Uỷ ban Dân tộc đề tài khoa học cấp bộ 2008
cơ sở khoa học của việc nghiên cứu,
biên soạn lịch sử cơ quan công tác dân tộc
Cơ quan quản lý đề tài: Uỷ ban Dân tộc
Đơn vị thực hiện đề tài: Ban Nghiên cứu, Biên soạn lịch sử
Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Hữu Ngà
Th ký đề tài: CN. Lê Thị Thu Hà
Báo cáo tổng kết
Các chuyên đề nghiên cứu
7338-1
15/5/2009
1. Sự hình thành và phát triển của dân tộc
2
2
2. Quan hệ giữa dân tộc và giai cấp
11
3. Hai xu hớng khách quan trong sự phát triển dân
tộc và mối quan hệ giữa các dân tộc
16
4. Cơng lĩnh về vấn đề dân tộc của Chủ nghĩa Mác-
Lênin
19
Chuyên đề 2:
chính sách dân tộc, công tác dân tộc ở nớc ta
24
3
I. Những vấn đề cơ bản trong chính sách dân tộc.
1. Đối tợng của chính sách dân tộc.
24
24
2. Những nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc.
25
3. Khái niệm về chính sách dân tộc.
29
44
Chuyên đề 3:
Vị trí của cơ quan công tác dân tộc trong hệ
thống chính trị ở nớc ta và những vấn đề đặt
ra đối với cơ quan công tác dân tộc trong thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hoá45
9
I. Vị trí của vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc trong sự
nghiệp cách mạng của Đảng Cộng sản việt nam.
45
10
II. Sự ra đời của cơ quan công tác dân tộc, tổ chức và chức
năng nhiệm vụ chủ yếu qua các thời kỳ.
1. Thời kỳ 1945 - 1954.
48
48
2. Thời kỳ 1955 - 1975.
52
3. Thời kỳ 1976 - 1985.
54
4. Thời kỳ 1986 đến nay.
56
II. Tình hình Tổ chức và hoạt động của cơ quan làm công tác
dân tộc từ năm 1946 đến nay.
1. Giai đoạn 1946 - 1954
73
73
2. Giai đoạn 1955 - 1975
79
3. Giai đoạn 1976 1986
88
4. Giai đoạn 1987 đến nay
91
14
III. Một số bài học kinh nghiệm qua nghiên cứu lịch sử tổ
chức và hoạt động của cơ quan làm công tác dân tộc.
103
Bài học kinh nghiệm thứ nhất
103
Bài học kinh nghiệm thứ hai
106
Bài học kinh nghiệm thứ ba
110
Bài học kinh nghiệm thứ t
126
127
17
IV. Một số giải pháp về tổ chức biên soạn, về su tầm tài liệu,
về tài chính.
127
1. Giải pháp về tổ chức biên soạn.
127
2. Giải pháp về tài chính.
128
3. Giải pháp về thu thập tài liệu, t liệu.
128
Chuyên đề 6:
Những vấn đề cơ bản trong chính sách dân
tộc của đảng cộng sản việt nam 133
Phần 1: quan điểm, đờng lối và chính sách
dân tộc của đảng cộng sản việt nam
trong quá trình đấu tranh giải phóng
dân tộc
133
18 I. Trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền cách mạng
1. T tởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, giải
quyết vấn đề dân tộc.
171
2. Quan điểm, đờng lối của Đảng.
173
3. Chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nớc ta.
174
23 III. Công tác dân tộc. 176
1. Vị trí của công tác dân tộc.
176
2. Nội dung của công tác dân tộc trong giai đoạn
hiện nay.
177
3. Hệ thống cơ quan công tác dân tộc.
178
24 Kết luận 178
25
Chuyên đề 7:
Đề cơng và kế hoạch biên soạn lịch sử cơ
quan công tác dân tộc 126
26
Tài liệu tham khảo
Dân tộc - tộc ngời là nói theo nghĩa hẹp; tộc ngời trong quốc gia - dân tộc
8
có nhiều tộc ngời hợp thành là một thành phần trong cơ cấu của dân tộc -
quốc gia đó. Mỗi tộc ngời là một chủ thể bình đẳng (thiểu số cũng nh đa
số) nh mọi chủ thể khác, cùng sinh sống, cùng có chung chế độ chính trị,
Nhà nớc, luật pháp, kinh tế, văn hoá nhng lại có văn hoá tộc ngời riêng
của mình (ngôn ngữ, tiếng nói, chữ viết, phong tục, tập quán, lối sống).
