1
VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN HẢI DƯƠNG HỌC
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP NHÀ NƯỚC
MÃ SỐ KC 09-19
_____________________________________________
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀĐÁNH GIÁ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỘC TỐ
VI TẢO TỪ TRƯỚC ĐẾN NAY TẠI MIỀN TRUNG
VÀ NAM VIỆT NAM
Đào Việt Hà
Viện Hải Dương Học, Nha Trang 6132-33
mặt của nhiều quần xã san hô (SCOR-IOC GEOHAB 1998).
Hiện nay, sự bùng nổ của các loài tảo độc hại đang trở thành vấn
đề toàn cầu ở cả môi trường biển và nước ngọt. Hiện tượng này đã gây ra
sự thiệt hại lớn cho ngành nuôi trồng thuỷ sản, mặt khác, nó gây nên hiện
tượng ngộ độc có thể gây tử vong cho con người và các động vật biển
khác. Các hiện tượng ngộ độc này gây ra bởi các độc tố PSP, DSP, ASP,
NSP và CFP được sản sinh từ các loài vi tảo độc như Alexandrium,
Dinophysis, Pyrodinium, Prorocentrum. Tùy thuộc vào bản chất hóa học,
mỗi loại độc tố tảo có các cơ chế tác động và hiệu ứng sinh học khác
nhau, có thể làm hư hại hệ thần kinh hoặc hệ tiêu hóa với những triệu
chứng đặc trưng ở người và các động vật khác.
3
Nghiên cứu về sự nở hoa của tảo độc hại nói chung và độc tố vi tảo
nói riêng chỉ được bắt đầu tại nước ta khoảng gần 10 năm gần đây, và
được thực hiện bởi nhóm các nhà khoa học của Viện Hải Dương Học.
Giai đoạn 1997 - 1999,D. T. Nga et.al.(2001, 2002) bước đầu thăm dò độc
tố PSP và DSP trong một số loài hai mảnh vỏ thu ở vùng biển Nha Trang,
Phan Thiết và theo dõi biến động của độc tố theo thời gian. Nghiên cứu
điều tra này được tiếp tục dưới sự tài trợ của dự án ASEAN-Canada cho
đến năm 1999, nhưng nhìn chung chỉ trong phạm vi đòa lý khá hẹp (tỉnh
Khánh Hòa và lân cận). Ngoài ra, (Nga, D.T., 2000) đã công bố kết quả
nghiên cứu của mình về độc tố PSP trên đối tượng cua rạn Zosimus
aeneus tại đảo Nhơn Châu, tỉnh Bình Đònh năm 1997.
Năm 2000, Đào Việt Hà đã thực hiện nghiên cứu độc tố PSP trong
loài Vẹm xanh Perna viridis thu tại khu vực Hải Phòng (Cát Bà và Đồ
Sơn), Huế (Đầm Lăng Cô) và Khánh Hòa (Đầm Nha Phu) theo đònh kỳ
hàng tháng (Dao Viet Ha. 2001). Sau đó, tác giả tiếp tục nghiên cứu của
mình đối với loài Nghêu Meretrix meretrix tại một số vùng nuôi trọng
điểm khu vực Cần Giờ, TP. HCM (Dao Viet Ha, 2004) và Vẹm xanh P.
Bảng 1
: Kết quả thử nghiệm sinh học trên chuột (MBA, AOAC,
1990) của độc tố PSP trong một số loài HMV thu ở vùng biển Nha
Trang 1997
PSP (µg/100g)
Loài Thời gian Đòa điểm
Cơ Nội quan
Saccostrea cucullata
31/03/97 Cửa Bé – < 36.75 < 36.75
05/05/97 Đìa 3/2 < 36.75 < 36.75
10/06/97 < 36.75 < 36.75
05/08/97 < 36.75 < 36.75
13/10/97 < 36.75 < 36.75
Isognomon
ephippium
31/03/97 Cửa Bé – < 36.75 < 36.75
05/05/97 Đìa 3/2 37.71 37.71
10/06/97 < 36.75 < 36.75
05/08/97 < 36.75
5
10/06/97 - -
05/08/97 - -
13/10/97 - -
Pinna attenuata
11/05/97 Hòn mun - < 36.75
Tridacna crossea
Hòn mun - -
Spondylus squamosus
Hòn mun - < 36.75
Bảng 2
: Kết quả thử nghiệm sinh học trên chuột (MBA, AOAC,
1990) của độc tố PSP trong một số loài HMV thu ở vùng biển Phan
Thiết 1997
PSP (µg/100g)
Loài Thời gian Đòa điểm
Cơ Nội quan
Saccostrea cucullata
13/05/97 Cảng cá - -
17/07/97 - -
10/09/97 < 36.75 < 36.75
Pictada martensii
13/05/97 Xa bờ 6-8
km
- < 36.75
Cucullaea labiata
13/05/97 Xa bờ 6-8
km
- -
Arca navicularis
13/05/97 Xa bờ 6-8
km
- -
Tại vùng biển Nha Trang, trong số 08 loài HMV được nghiên cứu, đã
ghi nhận được 04 loài Saccostrea cucullata, Isognomon ephippium, Pinna
attenuata và Spondylus squamosus có biểu hiện dương tính đối với sự tích
lũy độc tố PSP, tuy nhiên hàm lượng độc tố không cao (hầu hết < 36.75
µg/100g). Đối với 02 loài Saccostrea cucullata và Isognomon ephippium,
độc tính được phát hiện ở cả phần cơ và phần nội quan của tất cả các mẫu
thu tại các thời điểm khác nhau. Như vậy có thể nhận xét ban đầu rằng 02
loài này khá nhạy đối với sự tích lũy độc tố PSP từ môi trường. Ở 02 loài
khác là Pinna attenuata và Spondylus squamosus mới chỉ phát hiện độc tố
PSP trong phần nội quan, tuy nhiên đây chỉ là kết quả của 01 lần thu mẫu
duy nhất nên chưa đủ cơ sở để nói rằng phần cơ là không độc.
