điều tra, nghiên cứu tảo độc gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra - hàm lượng độc tố gây liệt cơ (psp) trong động vật thân mềm ha - Pdf 13

Viện khoa học và công nghệ việt nam
Viện tài nguyên và môi trờng biển
=========000========= Đề tài cấp nhà nớc kc-09-19
Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng
nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp
phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra

Chủ nhiệm đề tài: TS. Chu Văn Thuộc
Báo cáo chuyên đề
Hàm lợng độc tố gây liệt cơ (PSP)
trong động vật thân mềm hai mảnh vỏ
ở một số vùng nuôi thủy sản tập trung
miền Bắc và bắc trung bộ
Ngời thực hiện:
ThS. Nguyễn Thị Minh Huyền, CN. Phạm Thế Th,
ThS. Nguyễn Thị Thu, CN. Trần Mạnh Hà
Phòng Sinh vật phù du và Vi sinh vật Biển,
Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển
Tel. (031) 565 495 Fax. (031) 761 521
e-mail:
1920 và 1930, khi các nhà nghiên cứu của California tìm thấy mối quan hệ họ hàng của
độc tố trong động vật thân mềm hai vỏ bị nhiễm độc với các loài tảo Giáp ở khu vực đó
thuộc chi Alexandrium. Sommer và các cộng sự của ông thậm chí còn cho các loài thân
mềm ăn các loài tảo giáp có độc để kiểm tra lại nguyên nhân và đờng đi của độc tính,
và sau đó ông cho thân mềm ăn tảo giáp không độc để cho phép thân mềm lọc sạch độc
tính. Ngày nay, 12 loài tảo Giáp thuộc chi Alexandrium, Pyrodinium, Gonyaulax

Gymnodinium sản sinh độc tố PSP. Thêm vào đó, một số loài vi khuẩn, tảo xanh lục và
tảo đỏ có khả năng sản sinh cùng loại độc tố có liên quan với neurotoxin, saxitoxin và
các dẫn xuất của nó. Các sinh vật trên sản sinh trên 18 loại độc tố đã biết, các độc tố bị
biến đổi qua lại và sửa chữa cấu trúc [Oshima và cộng sự, 1984, 1990]. Từng loài tảo
Gíap riêng biệt không chứa tất cả các độc tố, chúng chỉ chứa các độc tố phù hợp và sự
kết hợp giữa các loại độc tố tạo nên khả năng gây độc tính khác nhau. Độc tính mạnh
yếu có thể khác nhau, phụ thuộc vào vị trí địa lý nơi thu mẫu phân lập và điều kiện môi
trờng nơi các loài tảo này sinh sống [Anderson 1990].
Theo lịch sử, các hiện tợng PSP trong nớc biển chủ yếu đã đợc xác định bởi
các loài Alaxandrium (= Protogonyaulax); tuy nhiên, trong vòng 10 năm trở lại đây, sự
Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng

2
bùng nổ PSP do Pyridinium bahmense var. compressum và Gymnodinium catenatum đã
đợc xem xét là nguyên nhân gây tử vong cho con ngời và các vấn đề có liên quan đến
sức khoẻ. Không có các loài mới đợc quan sát, nhng chúng là các loài gốc đã đợc
mô tả, không có các dấu hiệu chứng tỏ chúng là các sinh vật nở hoa độc. Ngày nay phần
lớn các hiện tợng tử vong của con ngời từ sự bùng nổ PSP, hoặc các sự kiện độc tố
thân mềm khác có độc đợc tích luỹ từ tảo Giáp, thờng xuất hiện ở những nơi không

sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng

3
Bảng 1. Một số triệu chứng khi ngộ độc tố PSP

Các triệu chứng Hiệu ứng sinh học
Thời gian ủ bệnh từ 5 - 90 phút
Triệu chứng trờng
hợp nhẹ
Cảm giác ngứa hoặc tê rần quanh
miệng, dần dần lan toả khắp mặt và
cổ.
- Cảm giác đau nh kim chích ở đầu
ngón tay, ngón chân.
- Nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn,
nôn và tiêu chảy
Triệu chứng trờng
hợp nặng
- Liệt cơ
- Phát âm và hô hấp khó khăn
- Cảm giác bị kích động
- Tử vong do liệt cơ hô hấp có thể
xảy ra trong vòng 2-24 giờ sau khi
ăn.
Tỷ lệ tử vong 1-14% (có thể lên tới 20%)
Độc tố thần kinh làm
tắt nghẽn các ion Na