Cần lu ý đặc trng nổi bật sau đây để phân biệt dân tộc trong quốc
gia - dân tộc với tộc ngời trong quốc gia đa tộc ngời;
Dân tộc - quốc gia nổi bật ở tính toàn vẹn lãnh thổ, độc lập chủ quyền.
Trong khi đó, dân tộc - tộc ngời lại đặc biệt nổi bật ở văn hoá tộc ngời.
2. Định nghĩa về dân tộc, tộc ngời.
- Dân tộc hay còn gọi là Quốc gia - dân tộc và dân tộc - quốc gia
(nation) là một cộng đồng chính trị - xã hội đợc chỉ đạo bởi một nhà nớc,
thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, có một tên gọi, một ngôn ngữ hành
chính (trừ trờng hợp cá biệt), một sinh hoạt kinh tế chung, với những biểu
tợng văn hoá chung, tạo nên một tính cách dân tộc.
- Tộc ngời hay dân tộc - tộc ngời (ethnic) là một cộng đồng mang
tính tộc ngời, có chung một tên gọi, một ngôn ngữ (trừ trờng hợp cá biệt),
đợc liên kết với nhau bằng những giá trị sinh hoạt văn hoá tạo thành tính
cách tộc ngời, có chung một ý thức tự giác tộc ngời, tức là có chung một
khát vọng cùng chung sống, có chung một số phận lịch sử thể hiện ở những
ký ức lịch sử (truyền thống, lịch sử, huyền thoại, tục kiêng cữ).
II. Quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề
Dân tộc.
1. Sự hình thành và phát triển của dân tộc
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin xem xét vấn đề dân tộc
trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Là một hiện tợng lịch
10
Các cuộc cách mạng vô sản trong thế kỷ XIX và XX vừa qua nhằm
thực hiện mục tiêu giải phóng giai cấp và dân tộc đã trở thành những bớc
ngoặt trong lịch sử các dân tộc.
Do đó, dân tộc là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài của xã hội
loài ngời. Dân tộc có các hình thức cộng đồng khác nhau trong lịch sử từ
thấp đến cao, từ thị tộc và bộ lạc đến các bộ tộc và đến khi xuất hiện giai
cấp và nhà nớc thì xuất hiện dân tộc.
Dới đây, ta xem xét sự ra đời của các hình thức cộng đồng ngời đó
theo quan điểm lịch sử - cụ thể:
- Thị tộc và bộ lạc
Theo Ăngghen, thị tộc là hình thức cộng đồng ngời đầu tiên, đó là tổ
chức xã hội sớm nhất của loài ngời, thị tộc là một thiết chế chung cho tất
cả các dân dã man, cho tận đến khi họ bớc vào thời đại văn minh và thậm
chí còn sau hơn nữa.
1
Dân dã man mà Ăngghen nói ở đây chính là nói về cộng đồng ngời ở
xã hội Cộng sản nguyên thủy, đó là hình thái tổ chức xã hội đầu tiên của loài
ngời khi vừa mới thoát thai khỏi loài vật.
Thời đại văn minh là để chỉ chung các xã hội đã hình thành chế độ
Nhà nớc, đã có những bớc tiến mạnh mẽ về sản xuất, kỹ thuật và công
nghệ, đã hình thành các đô thị và thành phố mà điển hình là từ thời đại t
sản trở đi.
Trong xã hội thị tộc, nền sản xuất còn hết sức lạc hậu, thấp kém, công
cụ sản xuất chỉ là những cái gậy và hòn đá, con ngời sống chủ yếu là lấy
cái có sẵn từ tự nhiên, bằng săn bắt và hái lợm. Đó là nền kinh tế chiếm
1 . C.Mác và Ph.Ănghghen, Toàn tập, CTQG.H1995.t21, tr 130.
cúng bái riêng.
