Viện khoa học và công nghệ việt nam
Viện hải dơng học
=========000========= Đề tài cấp nhà nớc kc-09-19
Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng
nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp
phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra
Chủ nhiệm đề tài: TS. Chu Văn Thuộc
Báo cáo chuyên đề
hàm lợng một số độc tố vi tảo trong nghêu và
vẹm xanh tại một số khu vực nuôi trọng điểm
miền trung và nam việt nam
Ngời thực hiện:
đào việt hà
viện hải dơng học
6132-18
02/10/2006
i tượng trung gian chính để gây ra hiện tượng ngộ độc do các độc
tố tảo ở con người và các sinh vật bậc cao khác (chim biển, thú biển…)
(Shumway, 1990; Shumway et al., 1995; Bricelj & Shumway, 1998 ;
Thorarinsdottir, 1998 ). Đồng thời, sự bùng nổ của các loài vi tảo độc hại còn
gây ra những hậu quả xấu cho hệ sinh thái biển, là nguyên nhân dẫn đến cái
chết hàng loạt của một số loài tôm, cá biển (Tufts, 1979)…
Hiện nay, ở nước ta, kiểm định chất lượng hai mảnh vỏ về m
ặt độc tố vi tảo
mới chỉ được tiến hành đối với một số lô hàng xuất khẩu nhất định. Việc nghiên
cứu, điều tra sự có mặt, tích lũy của những độc tố vi tảo nguy hiểm (độc tố PSP,
DSP, ASP) có mặt trong đối tượng hai mảnh vỏ chưa được theo dõi một cách
định kỳ tại các khu vực nuôi. Do đó, đây là một trong những nghiên cứu bước
đầu tập trung theo dõi hàm lượng các độc tố vi tảo trong loài Nghêu (Meretrix
lyrata) và Vẹm xanh Perna viridis – Là những loài có giá trị và sản lượng xuất
khẩu khá cao tại các tỉnh miền Trung và Nam nước ta, nhằm góp phần cung cấp
những dẫn liệu khoa học cho các nhà quản lý biển, nhằm tránh những thiệt hại
kinh tế và góp phần bảo đảm an toàn sức khỏe cộng đồng.
I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Các loài vi tảo độc hại có thể chia thành 03 nhóm khác nhau: Nhóm thứ nhất có
khả năng sản sinh các độc tố có thể tích lũy trong các sinh vật biển hoặc làm
chết cá. Nhóm thứ hai là các loài có khả năng phát triển với mật độ tế bào cao,
dẫn đến hiện tượng thiếu oxygen cho nhiều sinh vật khác. Nhóm thứ ba bao gồm
một số loài vi tảo có cả hai khả năng trên.
Một trong những tác hại chính từ sự
nở hoa của các loài vi tảo là chúng gây ra
(chủ yếu là bọn hai mảnh vỏ -HMV) đã bị nhiễm độc tố của các loài vi tảo (chủ
yếu là bọn tảo giáp thuộc các giống như Alexandrium, Pyrodinium, và
Gymnodinium) (Hashimoto & Noguchi 1989). Ngoài ra, một số loài tảo lam
sống nước ngọt {Carmichael, Ahmood, et al. 1990 ID: 38}, tảo calcareous red
macroalgae và có thể một số loài vi khuẩ
n biển {Kodama, Ogata, et al. 1990 ID:
39} cũng sản sinh loại độc tố thần kinh này. Độc tố PSP không chỉ tìm thấy ở
trong các sinh vật HMV ăn lọc mà còn ở cả cua, ốc, cá ngừ và các loài cá ăn
thực vật khác nữa.
Độc tố PSP có bản chất là Saxitoxin và khoảng hơn 20 dẫn xuất - Các hợp chất
này tan trong nước và hầu hết đều bền nhiệt (Baden et al. 1993). Saxitoxin và
các dẫn xuất khác phong bế kênh Na
+
của tế bào thần kinh, ngăn cản sự truyền
xung thần kinh và do đó chúng gây ảnh hưởng đến cả hoạt động thần kinh và
các phản ứng của hệ cơ (Baden et al. 1993).