cho toàn bộ phần thịt thân mềm hai vỏ là 80 gSTXeq/100g mô. Một số các nghiên cứu
khác cũng khẳng định một điều các độc tố PSP đợc tích luỹ trong điệp (scallop) và
chúng đợc đào thải rất chậm [Shumway và cs. 1992]. Đây chính là các nguyên nhân
làm tăng sự không an toàn đối với ngời tiêu thụ thực phẩm hải sản.
Sự tích luỹ của thân mềm hai vỏ đối với một số loại độc tố nh độc tố ảnh hởng
thần kinh gây mất trí nhớ (ASP), độc tố gây tê liệt cơ (PSP) và độc tố gây tiêu chảy
(DSP) là nguyên nhân gây tổn hại nghiêm trọng cho sức khoẻ cộng đồng cũng nh
ngành thuỷ sản. Điều này đã trở thành một vấn đề đối với toàn cầu về sự gia tăng các
trờng hợp ngộ độc và tần xuất, cờng độ lan rộng theo phân bố địa lý của các loài vi
tảo có chứa độc tố và các vấn đề này cũng đang xảy ra tại các nớc Đông nam á. ở Việt
Nam, ngời bị ngộ độc do ăn phải thân mềm hai vỏ có độc tố cha đợc thống kê và báo
cáo. Tuy nhiên sự xuất hiện của các loài tảo tiềm tàng độc hại ở vùng biển Việt Nam đã
đợc thống kê và báo cáo [Larsen J. và cs. 2004].
Các nghiên cứu từ trớc đến nay ở Việt Nam về lĩnh vực tảo độc đã cho thấy sự
phân bố của các loài vi tảo tiềm tàng độc hại khá phong phú dọc theo các vùng ven biển,
trong đó có một số loài bắt gặp với tần xuất xuất hiện nhiều và mật độ cao tại các vùng
nuôi trồng thuỷ sản tập trung và một số đầm nuôi tôm, thành phần loài của chi
Alexandrium ở vùng biển phía Bắc khá phong phú, theo các nghiên cứu của tác giả Chu
Văn Thuộc đã phát hiện đợc hơn 10 loài có mặt [Chu Văn Thuộc, 2002). Nghiên cứu
của Yoshida và cs. (2000) lần đầu tiên tìm thấy độc tố trong loài Alexandrium minutum
phân lập từ đầm nuôi tôm ở Quảng Ninh, Nguyễn Ngọc Lâm (2004) cũng đã công bố về
khả năng sản sinh độc tố của loài Alexandrium affine phân lập từ Vịnh Hạ Long. Nghiên
cứu về khả năng tích luỹ độc tố trong một số đối tợng thân mềm hai vỏ cũng đã đợc
phòng thí nghiệm Sinh vật phù du của Viện Tài nguyên và Môi trờng biển Hải Phòng
bắt đầu thực hiện từ năm 2002 trong khuôn khổ hợp tác với Đại học Kitasato của Nhật
Bản. Bên cạnh đó, một số đề tài nhỏ nghiên cứu về độc tố trong thân mềm hai vỏ đã
đợc phòng thí nghiệm Sinh hoá Viện Hải dơng học Nha Trang thực hiện dới sự tài
trợ của dự án ASEAN-CANADA (năm 1999) v.v Những nghiên cứu này đã phát hiện
sự tồn tại của độc tố vi tảo trong đối tợng hai mảnh vỏ, nhng hàm lợng thấp tại vùng
biển ven bờ phía bắc nh Hải Phòng, Thái Bình và phía nam nh Nha trang, Phan Thiết

tợng ngộ độc ở ngời tiêu dùng khi sử dụng hải sản làm thực phẩm.