+ Lập ra hội đồng bộ lạc để thảo luận và quyết định những công việc
chung. Hội đồng này bao gồm tất cả các tù trởng và các thủ lĩnh quân
sự của các thị tộc. Hội đồng họp công khai và mọi thành viên trong cộng
đồng bộ lạc đều có quyền nh nhau tham gia thảo luận. Ai muốn tham
dự đều đợc chấp nhận.
Ăng-ghen xem đó là hình thức dân chủ đầu tiên trong lịch sử, dân chủ
cộng đồng, thuần phác và giản dị. Đây là dân chủ của thị tộc và bộ lạc trong
thời đại cộng sản nguyên thuỷ, cha có t hữu, giai cấp và Nhà nớc cũng
cha hề có. Cũng do đó, cha có quân đội, hiến binh, cảnh sát, cha có quý
tộc, vua chúa, tổng đốc, trởng quản và quan toà, cha có nhà tù và những
vụ xử án Vậy mà mọi việc đều trôi chảy. Mọi công việc trong sinh hoạt
cộng đồng đều đợc điều tiết theo tập quán, theo những thoả thuận, đồng
thuận của cả cộng đồng.
Từ những mô tả sinh động đó, Ăngghen rút ra nhận xét là:
ở đây, không thể có ngời nghèo khổ và thiếu thốn, - nền kinh tế
cộng sản và thị tộc biết rõ nghĩa vụ của mình đối với những ngời già yếu,
ốm đau, và những ngời thơng tật trong chiến tranh. Tất cả đều bình đẳng
và tự do, kể cả phụ nữ. Cha có nô lệ và cha có sự nô dịch những bộ lạc
khác
1
. Trong nhận xét trên đây của Ăng-ghen, có thể thấy:
Thứ nhất, cộng đồng thị tộc và bộ lạc sinh sống theo phơng thức
cùng làm chung, cùng hởng chung, đó là hình thức bình đẳng và bình quân,
dạng sơ khai của công bằng trong điều kiện đều nghèo khổ và thiếu thốn nh
nhau, tuyệt nhiên không có của thừa, không có t hữu, chiếm đoạt của thừa
làm của riêng. ý niệm về điều đó cũng không hề có. Chính do sản xuất còn
cực kỳ hạn chế nên cuộc sống của mọi thành viên thị tộc, bộ lạc là nh nhau,
________
14
nghìn năm nh ở Trung Quốc và ấn Độ.
Trong lịch sử, cũng có những xã hội bỏ qua chế độ chiếm hữu nộ lệ.
Trong trờng hợp đó, bộ tộc xuất hiện cùng với chế độ phong kiến.
Ăng-ghen còn giải thích rõ, tính tất yếu khách quan của sự xuất hiện
bộ tộc khi các thị tộc, bộ lạc tan rã. Bộ tộc xuất hiện khi dân c ngày càng
đông đúc thêm buộc ngời ta phải đoàn kết với nhau một cách mật thiết hơn,
ở bên trong cũng nh ở bên ngoài. ở khắp mọi nơi, liên minh của những bộ
lạc cùng dòng họ trở thành một điều cần thiết; không bao lâu thì sự hợp nhất
của những bộ lạc đó, và do đó sự hợp nhất của những lãnh thổ riêng của các
bộ lạc thành một lãnh thổ chung của toàn thể tộc ngời cũng trở thành một
điều cần thiết
1
.
Bộ tộc ra đời đánh dấu một nấc thang trong sự hình thành dân tộc.
Mối liên hệ huyết thống đã lùi xuống hàng thứ yếu, thay thế vị trí nổi bật
trớc đây của nó, giờ là lúc xuất hiện mối liên hệ chung dựa trên lợi ích kinh
tế, truyền thống lịch sử, ngôn ngữ, tiếng nói chung. Đây mới thực sự là mối
liên hệ chủ đạo, đặc trng cho bộ tộc, nó dần dần làm cho các bộ tộc ổn định
thành các cộng đồng ngời ổn định và phát triển lên từ bộ tộc trở thành dân tộc.
Theo Ăngghen, vào thế kỷ IX ở châu Âu đã có quá trình Những bộ
tộc bắt đầu phát triển thành những dân tộc
2
. Điều đó cho thấy, hình thức
cộng đồng bộ tộc đã từng xuất hiện trớc hình thức cộng đồng dân tộc.
- Dân tộc
Dân tộc là hình thức cộng đồng ngời thay thế cho hình thức bộ tộc.