Triệu chứng ngộ độc thường xuất hiện khoảng 5 –90 phút sau khi ăn, với cảm
giác ban đầu là bỏng rát ở lưỡi và miệng, lan toả đến vùng hầu và cổ họng; ngứa
và đau như kim chích ở đầ
u ngón tay, ngón chân. Tiếp theo đó là cảm giác nhức
đầu, chóng mặt, buồn nôn, nôn và có thể tiêu chảy. Trong trường hợp nghiêm
trọng, quá trình liệt cơ xuất hiện, đặc biệt biểu hiện rõ nhất là liệt cơ hô hấp gây
ra triệu chứng phát âm và hô hấp khó khăn. Nạn nhân ngộ độc nặng có biểu
hiện như bị kích động và hiện tượng tử vong do liệt cơ hô hấp có thể xảy ra
trong vòng 2-24 giờ sau khi ăn. Tỉ l
ệ tử vong gây ra do độc tố PSP là khoảng 1-
14%, có thể lên tới 20% nếu như không được cấp cứu kịp thời. Tuy nhiên, biện
pháp chữa trị chỉ là hỗ trợ hô hấp, tăng cường sức chống chịu của người bệnh.
Giới hạn an toàn của độc tố PSP là 80 µg/100 g thịt HMV (Ở hầu hết các quốc
gia trên thế giới), hoặc 40 µg/100 g (ở Philippine, Đức){Hallegraeff 1995 ID:
60 µg/100 g ở Sweden (Hallegraeff, 1995).
1.3. Độc tố gây mất trí nhớ tạm thời (Amnesis shellfish poisoning – ASP):
ASP là triệu chứng ngộ độ
c của người khi tiêu thụ hai mảnh vỏ bị nhiễm độc tố
domoic acid từ các loài tảo silic thuộc giống Pseudo-nitzchia. Domoic acid là
một hợp chất bền nhiệt, tan trong nước, nhưng lại không bền pH,ï có tính chất
đặc trưng của nhóm amino acid.
Domoic acid hoạt động như một chất cạnh tranh mạnh mẽ của glutamic acid - nó
bịt kín điểm tiếp nhận glutamate của tế bào thần kinh với ái lực hóa học rất
mạnh . Triệu chứng ngộ độc ở người thường gặp 4 h sau khi ăn (hoặc có thể sau
72h) bao gồm buồn nôn, nôn mửa, rối loạn dạ dày, chảy máu dạ dày và tiêu chảy
(Triệu chứng ở hệ tiêu hóa). Tiếp theo là các triệu chứng ngộ độc thần kinh như
chóng mặt, yếu, nhầm lẫn, ngủ lịm đi, hôn mê, lên cơn, và hội chứng mất trí nhớ
tạm thời (Quilliam & Wright, 1995). Giới hạn an toàn
đối với domoic acid là 20
µg/g mô (Hallegraeff, 1995).
1. 4. Độc tố thần kinh (Neurotoxic shellfish poisoning – NSP):
NSP (đôi khi còn gọi là BSP-Brevetoxin shellfish poisoning) là hiện tượng ngộ
độc bởi các loài hai mảnh vỏ nhiễm độc tố từ loài vi tảo Gymnodinium breve.
Loài vi tảo này là tác nhân gây ra cái chết của hàng loạt cá, sự nhiễm độc của
các sinh vật có vỏ mà nếu ăn phải chúng, con người sẽ bị ngộ độc NSP. Ngoài
ra, loài vi tảo này còn có thể gây ra triệu chứng giống như là hen suyễn cho
người n
ếu như hít phải.
Độc tố NSP là hợp chất polyether vòng tan trong chất béo, được phân ra làm 2
dạng cấu trúc chính gồm 9 hợp chất khác nhau (Shimizu et al. 1986). Độc tố
NSP gây hiệu ứng độc do sự gắn kết của nó tại vị trí đặc biệt (vị trí số 5) trên
kênh trao đồi Na
+
trên màng tế bào, dẫn đến sự co thắt cơ trơn màng ruột
(Murata et al. 1991).