II. Phơng pháp nghiên cứu

Độc tố gây liệt cơ (PSP) đợc gây nên bởi một nhóm khoảng 24 độc tố thần kinh
mạnh (hình ). Các độc tố này đặc biệt đợc gắn vào các vị trí kích thích trên dây thần
kinh và các tế bào cơ, kết quả cuối cùng là làm tê liệt cơ và suy kiệt sức khoẻ dẫn đến tử
vong khi tiêu thụ thân mềm hai vỏ có tích luỹ độc tố. Bởi vậy, sự phát triển của các
phơng pháp phân tích đối với việc định lợng và định tính các loại độc tố đợc xác
định cùng PSP là nhiệm vụ rất quan trọng. Nhìn chung việc kiểm soát chất lợng độc tố
tích luỹ trong thực phẩm luôn đòi hỏi chính xác việc định lợng của các độc tố PSP
cùng với sự quan tâm đến các quy định quốc tế đối với việc bảo vệ sức khoẻ cộng đồng
và giao dịch thơng mại quốc tế. Phạm vi độc tính rộng của các độc tố PSP khác nhau
Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng

6
[Oshima, 1995], thêm vào là sự đa dạng các nhóm độc tố PSP của tảo Giáp, những loài
có khả năng sản sinh độc tố PSP và khả năng vận chuyển sinh học của các độc tố này
trong phạm vi sinh học biển [Shumway, 1990], vì thế có sự thay đổi trong phân tích hoá
học để phát triển các phơng pháp phân tích chính xác và đáng tin cậy. Phơng pháp
nghiên cứu hàm lợng độc tố PSP bằng phơng pháp ELISA hiện đang đợc một số
nớc có kỹ thuật tiên tiến thực hiện nh Nhật Bản. Phơng pháp này có u điểm là có
thể phát hiện nhanh và rất nhạy đối với độc tố PSP ở hàm lợng rất thấp, thao tác đơn
giản, dễ thực hiện, không đòi hỏi các trang thiết bị đắt tiền nh các phòng hoá sinh tiêu
chuẩn, trừ một số độc tố chuẩn và các kháng thể phải đợc chuẩn bị ở các phòng thí
nghiệm lớn. Nhng lại có nhợc điểm là dựa trên kháng thể với độc tố STX nên sẽ cho

7
+ Vùng biển Lăng Cô (TT Huế): Vẹm xanh (Mytilus sp.) là đối tợng thân mềm
hai vỏ đợc nuôi vừa cung cấp thực phẩm cho dân địa phơng vừa là đồ hải sản đợc
khách du lịch a chuộng trong các bữa ăn nên đã đợc chọn làm đối tợng nghiên cứu
của đề tài.
- Tần xuất thu mẫu:
+ Vẹm xanh và Ngao nuôi tại vùng biển Hải Phòng, đợc thu một tháng 2 lần và
thu liên tục trong một năm từ tháng 5/2004 đến hết tháng 4 năm 2005. Tổng số mẫu
đợc tiến hành phân tích tại mỗi một điểm nghiên cứu là : Cát Bà 24 mẫu, Đồ Sơn: 24
mẫu.
+ Ngao nuôi tại Thái Bình và Vẹm xanh nuôi tại vùng biển Lăng Cô (Huế) đợc
thu mỗi tháng 1 lần cùng với các mẫu tảo và mẫu hoá nớc tại vùng nghiên cứu.
- Ngoài ra còn sử dụng các số liệu đã đợc quan trắc liên tục trong 2 năm 2002-
2004 của dự án JSPS trong khuôn khổ hợp tác song phơng giữa Viện tài nguyên và Môi
trờng Biển (thuộc VAST) của Việt Nam và trờng Đại học Kitasato của Nhật Bản.
Tham khảo một số kết quả nghiên cứu về độc tố PSP trong Ngao tại vùng biển
Thái Bình, Nam Định và Thanh Hoá của nhóm tác giả Nguyễn Văn Nguyên (2004)