Cũng nh bộ tộc, dân tộc ra đời trong điều kiện xã hội đã xuất hiện giai cấp
và Nhà nớc. Nhiều tác phẩm của Mác-Ăngghen đã cho thấy, dân tộc xuất
một chính phủ thống nhất, một luật pháp thống nhất, một lợi ích dân tộc
thống nhất mang tính giai cấp và một hàng rào thuế quan thống nhất
2
.
Từ đó có thể rút ra những dấu hiệu (hay điều kiện) cho sự hình thành
dân tộc t sản nh một quá trình thống nhất về lãnh thổ, thị trờng, chính
_____________________
16
1. Sđd. t.21, tr 578.
2. Sđd. t4, tr 603.
phủ, luật pháp hớng vào phục vụ lợi ích của dân tộc, trớc hết là của giai
cấp t sản.
Ngoài ra, sự hình thành dân tộc t sản còn là quá trình đồng hoá các
bộ tộc khác thành một dân tộc. Xem xét quan hệ của giai cấp t sản với
dân tộc cũng nh thái độ của nó đối với vấn đề dân tộc cũng nh thái độ của
nó đối với dân tộc cần phải chú ý tới những mặt sau đây:
Một là, trong cuộc đấu tranh lật đổ quyền thống trị của giai cấp phong
kiến chuyên chế đã lỗi thời để mở đờng cho phơng thức sản xuất t bản
chủ nghĩa phát triển, giai cấp t sản là một giai cấp tiến bộ và cách mạng,
lúc đó, lợi ích của giai cấp t sản thống nhất với lợi ích của dân tộc t sản.
Nó ủng hộ và thúc đẩy cho dân tộc và quốc gia - dân tộc t sản ra đời, bởi sự
phát triển của dân tộc trong hoàn cảnh đó đem lại lợi ích cho nó với t cách
là giai cấp thống trị trong lòng dân tộc. Đây là thời kỳ của chủ nghĩa t bản
tự do cạnh tranh.
Hai là, khi giai cấp t sản bóc lột công nhân và lao động thì do bản
chất giai cấp quy định, nó (GCTS) không còn là một giai cấp tiến bộ và cách
mạng nữa, bộ mặt phản động của nó hiện ra, nó mâu thuẫn, thậm chí đối lập
với dân tộc và lợi ích dân tộc.
- Giai cấp nằm trong quốc gia - dân tộc, tồn tại trong quốc gia - dân
tộc. Song Nhà nớc luôn mang bản chất giai cấp, thuộc về một giai cấp nhất
định, giai cấp nào nắm quyền lực nhà nớc thì nó cũng dùng quyền lực nhà
nớc đó để thực hiện và bảo vệ lợi ích của mình. Để làm đợc điều đó nó
phải nhân danh lợi ích của toàn xã hội và trên thực tế, giai cấp thống trị
muốn duy trì đợc quyền lực và lợi ích của mình thì tất yếu cũng phải thực
hiện những lợi ích nào đó của xã hội, của dân tộc. Trên phơng diện lợi ích,
giai cấp và dân tộc vừa có mặt thống nhất lại vừa có mặt mâu thuẫn, thậm
chí có khi xung đột gay gắt. Trớc CNXH, các giai cấp thống trị (Phong kiến
2. Sđd, t23, tr.192-193.
18
và T sản) trong nhiều trờng hợp đã từng phản bội lợi ích dân tộc chỉ vì
quyền lợi của nó.
Mác-Ăngghen đã chỉ rõ, trong chế độ phong kiến, giai cấp địa chủ
phong kiến với quyền lực tập trung trong tay nhà vua là đại diện cho lợi ích
dân tộc, đại diện cho xu hớng tập trung, nó chống lại những xu hớng cát
cứ, phân tán, biệt lập và khép kín ở các địa phơng.
Cũng nh vậy, giai cấp t sản khi còn có vai trò tiến bộ, nó là đại diện
cho lợi ích của dân tộc T sản khi dân tộc t sản đáp ứng đợc nhu cầu phát
triển của chủ nghĩa t bản. Còn khi giai cấp t sản đã trở nên lỗi thời và phản
động thì mâu thuẫn với lợi ích dân tộc của chính nó.
