chính sách, nhất là sau cuộc khủng hoảng
tài chính toàn cầu 2008 với sự đổ vỡ của hàng hoạt ngân hàng. Theo World Bank,
hệ thống tài chính ổn định là nền tảng cho sự phát triển kinh tế và cắt giảm nghèo
đói ở các nước đang phát triển. Việc giám sát ngân hàng thương mại có vai trò rất
lớn trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống tài chính.
Tuy có sự khác biệt về mức độ phụ thuộc thị trường và sự can thiệp của chính phủ
nhưng vấn đề quy định giám sát các lĩnh vực trong nền kinh tế đều được quan tâm,
nhấn mạnh như sau:
I. Tăng cường các chuẩn mực giám sát
Hiện nay, các chuẩn mực giám sát hệ thống ngân hàng được đặc biệt chú trọng
tăng cường mạnh mẽ hơn khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn câù 2008 đã cho
thâý những tổn thương của hệ thống tài chính xuất phát chủ yêú từ những yếu kém
trong hệ thống ngân hàng cũng như sự buông lỏng trong quản lý giám sát hệ thống
ngân hàng.
Chính vì vâỵ, Ủy ban Basel cùng các nhà lãnh đạo của các nước G20 đã thống nhất
áp dụng Basel III từ tháng 1/2013 vơí những quy định mơí về khái niệm và các tiêu
chuẩn tôí thiêủ cao hơn cùng vơí phương pháp giám sát an toàn vĩ mô hiêụ quả
hơn, theo lộ trình từ 2013 đến 2019.
Nhằm đảm bảo an toàn về vốn (vơí 3 trụ cột chính: dự phòng rủi ro; quản lý và
giám sát rủi ro; kỷ luật thị trường) và an toàn thanh khoản, Basel III tăng cường
các chuẩn mực giám sát theo các hướng sau:
1. Nâng cao chất lượng vốn nhằm giúp các ngân hàng có khả năng bù đắp các
khoản lỗ tốt hơn, từ đó tăng khả năng chống đỡ tốt hơn trước các cú sốc
2. Yêu câù các ngân hàng bổ sung thêm vốn, theo đó, tỷ lệ an toàn vốn tôí
thiêủ vẫn là 8% nhưng tỷ lệ của loại vốn có chất lượng cao được nâng lên (tỷ
lệ vốn cấp 1 tăng từ 4% lên 6%, tỷ lệ vốn của cổ đông thường cũng được
tăng từ 2% lên 4,5%)
3. Quy định về tiêu chuẩn thanh khoản cũng yêu câù các ngân hàng nắm giữ

Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2008 đã cho thấy những bất cập trong
giám sát tài chính, đồng thời chỉ ra những yếu kém trong việc chia sẻ thông tin
và phối hợp hoạt động giữa các cơ quan giám sát cấp quốc gia. Hệ thống giám
sát tài chính tại nhiều quốc gia không phát hiện kịp thời những rủi ro trong hệ
thống tài chính và tác động của nó, nên không thể xử lý được khủng hoảng, đặt
ra yêu cầu cấp thiết là phải nhanh chóng hoàn thiện mô hình tổ chức và qui
trình thanh tra thống nhất cả ở cấp vi mô và cấp vĩ mô.
Tùy theo sự phát triển của thị trường tài chính, thể chế chính trị và đặc điểm của
nền kinh tế, các quốc gia sẽ lựa chọn mô hình giám sát thích hợp, bao gồm:
1. Mô hình giám sát theo định chế
2. Mô hình giám sát theo chức năng
3. Mô hình giám sát hợp nhất
4. Mô hình giám sát hai đỉnh
Cụ thể:
 Đối với mô hình giám sát theo định chế, tư cách pháp nhân của
định chế tài chính sẽ quyết định cơ quan giám sát, mô hình này
được các quốc gia lựa chọn khi xây dựng cơ chế giám sát tài chính
ở giai đoạn đầu, khi có sự phân định rõ ràng giữa các lĩnh vực ngân
hàng, bảo hiểm, chứng khoán và giao cho các đơn vị chủ quản thực
hiện quản lý và giám sát. Mô hình này được áp dụng tại Trung
Quốc sau năm 1883, Hàn Quốc trước năm 1998, Latvia trước năm
2000.
 Mô hình giám sát của ngân hàng Trung Quốc:
Hệ thống quản lý tài chính của Trung Quốc đảm nhiệm chức năng phát triển thị
trường tài chính và nên kinh tế bao gồm Ngân hàng TW Trung Quốc và 3 cơ quan
song song giám sát định chế bao gồm Ủy ban quản lý chứng khoán Trung
Quốc( CSRC), Ủy ban quản lý ngân hàng Trung Quốc( CBRC), Ủy ban quản lý
bảo hiểm Trung Quốc(CIRC). Một số cơ quan quản lý ngân hàng bao gồm:
- Bộ tài chính
Bộ tài chính như một thành viên của Hội đồng nhà nước chịu trách nhiệm