2.2. Phơng pháp thu mẫu và xử lý mẫu
- Đồ Sơn: Ngao đợc đặt ngời cào hàng tháng trên bãi tự nhiên vào các thời
điểm có con nớc trong tháng (tháng thu 2 lần), lựa những con có kích cỡ ổn định, đều
nhau hàng tháng.
- Cát Bà: Vẹm xanh đợc đặt mua cả chùm to, đặt nuôi cố định trong một lồng
nuôi, hàng tháng đến ngày tỉa thu mẫu theo một kích cỡ ổn định.
- Thái Bình: Ngao cũng đợc thu trực tiếp ngay trên các vây nuôi hàng tháng
theo một kích cỡ ổn định.
- Huế: Vẹm xanh đợc thu trực tiếp ngay trong các lồng nuôi theo một kích cỡ
ổn định.
- Mẫu thân mềm hai vỏ sống sau khi thu, đợc chuyển ngay về phòng thí nghiệm
với khoảng thời gian trong ngày và đợc mổ tách lấy nội quan theo quy trình sau:

Phân tích ASP và PSP khi có thể (1ml mẫu = 0,5g mô nội tạng)

+ Phần còn lại, đựng mẫu trong lọ sạch, nút kín và bảo quản trong tủ đá nhiệt độ
càng thấp càng tốt (-18
o
C là tốt nhất).
- Riêng đối với mẫu Vẹm xanh thu ở Lăng Cô (Huế) do Đại học Huế thực hiện,
sau khi mổ theo quy trình trên sẽ thu nội tạng bảo quản trong tủ đá và gửi mẫu cho
phòng thí nghiệm của Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển để tiến hành xử lý tiếp theo
quy trình xử lý mẫu ở trên và phân tích độc tố.
2.3. Phơng pháp phân tích độc tố PSP
Độc tố PSP đợc tiến hành phân tích theo phơng pháp của Branaa (1999) và
Kodama (2003).
Lu ý: quá trình phân tích PSP phụ thuộc vào yếu tố pH, Do thờng bền trong
môi trờng có pH=5-7, saxitoxin cùng các dẫn xuất đợc giữ tốt nhất trong pH này dới
điều kiện có Argon hoặc nitrogen và để tối. Nếu bảo quản trong một năm có thể để ở
4
o
C, còn nếu lâu hơn cần bảo quản ở 80
o
C.
Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng

9
2.4. Phơng pháp xử lý, tính toán hàm lợng độc tố trong ĐVTMHMV
2.4.1. Tính trung bình các chỉ số OD đo đợc trên máy (mẫu lặp 3 lần)

sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng

10
2.4.4. Tính tổng hàm lợng độc tố PSP trong 1mL mẫu thân mềm đã xử lý cho phân tích
độc tố theo các bớc trên bằng cách:
= B (nmol/mL) x MW (trọng lợng phân tử của độc tố) = C(ng/mL)

2.4.5. Tính hàm lợng độc tố trong 1g mẫu mô nội tạng của thân mềm hai vỏ
= C (ng/mL) : 0,5 (1mL dịch chiết chứa 0,5 g mô nội tạng) = D (ng/g mô nội
tạng)

III. Kết quả và thảo luận

PSP là độc tố gây tê liệt thần kinh, ngời ngộ độc là do ăn phải các sinh vật có vỏ
đã nhiễm độc tố do các loài tảo Giáp sản sinh (ví dụ nh Alexandrium, Pyrodinium và
Gymnodinium) [Hashimoto và Noguchi 1989]. Độc tố PSP bao gồm saxitoxin (STX) và
hơn 20 dẫn xuất của nó. Các hợp chất này tan tốt trong nớc và hầu hết đều bền nhiệt,
chúng có tác động đến cả hệ thần kinh và các hoạt động của hệ thống cơ của con ngời.
3.1. Biến động hàm lợng độc tố PSP trong Ngao (Meretrix meretrix) nuôi
tại Đồ Sơn Hải Phòng
Cũng nh độc tố ASP, độc tố PSP đợc quan trắc với tần xuất 2 lần/tháng trong
Ngao nuôi tại Đồ Sơn. Kết quả phân tích các mẫu thu đợc cho thấy Ngao nuôi Đồ Sơn
có tích luỹ loại độc tố này nhng hàm lợng rất thấp (hình 3.1)
Hình 3.1. cho thấy hàm lợng độc tố PSP biến động không mạnh theo các đợt
quan trắc trong năm, dao động từ vài phần trăm ng/g đến 2 ng/g mô nội tạng của Ngao
nuôi. Tháng 4 năm 2005 là tháng quan trắc có hàm lợng độc tố PSP thấp nhất (0,03-
0,18 ng/g), hàm lợng độc tố PSP quan trắc trong cả năm đạt cao nhất 1,97 ng/g trong