2. Sự tích lũy sinh học:
Nhiều loài vi tảo đã được khẳng định hoặc nghi ngờ là nguồn gốc sinh ra các
độc tố. Hầu hết các loài vi tảo độc này sống trong môi trường biển và nước lợ,
thuộc ngành tảo giáp; ngoài ra, tảo si líc, tảo đỏ, tảo xanh lam và tảo roi bám
cũng có thể chứa độc tố. Các độc t
ố vi tảo có thể gây nguy hại trực tiếp cho hệ
thực vật và hệ động vật khác, hoặc chúng có thể tích lũy trong các sinh vật thông
qua chuỗi thức ăn như hai mảnh vỏ, bọn cá xương, và thông qua đó sẽ gây nguy
hại cho các loài động vật ăn thịt trong đó bao gồm cả con người. (Backer et al.
2003, Hallegraeff 2003, Landsberg 2002).
Hàm lượng độc tố cao nhất trong tế bào tảo có thể bắt gặp ở các giai đoạn sinh
trưởng khác nhau ở các loài tảo khác nhau. Ví dụ như ở một loài tảo giáp
Alexandrium, hàm lượng độc tố cao nhất là ở giai đọan tăng trưởng hàm số mũ
(Cembella 1998 và các tài liệu trích dẫn liên quan), trong khi đó, ở tảo si líc
Pseudo-nitzschia, độc tố đựơc sản sinh chủ yếu ở giai đoạn ổn định (Bates 1998,
and references therein). Ngoại trừ trường hợp đặc biệt, dường như tế bào tảo của
loài Prorocentrum cordatum chỉ
độc ở giai đoạn sau ổn định và giai đoạn tàn
lụi.
Mặt khác, trong cùng một loài tảo nhưng chúng có thể rất độc, độc, hoặc không
độc, tùy theo phân bố tại các vùng địa lý khác nhau, ví dụ như ở các loài tảo
giáp Alexandrium (Cembella 1998), Gynodinium catanetum (Oshima et al.
1993), và các loài tảo si líc Pseudo-nitzchia (Bates et al. 1998). Chính vì vậy,
những loài được bắt gặp trong khảo sát hiện nay tại vùng biển ven bờ Việt Nam,
mặc dù chúng được coi là loài độc ở nh
ững vùng biển khác nhưng không thể
khẳng định là loài độc tại Việt Nam– Ở đây sẽ gọi là những loài có khả năng gây
trong các mô của cơ thể (có thể đến 2 năm) (Shumway & Cembella, 1993;
Shumway, 1994). Nhìn chung, khả năng tích lũy độc tố phụ thuộc vào đặc điểm
sinh học và cơ chế trao đổi chất của từng loài cũng như từng cá thể trong loài.
Ngoài ra, điều kiện sống của sinh vật cũng đóng vai trò quan tr
ọng trong quá
trình tích lũy độc tố.
Sự tiêu thụ các hải sản đã bị nhiễm độc tố vi tảo có thể gây ra hàng loạt các
triệu chứng hệnh lý về hệ tiêu hóa hoặc hệ thần kinh ở người. Hiện nay, không có
thuốc giải đặc hiệu cho việc ngộ độc từ độc tố vi tảo, nhưng việc cung cấp các
thiết bị hô hấp nhân tạo có thể cứu sống nhi
ều nạn nhân trong trường hợp ngộ độc
PSP, hay việc dùng mannitol cũng làm giảm nhẹ các triệu chứng trong trường hợp
ngộ độc CFP (Hallegraeff 2003).
Một điều rất quan trọng là các độc tố tảo không hề gây ra bất kỳ mùi
vị khác lạ nào trong đối tượng hản sản khi chúng ta ăn phải, do đó, ngư dân
hoặc người tiêu thụ không thể nào phát hiện ngay lập tức sự có mặt của
chúng mà ch
ỉ có thể phát hiện bằng các phương pháp thử nghiệm sinh học
hoặc phân tích hóa học. Mặt khác, các độc tố tảo không bị phá hủy trong
qúa trình nấu chín; chính vì vậy, chúng có thể tồn tại ở cả các sản phẩm hải
sản đồ hộp, đông lạnh hoăc các sản phẩm chế biến khác.
Khó khăn chính trong theo dõi và giám sát sự nở hoa của các loài vi tảo độc
hại là vấn đề thiếu cơ sở v
ề mối tương quan giữa sự xuất hiện của các loài vi tảo
độc và độc lực trong sinh vật có vỏ. Có thể có rất nhiều lý do cho sự thiếu nhất
quán bao gồm thiếu kiến thức về sinh thái học đối với bọn vi tảo và các loài ăn
lọc có liên quan; và cả chương trình thu mẫu kém hiệu quả cũng như việc phân
tích và sử dụng số liệu một cách chưa chính xác.