Trong số 08 loài HMV thu tại Phan Thiết, đã ghi nhận kết quả
dương tính trong phép thử chuột đối với 03 mẫu dòch chiết từ cơ và nội
quan của loài Saccostrea cucullata (10/09/97), nội quan của 02 loài
Amussium pleuronectes (10/09/97) và Cardium briadiatum (13/05/97)
nhưng đều với hàm lượng < 36.75 µg/100g. 7
Độc tố DSP:
31/03/97 Vónh
Trường
- + (9h)
05/05/97 - -
10/06/97 - -
05/08/97 - -
13/10/97 - -
Cardium briadiatum
31/03/97 Sông Lô - -
05/05/97 - -
10/06/97 - -
05/08/97 - -
13/10/97 - -
A
mussium pleuronecte
s
31/03/97 Sông Lô - -
05/05/97 - -
10/06/97 - -
17/07/97 - -
10/09/97 - -
Pecten solaris
13/05/97 Xa bờ 6-8
km
- -
17/07/97 - -
10/09/97 - + (17h)
Amussium
pleuronectes
13/05/97 Xa bờ 6-8 k
m
- + (17h)
10/09/97 - + (13h)
Chlamys nobilis
13/05/97 Xa bờ 6 –8
km
- -
10/09/97 - -
Ghi chú: -: m tính trong MBA
+ Dương tính trong MBA (thời gian chết trung gian – MDT
của chuột thử nghiệm
Từ các kết quả nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra một số nhận xét sơ bộ
14/01/98 ND* ND* ND ND
11/02/98 ND** ND ND ND
10/03/98 ND* ND* ND ND
21/04/98 ND*** ND* ND ND
19/05/98 ND* ND* ND ND
15/06/98 ND** ND* ND ND
07/07/98 ND* ND ND ND
10/08/98 ND*** ND* ND ND
07/09/98 ND*** ND* ND ND
07/10/98 ND* ND ND ND
Ghi chú: *: Chuột thử nghiệm chết trong thời gian > 12h
**: Chuột thử nghiệm chết trong thời gian 5 – 10h
***: Chuột thử nghiêm chết trong thời gian < 4h
ND: Dưới mức độ điều tra của phương pháp MBA
Bảng 6
: Kết quả thử nghiệm sinh học trên chuột đối với độc tố DSP
trong 04 loài HMV thu tại Vónh trường, Nha Trang 1998 10
Độc tính DSP (MU/100g)
Thời gian
Saccostrea
cucullata
Isognomon
ephippium
Amussium
pleuronectes
Katelysia
ngờ có liên quan đã được thu thập tại đòa điểm xảy ra ngộ độc cho nghiên
cứu độc tố PSP. 11
Bảng 7: Hàm lượng độc tố PSP trong 03 loài cua thu tại Nhơn Châu, Bình
Đònh 05/1998
Loài cua Hàm lượng độc tố
PSP (µg
STXeq./100g)
Cua Mặt Quỷ Zosymus
aeneus
613.87
Cua Mắt Đỏ Eriphia
sebana
44.10
Cua Đá Ozius
tuberculosus
40.40
Như vậy, nếu so sánh kết quả này với giới hạn an toàn của độc tố PSP
trong sinh vật biển cho người sử dụng, Z. aeneus chứa hàm lượng độc tố
cao gấp 8 lần, chỉ cần ăn 10 thòt loài cua này cũng co thể dẫn đến ngộ độc
gây tử vong. E. sebana va O. tuberculosus có độc tính gần như nhau, tuy
hàm lượng chưa vượt quá giới hạn sử dụng nhưng nên rất thận trọng đối
với những sinh vật này. Tốt hơn cả là không nên sử dụng chúng làm thức
ăn cho người và gia súc.