/04
4/8/
0
4
14/9
/0
4
11/10
/0
4
7
/1
1
/04
4
/1
2
/04
1
1
/1
/05
6/2/
0
5
9/3/
0
5
5/4/
0

7
I-T
8
I-T
9
I-
T1
0
I
-T11
I
-T12
I
-
T
1
I-T
2
I-T
3
I-T
4
Tháng
thu mẫu
ng (STXeq)/g nội tạng
Quan trắc năm 2004-2005 Quan trắc 2003-2004

Hình 3.2. So sánh hàm lợng độc tố PSP tích luỹ trong Ngao nuôi ĐS trong các năm
quan trắc 2002-2003 (số liệu dự án JSPS) và 2004-2005.
Hình 3.2. còn cho thấy hàm lợng độc tố PSP trong Ngao nuôi ĐS quan trắc

25/5/04
8
/
6
/
0
4
20/6/04
8/7/04
2
1/7/0
4
4/8/04
1
8/8/0
4
1
4/9/0
4
26/9/04
1
1/10
/04
20/10/04
7/11/04
2
1/11
/04
4/12/04
1

ng (STXeq)/g mô nội tạng
Mật độ Alexandrium spp Hàm lợng độc tố ng/g (STX)Hình 3.3. So sánh mối tơng quan giữa hàm lợng độc tố PSP đợc tích luỹ trong Ngao
Đồ Sơn với mật độ tảo chi Alexandrium (quan trắc năm 2004-2005)

Kết quả nghiên cứu định tính cũng cho thấy chi Alexandrium tuy có mật độ thấp
nhng có mặt quanh năm trong vùng biển Đồ Sơn , đỉnh mật độ cao nhất của chi này đạt
trong tháng 5/2004, nhng các đỉnh độc tố PSP lại không trùng với khoảng thời gian
này. Điều này gợi ý có thể loài Alexandrium đóng góp cho mật độ này lại không có khả
năng sản sinh độc tố hoặc có nhng rất thấp. Hình 3.3 còn cho thấy, các đỉnh độc tố
luôn không trùng với đỉnh mật độ nhng thờng xuất hiện sau đỉnh mật độ, điều này rất
trùng với các kết quả đã đợc nghiên cứu trớc đó của các tác giả Premazzi và Voltera
(1993).
Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng

13
Các nghiên cứu trớc của phòng thí nghiệm sinh vật phù du trong khuôn khổ dự
án JSPS và của tác giả Nguyễn Văn Nguyên (2004) cũng cho thấy không có mối tơng
quan chặt chẽ giữa mật độ của các loài tảo thuộc chi Alexandrium và hàm lợng độc tố
PSP đợc tích luỹ trong Ngao.

3.2. Biến động hàm lợng độc tố PSP trong Vẹm xanh (Mytilus sp.) nuôi
tại Cát Bà Hải Phòng
Hàm lợng độc tố PSP trong Vẹm xanh nuôi ở Cát Bà cũng đợc quan trắc với

/
04
13/
1
0/
04
9/
11
/
04
5/
12
/
04
1
2/
1/2005
5/2/
05
10
/
3/05
5/
4/
05
Thời gian thu mẫu
ng (STXeq)/g mô nội tạng

Hình 3.4. Biến động hàm lợng độc tố PSP trong nội tạng Vẹm xanh nuôi tại Cát Bà (số
liệu quan trắc tháng 5/ 2004- tháng 4/2005)