ệ nghịch với hàm lượng độc tố có mặt trong dịch chiết.
- Độc tố DSP: Chiết rút trong acetone, loại béo bằng n-Hexan, sau đó chiết
trong chloroform, cô chân không cho phân tích độc tố bằng phương pháp PP 2A
(Yasumoto, 1989a,b): Okaidaic acid (OA) hoặc DTX 1 có tác dụng ức chế hoạt
động của emzyme PP2A trong phản ứng bẻ gãy liên kết phosphoryl của hợp chất
Para-nitorophenyl (không màu) để tạo thành hợp chất có màu vàng. Cường độ
màu của phản ứng tỉ lệ nghịch v
ới hàm lượng độc tố có mặt trong dịch chiết.
- Độc tố ASP: Chiết rút trong Methanol 50%, ly tâm lấy dịch trong và phân tích
độc tố bằng phương pháp ELISA (Takata Y. 2006). Dựa vào phản ứng liên kết
đặc hiệu giữa kháng nguyên và kháng thể; trong đó, kháng nguyên (Acid
Domoic - DA) có thể được xác định khi được nhận biết đặc hiệu bằng một
kháng thể thứ hai đã cộng hợp với enzym (Horse Raddish Peroxidase) thông qua
kháng thể thứ nhất là Rabbit anti serum against DA-BSA (Bovine Serum
Albumin) sẽ tạo ra sản phẩm có màu khi tác dụng với cơ chất (Ortho-
phenylenediamin). Cường độ màu của phản ứng tỉ lệ nghịch với hàm lượng độc
tố có mặt trong dịch chiết. III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1. Độc tố PSP:
Các kết quả phân tích độc tố PSP trong mẫu Nghêu Meretrix lyrata thu tại Cần
Giờ, TP.HCM và Bến Tre, Vẹm xanh Perna viridis thu tại Nha Phu, Khánh Hòa
được trình bày tại b
ảng 1 dưới đây.
lyrata: Meretrix spp. là các loài ăn lọc nhưng sống đ
áy (detritus filter feeding
species) nên nguồn thức ăn của chúng không những chỉ là các loài vi tảo (bao
gồm vi tảo độc) mà còn có thể là những hạt vật chất hữu cơ khác của quá trình
xáo trộn trầm tích đáy biển (Defossez & Hawkins 1997). Hầu hết các loài vi tảo
sản sinh độc tố PSP đều thuộc nhóm tảo giáp dinoflagellate sống trôi nổi, có thể
di chuyển theo dòng chảy bề mặt, trong khi Nghêu là sinh vật ăn lọc thụ động
(hầu như không di chuyển) nên tần xu
ất để chúng bắt gặp các loài vi tảo độc này
trong thức ăn là không cao (Shumway et al. 1985). Tuy nhiên, chúng vẫn sử
dụng các loài vi tảo độc này như là một trong những nguồn thức ăn luôn có mặt
trong môi trường. Điều này đã được chứng minh từ các kết quả phân tích sắc ký
lỏng cao áp trong các nghiên cứu trước đây của chúng tôi, một hàm lượng độc tố
PSP vẫn được ghi nhận ở tất cả các mẫu phân tích, dù ở mức độ khá nhỏ. Trong
khi đó, Vẹm xanh Perna viridis
thường sống ở tầng nước giữa, và thức ăn chủ
yếu của chúng là các loài vi tảo bao gồm cả các loài vi tảo độc có mặt trong môi
trường. Vẹm được coi là loài HMV nhạy nhất đối với sự tích lũy độc tố từ các
loài vi tảo độc, chúng được sử dụng là sinh vật chỉ thị cho sự nở hoa của vi tảo
độc. Như vậy, kết quả chỉ phát hiện đượ
c hàm lượng nhỏ độc tố PSP này chỉ có
thể lý giải do trong thời điểm nghiên cứu, không có sự xuất hiện mật độ cao của
các loài vi tảo độc sản sinh độc tố PSP ở cả 03 địa điểm nghiên cứu.