chính sách tiền tệ, tài khóa, và tín dụng. Nó cũng có trách nhiệm giám sát
bao gồm việc hướng dẫn phân bổ nguồn quỹ của các định chế tài chính, và
giám sát khả năng thanh toán, thanh khoản của các định chế tài chính. CMN
có thẩm quyền dự thảo qui định thực thi pháp luật được ban hành bởi quốc
hội. Các qui tắc do CMN đề ra thường được gọi là “Nghị quyết” và phải
tuân theo bởi tất cả các cơ quan của hệ thống tài chính bao gồm Ngân hàng
trung ương Brazil(BCB) và Ủy ban chứng khoán và thị trường chứng khoán
(CVM)
- Ngân hàng trung ương Brazil(BCB)
Bộ tài chính(MOF)
Ngân hàng Trung ương
Trung Quốc
Hội đồng nhà nước
Ủy ban chứng
khoán TQ(CSRC)
Ủy ban quản lý ngân
hàngTQ(CBRC)
Ủy ban quản lý
bảo hiểm TQ(CIRC)
Cục quản lý ngoại hối
Trung Quốc
Chứng khoán
Ngân hàng
Bảo hiểm
BCB chịu trách nhiệm duy trì sức mua của đồng tiền quốc gia và giám sát sự
ổn định của hệ thống tài chính. Nó có cơ quan chính thức để giám sát tất cả
các định chế tài chính và có trách nhiệm cấp giấy phép.
Là cơ quan quản lý tiền tệ, BCB có vai trò là người cho vay cuối cùng. Cơ
quan này cũng có thẩm quyền can thiệp khi cần thiết và trừ khử các định chế
tài chính nếu sự tồn tại của nó là mối đe dọa đến sự an toàn và lành mạnh

Ủy ban chứng khoán
và thị trường chứng
khoán(CVM)
Hội đồng quốc gia
bảo hiểm tư
nhân(CNSP)
Hội đồng hưu trí bổ
sung(CPGC)
Ngân hàng Chứng khoán
Giám sát bảo hiểm tư
nhân
Văn phòng hưu trí bổ
sung
một ngân hàng và cơ quan đại diện tài chính của chính phủ. Nó có
trách nhiệm thúc đẩy sự ổn định tiền tệ, tín dụng và chính sách tỉ
giá mà có lợi cho sự phát triển kinh tế.
Là cơ quan giám sát thống nhất tất cả lĩnh vực phục vụ tài chính,
MAS chỉ đạo giám sát dựa trên rủi ro của các định chế tài chính.
Điều này bao gồm việc cấp phép cho các định chế tài chính cung
cấp dịch vụ, thiết lập các qui định và chuẩn mực, hành động chống
lại các định chế và các cá nhân vi phạm qui định. MAS cũng giám
sát hệ thống tài chính để phát hiện xu hướng mới nổi và dễ bị
thương tiềm năng để hướng dẫn, hỗ trợ các hoạt động quản lý.
MAS có quyền cho vay đến bất kì định chế tài chính nào theo Luật
quản lý tiền tệ Singapore nếu cơ quan này cho rằng hành động trên
là cần thiết để đảm bảo tính an toàn của hệ thống tài chính hoặc
niềm tin của công chúng vào hệ thống tài chính.
 Mô hình giám sát hai đỉnh tạo sự phân biệt trong cơ quan quản lý.
Cụ thể là, một cơ quan chuyên giám sát mức độ an toàn và năng
lực tài chính, một cơ quan giám sát hành vi kinh doanh và bảo vệ

hành vai trò quản lý, bao gồm tạo ra các chuẩn mực an toàn.
APRA chịu trách nhiệm đối phó với những định chế mà không đáp
ứng được qui định đảm bảo an toàn. Về khía cạnh các định chế
nhận tiền gửi, nó cam kết hành động này trong sự hợp tác chặt chẽ
với Ngân hàng dự trữ Úc nhưng với tất cả các loại định chế dưới
trách nhiệm của nó , nó yêu cầu thông báo trực tiếp tới bộ trưởng
liên quan khi một định chế đang gặp khó khăn nghiêm trọng. Ngân
hàng trung ương giữ lại vai trò hiện tại của mình trong việc hỗ trợ
tính thanh khoản đến các định chế tài chính nếu sự giúp đỡ được
yêu cầu.
Hội đồng điều lệ liên bang CFR
Ngân hàng dự trữ
Úc
Cơ quan thanh tra
ngân hàng Úc( APRA)
Ủy ban đầu tư và
chứng khoán Úc
Kho bạc Liên bang
Tài liệu: Tạp chí phát triển và hội nhập(Số tháng 5/2013)
Ổn định hệ thống
tài chính
Qui định thận trọng Quản lý kinh doanh
Ngân hàng
Chứng khoán
Quỹ hưu trí
Bảo hiểm
Ngân hàng
Chứng khoán
Quỹ hưu trí
Bảo hiểm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status