I-
T
7
I-
T
8
I-
T
9
I-T10
I-
T11
I-
T12
I-T1
I-
T
2
I
-T
3
I
-T
4
Tháng
thu mẫu
ng(STXeq)/g nội tạng
Quan trắc năm 2004-2005 Quan trắc 2003-2004

Hình 3.5. So sánh hàm lợng độc tố PSP tích luỹ trong vẹm xanh nuôi Cát Bà trong các

2004
26/5/
04
9/6/
04
21/6/
04
9/
7/04
20/
7/04
5/
8/04
17/
8/04
17
/
9/04
30/9/04
13
/
10/04
21
/
10/04
9/11/
04
23
/
11/

2
3
4
5
6
7
8
ng (STXeq)/g mô nội
tạngh
Mật độ Alexandrium spp Hàm lợng độc tố ng/g (STX)

Hình 3.6. So sánh mối tơng quan giữa hàm lợng độc tố PSP đợc tích luỹ trong
Vẹm xanh Cát Bà với mật độ tảo chi Alexandrium (quan trắc năm 2004-2005)

3.3. Biến động hàm lợng độc tố PSP trong Ngao (Meretrix sp.) nuôi tại
Tiền Hải Thái Bình
Khác với đối tợng Ngao và Vẹm xanh nuôi ở vùng biển Hải Phòng đợc quan
trắc với tần xuất 2 lần/tháng, Ngao nuôi ở Thái Bình đợc quan trắc 1 lần/tháng. Kết quả
quan trắc đợc cho thấy Ngao nuôi Thái Bình có tích luỹ độc tố PSP trong mô nội tạng,
biến động hàm lợng độc tố giữa các tháng không lớn trừ đợt quan trắc của tháng 12
năm 2004 và tháng 2 năm 2005.
0
1
2
3
4
5
6
7
5/04 6/04 7/04 8/04 9/04 10/04 11/04 12/04 1/05 2/05 3/05 4/05

Ghi chú: (*) nguồn số liệu Nguyễn Văn Nguyên và cộng sự (2003)
Sự khác nhau về hàm lợng độc tố theo thời gian và không gian nghiên cứu vì
chúng sẽ phụ thuộc vào sự có mặt và mật độ của các loài tảo thuộc chi Alexandrium.
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Nguyên (2004) cho thấy sự dao động khác nhau về hàm
lợng độc tố PSP tích luỹ trong Ngao 3 vùng Thái Bình, Nam định và Thanh Hoá trùng
với sự dao động khác nhau về mật độ chi Alexandrium. ở Thanh Hoá mật độ
Alexandrium đạt trên 1000 tb/L đã làm độc tố PSP đợc tích luỹ cao nhất (77,28àg/100
g thịt Ngao) số liệu quan trắc năm 2002-2003.
Số liệu quan trắc về mật độ chi Alexandrium năm 2004-2005 tại Thái Bình cũng
cho thấy chi này thờng có mặt ở vùng nớc xa bờ, mật độ dao động trong năm quan
trắc thấp, biến động từ 0 đến 450 tb/L và bắt gặp trong các tháng 8 năm 2004 và tháng
2, 3 năm 2005. So sánh giữa mật độ Alexandrium và hàm lợng độc tố PSP trong Ngao
không có mối tơng quan chặt chẽ, có thể do mật độ và hàm lợng độc tố trong môi
trờng cũng nh tích luỹ trong Ngao thấp nên mối tơng quan không thể hiện rõ ràng.
Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng

17
3.4. Biến động hàm lợng độc tố PSP trong Vẹm xanh (Mytilus sp.) nuôi
tại Lăng Cô (Huế)
Vẹm xanh (Mytilus sp.) là đối tợng thân mềm hai vỏ đợc nghiên cứu về khả
năng tích luỹ độc tố PSP và đợc quan trắc với tần xuất 1lần/tháng. Kết quả phân tích
độc tố PSP cho thấy, Vẹm xanh có khả năng tích luỹ độc tố PSP, nhng hàm lợng độc
tố tích luỹ thấp, nằm trong giới hạn an toàn cho phép sử dụng làm thực phẩm. Biến động

Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng

18
3.5. So sánh khả năng tích luỹ độc tố PSP trong nội quan (gan, tuỵ) của
Ngao và Vẹm xanh nuôi tại các vùng thuỷ sản trọng điểm miền Bắc và
miền Trung
Trong năm 2002-2003, tác giả Đào Việt Hà và cs. trong khuôn khổ của đề tài cấp
Bộ thuỷ sản đã tiến hành nghiên cứu hàm lợng độc tố PSP trong Ngao nuôi tại 3 tỉnh
Thái Bình, Nam Định và Thanh Hoá, trong nghiên cứu này tác giả đã sử dụng phơng
pháp HPLC (sắc ký lỏng cao áp). Kết quả nghiên cứu đợc cho thấy hàm lợng độc tố
tích luỹ trong Ngao nuôi tại 3 tỉnh trong năm 2002-2003 cao hơn nhiều lần kết quả phân
tích đợc trong năm 2004-2005.
So sánh với các kết quả quan trắc đợc về hàm lợng độc PSP trong Ngao và
Vẹm xanh nuôi tại Hải Phòng, Thái Bình và Lăng Cô (Huế) trong năm 2004-2005, ta
đợc kết quả trong bảng 3.2.

Bảng 3.2. So sánh hàm lợng độc tố PSP đợc tích luỹ trong Ngao và Vẹm xanh nuôi tại
các vùng biển Đồ Sơn, Cát Bà, Thái Bình và Lăng Cô (Huế)

Số liệu quan trắc 2004-2005 Hàm lợng
(ng/g)
Đồ Sơn Cát Bà Thái Bình Huế
Cao nhất 1,97 7,43 6,01 21,27
Trung bình 0,86 2,81 1,62 8,2
Thấp nhất 0,03 0,36 0,54 0,63

Bảng 3.2. cho thấy Vẹm xanh đợc nuôi ở Lăng Cô (Huế) tích luỹ độc tố PSP
cao nhất (đạt 21,27 ng/g mô nội tạng), Ngao nuôi Đồ Sơn có hàm lợng độc tố tích luỹ
ít nhất (cao nhất chỉ đạt 1,97 ng/g mô nội tạng). So sánh mật độ của chi Alexandrium tại
4 vùng biển nghiên cứu nhận thấy chi này luôn có mật độ thấp tại cả 4 vùng, nhng

/6/0
4
2
1/6
/0
4
9
/7/0
4
2
0/7
/0
4
5
/8/0
4
1
7/8
/0
4
1
7/9
/0
4
3
0/9
/0
4
13/10
/0

4
/2/05
1
0
/3/05
1
8
/3/05
5
/4
/05
2
8
/4/05
Thời gian
thu mẫu
ng (STXeq)/g mô nội tạng
Ngao Đồ Sơn Vẹm Cát Bà

Hình 3.9. So sánh khả năng tích luỹ hàm lợng độc tố trong Ngao nuôi ở Đồ Sơn và
Vẹm xanh nuôi ở Cát Bà (Hải Phòng) quan trắc năm 2004 - 2005

Các vùng nghiên cứu còn lại, mật độ chi Alexandrium luôn thấp tại các tháng dao
động từ vài chục đến vài trăm tb/L nên hàm lợng độc tố đợc tích luỹ trong thân mềm
hai vỏ thấp hơn.

0
5
10
15

Ngao Đồ Sơn và Vẹm Cát Bà cho thấy, hàm lợng độc tố dao động khác nhau nhng
đỉnh hàm lợng độc tố xuất hiện trong các thời điểm gần nhau (đợt quan trắc II của
tháng 10 đến tháng 12năm 2004. Đây cũng là những thời điểm có mặt các loài tảo
Alexandrium tại 2 vùng biển này và mật độ quan trắc đợc của các chi này khá cao so
với các đợt quan trắc khác (theo kết quả phân tích định tính và định lợng của vi tảo gây
hại tại vùng biển này hình 3.11).