Theo đồ thị 1, hàm lượng độc tố PSP trong các mẫu nghiên cứu biến thiên
một cách khá ngẫu nhiên, chưa thấy biểu hiện tính qui luật theo thời gian -
Không tìm thấy sự khác biệt củ
a chúng giữa các mẫu cũng như giữa các đợt thu
mẫu trong các thời điểm khác nhau.
0.00
vùng biển Nha Phu với giá trị 37.25 µg/100g vào thời điểm tháng 04/2003. Mặc
dù giá trị này thấp hơn giá trị an toàn tiêu dùng, nhưng cần thận trọng giám sát
mật độ các loài vi tảo sản sinh độc tố PSP cũng như hàm lượng độ
c tố PSP trong
P.viridis trong thời gian chuyển mùa nhằm đề phòng, giảm thiểu nguy cơ ngộ
độc cho con người thong qua tiêu thụ loài sinh vật này.
Trong cùng loài M.lyrata, hàm lượng độc tố PSP trung bình tại vùng biển
Cần Giờ (18.86 µg/100g) cao hơn tại Bến Tre (16.44 µg/100g) (bảng 1). Tuy sự
khác biệt không đáng kể, nhưng tạm thời có thể nhận định bước đầu rằng vùng
biển Cần Giờ có tiềm năng nguy cơ cao hơn vùng biển Bến Tre v
ề mặt ô nhiễm
độc tố PSP.
trong phạm vi an toàn cho người tiêu dùng với mức độ an toàn cao.
Bảng 2: Kết quả phân tích hàm lượng độc tố DSP (ng/100g) trong Meretrix lyrata và Perna
viridis tại các điểm nghiên cứu (2004-2005)
Thời gian thu mẫu
P
erna viridis Meretrix lyrata
Nha Phu Cần Giờ Bến Tre
04/2004
30.0 40.0 60.0
05/2004 20.0
60.0 47.0
06/2004 40.0
75.0 52.0
07/2004 45.0 80.0
52.7
08/2004 25.0 60.0
50.9
09/2004 30.0
65.0
40.0
10/2004 0.0 70.0 40.0
11/2004 0.0 60.0
25.0
12/2004 0.0
40.0 40.0
01/2005 0.0
60.0 60.0
02/2005 0.0
10.0
20.0
30.0
40.0
50.0
60.0
70.0
80.0
90.0
Apr-04 May-04 Jun-04 Jul-04 Aug-04 Sep-04 Oct-04 Nov-04 Dec-04 Jan-05 Feb-05 Mar-05 Apr-05
Thời gian thu mẫu (tháng)
ng/100g
Perna viridis Nha Phu
Meretrix lyrata Cần Giờ
Meretrix lyrata Bến TreHình 2: Sự biến thiên của độc tố DSP trong Nghêu Maretrix lyrata và Vẹm Xanh Perna
viridis theo thời gian tại các vùng nghiên cứu
Kết quả phân tích HPLC cũng cho thấy thành phần độc tố DSP chủ yếu thuộc
okadaic acid (OA) (Sơ đồ 2) mà chủ yếu được sản sinh bởi các loài vi tảo thuộc
giống Dinophysis (Yashumoto et.al. 1983) ,hầu hết không tìm thấy sự có mặt
của nhóm DTX1-4.
Sơ đồ 2: Sắc ký đồ độc tố DSP trong Meretrix lyrata
3. Độc tố ASP:
12/2004 3.42 2.24 1.18
01/2005 2.59 2.50 0.86
02/2005 2.84 1.48 1.56
03/2005 4.78 1.96 0.64
04/2005 1.88 1.34 1.82
Trung bình 2.88 1.58 1.54 0
1
2
3
4
5
6
Apr-04 May-04 Jun-04 Jul-04 Aug-04 Sep-04 Oct-04 Nov-04 Dec-04 Jan-05 Feb-05 Mar-05 Apr-05
Thời gian thu mẫu (Tháng)
ug/g
Perna viridis Nha Phu
Meretrix lyrata Cần Giờ
Meretrix lyrata Bến Tre
Hình 3: Sự biến thiên của độc tố ASP trong Nghêu Meretrix lyrata và Vẹm Xanh Perna
viridis theo thời gian tại các vùng nghiên cứu
Khi so sánh kết quả giữa 03 vùng nghiên cứu, các mẫu thu tại Nha Phu có hàm
lượng độc tố ASP cao hơn so với 02 vùng còn lại. Điều này có thể lý giải do sự
khác biệt về loài thu mẫu (Nha Phu – P.viridis; Cần Giờ và Bến Tre – M.lyrata):
Do khả năng tích lũy và đào thải độc tố rất nhanh qua quá trình ăn lọc, P.viridis
là sinh vật chỉ thị cho sự ô nhiễm độc tố vi tảo, trong khi đó, Nghêu M. lyrata lại
này trong những điều kiện môi trường thích hợp để có biện pháp ngăn ngừa và
cảnh báo kịp thời.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Baden, D.G. & V.L. Trainer 1993. Mode of action of toxins of seafood
poisoning. Pp. 49-74. - In I.R. Falconer (Ed.), Algal toxins in seafood and
drinking water. Academic Press.