Trờng hợp bất lực và nhu nhợc của GCTS Phổ vào những năm giữa
thế kỷ XIX, giai cấp t sản Pháp năm 1871 là những ví dụ điển hình.
- Chỉ có giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất thống nhất với lợi ích
của nhân dân lao động và do đó thống nhất với lợi ích của dân tộc.
Sở dĩ nh vậy vì giai cấp công nhân đại diện cho một phơng thức sản
xuất tiên tiến, tiêu biểu cho lực lợng cách mạng phủ định chủ nghĩa t bản.
Vấn đề dân tộc phụ thuộc vào vấn đề giai cấp. Vì sao lại nh vậy? Bởi
vì dân tộc chỉ xuất hiện khi trình độ kinh tế - xã hội đã phát triển tới một
mức nào đó. Do biến đổi của cơ sở kinh tế - xã hội mà dân tộc xuất hiện.
Đây là căn nguyên sâu xa. Dĩ nhiên, dân tộc xuất hiện còn đợc quy định
bởi những biến đổi của nhân tố tộc ngời. Đây cũng là một nhân tố rất quan
trọng. Song biến đổi của các tộc ngời, xét đến cùng chỉ là hệ quả về mặt xã
hội - lịch sử của biến đổi kinh tế - sản xuất, nhất là biến đổi về chế độ sở
hữu. Nó dẫn tới một giai cấp nắm quyền sở hữu t liệu sản xuất, từ đó nắm
quyền thống trị, chi phối xã hội. Vấn đề tộc ngời và dân tộc trong quốc gia -
20
dân tộc đợc giải quyết nh thế nào - điều đó phụ thuộc một phần lớn từ bản
chất kinh tế và ý thức hệ của giai cấp cầm quyền.
Mặt khác, phong trào dân tộc, đấu tranh dân tộc luôn chịu sự tác động
và quyết định bởi đấu tranh giai cấp.
Xét trong phạm vi một quốc gia - dân tộc cũng nh quan hệ giữa các
quốc gia - dân tộc trong khu vực, quốc tế và thế giới, mâu thuẫn giữa các dân
tộc thờng không tách rời mâu thuẫn giai cấp mà luôn gắn với mâu thuẫn
giai cấp. Phong trào dân tộc, đấu tranh giải phóng dân tộc chẳng những
không tách rời đấu tranh giai cấp mà còn chịu sự chi phối bởi các cuộc đấu
tranh giai cấp trong phạm vi dân tộc, quốc tế và thế giới.
Lịch sử đấu tranh giai cấp ở châu Âu, trong thế kỷ XIX, ở nớc Nga
cuối thế kỷ XIX và trong thế kỷ XX cũng nh cao trào đấu tranh giải phóng
dân tộc, các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở các nớc thuộc địa và phụ
thuộc chống ách bóc lột, áp bức của chủ nghĩa t bản, chủ nghĩa đế quốc, chủ
nghĩa thực dân (cũ và mới) suốt từ thế kỷ XX cho tới nay đều cho thấy rõ
điều đó.
Có hàng loạt nhân tố tác động vào vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc, mâu
thuẫn và xung đột dân tộc, các khuynh hớng phát triển dân tộc, từ kinh tế đến
dân tộc khác nhau là rất khác nhau.
Trong khi ở Châu Âu và phơng Tây đã diễn ra sự phân hóa giai cấp
sâu sắc, do đó, đấu tranh giai cấp ở vùng địa chính trị này là nổi trội, thì ở
phơng Đông, châu á, trong đó có Việt Nam và các nớc nh Việt Nam
đang bị mất chủ quyền, rơi vào tay của thế lực thực dân xâm l
ợc và đô hộ
lại nổi trội ở mâu thuẫn giữa dân tộc với các thế lực xâm lợc bên ngoài chứ
không phải là mâu thuẫn giai cấp, do trình độ phát triển kinh tế ở đây cha
22
có sự phân hóa giai cấp rõ rệt. Giải phóng dân tộc để xóa bỏ ách áp bức bóc
lột và địa vị nô lệ (vì mất độc lập chủ quyền) trở nên đặc biệt bức xúc, sống
còn. Trong bối cảnh thời đại mới sau Cách mạng tháng Mời, việc giải quyết
vấn đề dân tộc đã vợt qua những hạn chế của ý thức hệ, thế giới quan phong
kiến, t sản và chỉ có thể giải quyết thành công vấn đề dân tộc theo ý thức
hệ, theo lập trờng, quan điểm của giai cấp công nhân. Tất yếu phải gắn giải
phóng dân tộc với phát triển dân tộc, do đó Độc lập dân tộc phải gắn liền với
chủ nghĩa xã hội, quá độ tới chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ t bản chủ nghĩa.