0
50
100
150
200
250
300
350
400
450
10/5/04
2
5/5/
04
8/6
/
04
20/6/04
8
/7
/
0
4

0
5
6
/
2/05
2
3/
2/05
9/3/05
2
0/3/
0
5
5/4
/
05
29/4/05
Thời gian
thu mẫu
tb/L
0
1
2
3
4
5
6
7
8
STX (ng/g)

thể cho phép sử dụng là dới 80àg STXeq/100g thịt thân mềm hai vỏ tơng ứng với
400MU/100g thịt. Giới hạn tiêu chuẩn này đợc áp dụng cho 89% các nớc và vùng có
quan trắc độc tố PSP. Tiêu chuẩn cho phép đối với độc tố này đợc áp dụng ở Philippine
và Norway thấp hơn, chỉ áp dụng mức 40 àg/100g thịt (200 MU/100g thịt). Còn đối với
Canada, các sản phẩm có hàm lợng độc tố PSP đạt đến 160àg/100g mô sẽ bị huỷ bỏ.
Dới đây là một số tiêu chuẩn cụ thể đợc áp dụng tại một số nớc có sản phẩm thuỷ
sản chiếm u thế và phơng pháp phân tích loại độc tố này.

Bảng 3.3. Giới hạn cho phép đối với độc tố PSP tại một số nớc và phơng pháp sử dụng
cho phân tích độc tố này (Shumway và cs. 1996)

STT Quốc gia Giới hạn tiêu chuẩn cho
phép (àg/100g thịt)
Phơng pháp phân tích
độc tố
1 Australia 80 Thử chuột
2 Canada (Maritime) 80 Thử chuột
Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng

22
3 Đan Mạch 80 Thử chuột, HPLC
4 Pháp 80 Thử chuột
5 Đức 80
6 Mỹ 80 Thử chuột
7 Hồng Kông 30 Thử chuột
8 Nhật Bản 30 Thử chuột, HPLC


Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng

23
3.7. Giải pháp làm giảm tác hại của các độc tố tảo PSP đối với ngời tiêu
thụ ĐVTMHMV làm thực phẩm

Các kết quả nghiên cứu trên tuy không cho thấy rõ mối tơng quan thuận giữa
mật độ của các loài tảo thuộc chi Alexandrium có khả năng sản sinh độc tố PSP và sự
tích luỹ độc tố trong ĐVTMHMV, nhng cũng đã cho thấy rõ mật độ của chi
Alexandrium chính là nguyên nhân chính gây nên sự tích luỹ độc tố nguy hiểm này
trong ĐVTMHMV. Chính vì vậy, một số nớc trên Thế giới đã kiểm soát rất chặt chẽ
vấn đề môi trờng của các vùng nuôi trồng thuỷ sản. Để đảm bảo an toàn trong đồ ăn
hải sản cho ngời dân, chính phủ của các nớc này đã đa mật độ tế bào của một số loài
tảo có khả năng sản sinh độc tố thuộc chi Alexandrium thành một tiêu chuẩn quy định
cho việc khai thác thuỷ sản tại vùng nuôi trồng tập trung . Bảng dới đây sẽ cho thấy rõ
hơn vấn đề này.

Bảng 3.4. Giới hạn mật độ của một số loài tảo thuộc chi Alexandrium đối với việc khai
thác nhuyễn thể (theo Andersen 1996)

Tên nớc Tên loài Mật độ tb/L Hoạt động ứng xử
Australia

> 4 x 10
4Kiểm tra hàm lợng
độc tố

tăng cờng quan trắc,
đóng cửa khai thác
Đan Mạch Alexandrium
tamarense
500 tăng cờng quan trắc,
đóng cửa khai thác
Đan Mạch Alexandrium sp. 500 tăng cờng quan trắc,
Báo cáo chuyên đề - Đề tài KC-09-19: Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ
sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra Viện Tài nguyên và Môi trờng Biển, 246 Đà Nẵng, Hải Phòng

24
đóng cửa khai thác
Hà Lan 10
3
10
4

NaUy có mặt
Tây Ban Nha
Alexandrium spp
10
3

khai thác hạn chế >
đóng cửa

Nh vậy, đối với độc tố PSP để kiểm soát và bảo đảm an toàn cho sức khoẻ cộng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status