2. Bialojan, C. & A. Takai 1988. Inhibitory effect of marine-sponge toxin,
okadaic acid, on protein phosphatase. Specificity and kinetics. - Biochem.J.
256: 283-290.
3. Bricelj, V.M., & Shumway, S.E. (1998). An overview of the occurence and
transfer kinetics of paralytic shellfish toxins in bivalve molluscs. In The VIII
International Conference Proceeding on harmful algae. Vigo 1997. The VIII
international Conference Proceeding on harmful algae.Vigo 1997., VIII, 431-
436.
4. Carmichael, W.W., N.A. Mahmood & E.G. Hyde 1990. Natural toxins
from cyanobacteria (blue-green algae). Pp. 87-106. - In S. Hall & G.
Strichartz (Eds.), Marine toxins: Origin, structure, and molecular
pharmacology. ACS symposium series 418. Washington. American Chemistry
Society.
5. Cucci, T.L., Shumway, S.E., Newell, R.C., & Yentsch, C.M. (1985). A
preliminary study of the effects of Gonyaulax taramensis on feeding in bivalve
molluscs. In D.M. Anderson, A.W. White, & D.G. Baden (Eds.), Toxic
shellfish poisoning. - Tetrahedron Lett. 28: 5869-5872.
15. Murata, M., F. Gusovsky, M. Sasaki, A. Yokoyama, T. Yasumoto & J.W.
Daly 1991. Effect of maitotoxin analogues on calcium influx and
phosphoinositide breakdown in cultured cells. - Toxicon 29: 1085-1096.
16. Premazzi, G. & L.Voltera 1993. Microphyte Algae. Commission of the
European Communities.
17. Shimizu, Y., H.N. Bando, G. Vanduyne & J. Clardy 1986. Structure of
brevetoxin-A (GB-1), the most potent toxin in the Florida red tide organism
Gymnodinium breve (Ptychodiscus brevis). - JACS 108: 514-515.
18. Steidinger, K.A. 1993. Some Taxonomic and Biologic Aspects of Toxic
Dinoflagellates. In Ian R.Falconer (Ed.), Algal toxins in Seafood and Drinking
water. (pp. 1-28). Academic Press
.
19. Yasumoto, T., M. Murata, Y. Oshima & M. Sano 1985. Diarrhetic
shellfish toxins. - Tetrahedron 41: 1019-1025.
20. Yasumoto, T. & M. Satake 1998. New toxins and their toxicological
evaluations. Pp. 461-464. - In Proceeding of the XIII International
Conference on Harmful algae, Vigo 1997. UNESCO.
21. Yashumoto, T., Y.Oshima, & Y.Kotachi. (1983). Analysis of paralytic
Shellfish toxins in coral reef crabs and gastropods with the indentification of the
primary source of toxins. toxicon, 513-519.
22. Yoshida, M., Ogata, T., Thuoc, C.V., Matsuoka, K., Fukuyo, Y., Hoi, N.C.,
& Kodama, M. (2000). The first finding of toxic dinoflagellate Alexandrium
minitum in Vietnam. Fisheries science, 66, 177-179.
23. Yoshinobuta Takata (2006). The distributions of Domoic acid and its origin.
Doctor thesis. Kitasato University, Japan.
24. Shumway, S.E. (1990). A review of the effects of algal blooms on shelllfish
and aquaculture. J.World Aquaculture Soc., 21, 65-104.