Cũng nh vậy, ý thức xã hội chủ nghĩa, lập trờng quan điểm chính trị
xã hội chủ nghĩa không chỉ hoàn toàn do ý thức giai cấp, địa vị lịch sử của
giai cấp quy định. ở đây, ý thức dân tộc, truyền thống lịch sử và văn hóa dân
tộc đóng một vai trò không kém phần quan trọng. Việt Nam là một ví dụ. Quy
luật ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kết hợp cả tính phổ biến với tính
đặc thù. Đảng ra đời không chỉ là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa
Mác-Lênin với phong trào công nhân (giai cấp) mà còn với phong trào yêu
nớc của dân tộc (dân tộc).
3- Hai xu hớng khách quan trong sự phát triển dân tộc và mối quan hệ
giữa các dân tộc
Đây là những xu hớng khách quan trong điều kiện của chủ nghĩa t
bản khi đã hình thành dân tộc t sản.
Lênin đã từng viết : Trong quá trình phát triển của chủ nghĩa t bản,
có hai xu hớng lịch sử trong vấn đề dân tộc. Xu hớng thứ nhất là sự thức
tỉnh của đời sống dân tộc và của các phong trào dân tộc, cuộc đấu tranh
chống mọi ách áp bức dân tộc, việc thiết lập các quốc gia dân tộc. Xu hớng
thứ hai là việc phát triển và tăng cờng mọi thứ quan hệ dân tộc, việc xoá bỏ
những hàng rào ngăn cách các dân tộc và việc thiết lập sự thống nhất quốc
24
tế của t bản, của đời sống kinh tế nói chung, của chính trị, của khoa học
1
.
Dù là những xu hớng khách quan nhng trong điều kiện của chủ
nghĩa đế quốc, việc thực hiện hai xu hớng này thờng gặp những cản trở lớn.
Chủ nghĩa đế quốc mở rộng xâm chiếm thuộc địa, duy trì ách áp bức
bóc lột, khai thác nguyên vật liệu và sức lao động đã dùng chiến tranh và bạo
lực để biến hầu hết các dân tộc nhỏ và lạc hậu thành thuộc địa và phụ thuộc.
Do đó nguyện vọng của các dân tộc đợc sống trong độc lập tự do thờng bị
ngăn cản và xoá bỏ bởi ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc. Để thực hiện xu
hớng độc lập và khẳng định chủ quyền, các dân tộc phải trải qua các cuộc
đấu tranh lâu dài, phức tạp, có khi hàng thế kỷ với những hy sinh không nhỏ.
Xu hớng các dân tộc xích lại gần nhau trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng lại
bị các thế lực đế quốc chủ nghĩa lợi dụng để thành lập những khối liên hiệp
nhằm duy trì ách áp bức, bóc lột đối với các dân tộc đó.
Lý luận cũng nh thực tiễn đã cho thấy, để thực hiện hai xu hớng nêu
trên một cách đúng đắn, lành mạnh thì chỉ có thể tìm thấy điều kiện giải
quyết trong chủ nghĩa xã hội.
Tiền đề có tính nguyên tắc là phải xoá bỏ tình trạng dân tộc này áp
bức bóc lột dân tộc khác, thực hiện bình đẳng trong các quan hệ dân tộc và
tôn trọng quyền tự quyết của các dân tộc.
Cơng lĩnh về vấn đề dân tộc của chủ nghĩa Mác-Lênin vẫn còn mãi
giá trị và ý nghĩa của nó trong điều kiện hiện nay.
Những nguyên tắc và nội dung chủ yếu của Cơng lĩnh dân tộc:
- Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng trong quan hệ với nhau và trong đời
sống giữa các dân tộc.
- Các dân tộc có quyền tự quyết về vận mệnh, con đờng phát triển và
lựa chọn chế độ chính trị của dân tộc mình.