Ngoài ra, phép phân tích Sắc ký lỏng cao áp (HPLC) đã cho biết thành
bản chất độc tố của loài cua Z. aeneus là độc tố PSP với thành phần chủ
(µg/100g)
(1) (2) (3) (5)
Đầm An
Cự
Perna viridis
27/04/00 ND
(Huế) 19/05/00 ND
23/06/00 ND
14/07/00 ND
Đảo Cát
Bà
P. viridis
23/03/00 ND
(Hải
Phòng)
29/04/00 ND
25/05/00 ND
10/06/00 ND
07/07/00 ND
Vònh Vân
Phong
Isognomon
ephippium
11/04/00 ND
(Khánh
Hòa)
P. viridis
04/05/00 ND
Saccostrea
I. isognomon
09/07/00 < 31.50
P. bicolor
35.28
Ghi chú: ND: Dưới mức độ phát hiện của phương pháp
Mặc dù độc tính của tất cả các mẫu tại thời điểm nghiên cứu đều chưa
đạt tới ngưỡng an toàn tiêu dùng cho con ngừơi (80 µg/100 g), nhưng theo
số liệu của nghiên cứu này, sự nhiễm độc tố PSP trong các loài HMV tại
vònh Cam Ranh có chiều hướng gia tăng trong thời gian gần đây (hình 1),
liên quan đến sự gia tăng mật độ các loài vi tảo độc hại trong môi trường.
Vì vậy, cầ htiết phải có kế hoạch giám sát thận trọng với độc tố PSP tại
Việt Nam, nhằm tránh thất thoát kinh tế trong nuôi trồng biển cũng như
đảm bảo an toàn sức khoẻ cho cộng đồng.
Hình 1: Biến động của độc tố PSP trong loài Pinna bicolor theo thời gian
PSP concentration
Hàm lượng PSP (µg STXeq./100g
mẫu)
Thời gian Đòa điểm
MBA HPLC
08/2001 Ngọc Điệp ND 21.34
Long Thạnh ND 18.40
30/4 ND 10.40
Chợ Cần Giờ ND 16.00
11/2001 Ngọc Điệp ND 16.16
Long Thạnh ND 45.68
15
30/4 ND 33.75
Chợ Cần Giờ ND 31.85
02/2002 Ngọc Điệp ND 47.09
Long Thạnh ND 6.91
30/4 ND 55.20
Chợ Cần Giờ ND 23.60
Ghi chú:
ND: Dưới mức độ phát hiện của phương pháp
MBA: Phương pháp thử nghiệm sinh học trên chuột
HPLC: Phương pháp phân tích trên máy sắc ký lỏng cao áp
Tuy nhiên, có thể bước đầu nhận xetù rằng hàm lượng độc tố PSP có chiều
hướng gia tăng theo thời gian các đợt thu mẫu. Mặt khác, phân tích sắc ký
lỏng cao áp cho biết thành phần độc tố chủ yếu thuộc nhóm STXs (nhóm
có độc lực cao), từ đó gợi ý ban đầu này, loài vi tảo độc chiếm ưu thế
trong môi trường tại các khu vực này có thể thuộc giống Alexandrium (sản
sinh GTXs và STXs), do đó, cần chú trọng theo dõi, đề phòng sự nở hoa
Thời điểm
Tân Thành Bình Đại Ba Tri Hiệp Thành
7/2000 +
+
+
2/2001 +
+
+
+
+
+
3/2001 +
+
+
+
+
+
4/2002 +
5/2002 + +
Ghi chú: +: Kết quả dương tính trong MBA
Như vậy, trong giai đoạn 2000-2002, đã có 05 thời điểm phát hiện độc tố
DSP trong thòt Nghêu tại các vùng nuôi Tân Thành, Bình Đại, Ba Tri
(Bến Tre), và Hiệp Thành (Trà Vinh); trong số đó, Tân Thành là vùng có
tần suất bắt gặp kết quả dương tính cao nhất (03 lần vào 7/2000, 02 và
03/2001). Tuy nhiên, khi so sánh với số liệu mật độ vi tảo ở cùng thời
điểm phát hiện độc tố DSP trong Nghêu, chưa thấy được qui luật rõ ràng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Dao Viet Ha. 2001. The contamination of Paralytic shellfish poisoning in
some bivalve species from Vietnamese coastal water. The 5th
IOC/WESTPAC conference, 2001.
Đào Việt Hà. 2004. Hàm lượng độc tố Paralytic shellfish poisoning trong
Nghêu Meretrix meretrix tại một số vùng nuôi trọng điểm khu vực
18
Cần Giờ. Hội thảo Khoa học về động vật thân mềm toàn quốc lần
thứ 3. NXB Nông Nghiệp.
Nga, D.T. 2000. Preliminary study on crab poisoning in Isle village Nhon
Chau (Binh Dinh province). In the conference "Bien Dong" held at
Nhatrang, 19-21 september 2000.
Nga, D.T., Dung C.P., Ha, L.T., Ha, D.V. & Ky, P.X. 2002. Following the
variation of PSP and DSP toxins in some bivalve species collected
in the coastal of Vinh Truong, Nha Trang. In Collection of Marine
research Works, Vol 12. pp 273 - 280. Science and Technique
Publishing House.
Nga, D.T., Tram, L.N., Dung C.P., Ha, L.T., Ha, D.V. & Ky, P.X. 2001.
Initial investigating PSP and DSP toxins accumulating in some
bivalve species collected in Nha Trang and Phan Thiet coastal
waters in 1997. In Collection of Marine research Works, Vol 11. pp
273 - 280. Science and Technique Publishing House.