chính sách kinh tế của indonesia và quan hệ với việt nam - Pdf 13

1
Đề tài: Indonesia và Đông Timor
Câu hỏi gợi mở
1. Đất nước nào có số dân đông đứng thứ tư trên thế giới ?
2. Tên gọi dựa theo đặc điểm tự nhiên của Indonesia ?
3. Đất nước nào từng là 1 tỉnh của Indonesia trong khoảng những năm 1976-
1999?
4. Vị trí của Đông Timor trên bản đồ ?
Bố cục nội dung
Phần 1: Đông Timor
Phần 2: Indonesia
I. Tổng quan về Indonesia
II. Các chính sách kinh tế của Indonesia
III. Bài học kinh nghiệm quốc tế rút ra cho Việt Nam
Phần 1: Kinh tế Đông Timor
Về tự nhiên xã hội
Đông Timor tên đầy đủ là cộng hòa dân chủ Đông Timor, là một quốc đảo
nhỏ bé với diện tích là 24 000 km vuông. Dân số cả nước là 1 131 612 người
(tháng 11/2009) với hơn 10 dân tộc có văn hoá và ngôn ngữ riêng. Tiếng Tetum và
tiếng Bồ Đào Nha là ngôn ngữ chính thức, tiếng In-đô-nê-xi-a và tiếng Anh là
ngôn ngữ làm việc. Phần lớn người dân theo đạo Thiên chúa giáo chiếm 98% tổng
dân số cả nước. Khí hậu chia làm 2 mùa, mùa khô từ tháng 5 tới tháng 12, mùa
mưa từ tháng 12 tới tháng 4.
Từ năm 1976-1999, Đông Ti Mo bị Indonesia chiếm đóng cai quản. Được tự
trị từ năm 2002, tuy nhiên do những hậu quả nặng nề từ chiến tranh và một nền
chính trị thiếu ổn định , trong một khoảng hơn một thập kỷ, Đông Ti Mo vẫn là
một nước nghèo kém phát triển với tỷ lệ thất nghiệp cao và nền kinh tế tăng trưởng
2
chậm. Nông nghiệp là ngành chính, chiếm tới 25% tổng sản phẩm quốc dân và
75% lực lượng lao động. Cà phê là mặt hàng xuất khẩu chủ yếu chiếm 85% tổng
giá trị xuât khẩu. Đông Timor có tiềm năng về khí đốt và dầu mỏ.

Nhận xét
4
Từ bảng số liệu và biểu đồ ta thấy:
Xuất khẩu không ổn định qua các năm. Trong vòng 5 năm, giá trị xuất khẩu
có 2 năm giảm, 2 năm tăng. Tổng chung 5 năm, GTXK giảm xấp xỉ 20.7% xuống
còn 34.5 triệu USD.
Nhập khẩu tăng liên tục qua các năm. Từ năm 2006 tới 2008 tăng mạnh nhất
với tốc độ trung bình năm là 83.2%. Tổng chung qua 5 năm GTNK tăng 170.5%
lên 295.1 triệu USD.
Về đối ngoại
Với các nước trên thế giới
Ngay sau khi độc lập, Đông Timo đã thiết lập quan hệ ngoại giao với nhiều
nước: Trung Quốc, Inđônêxia, Ố-xtrây-li-a, Mỹ, Nhật, một số nước ASEAN…,
Đông Timo cũng đã chính thức trở thành thành viên thứ 191 của LHQ, thành viên
thứ 84 của IMF và WB, thành viên thứ 61 của ADB. Đến nay, Đông Timo đã thiết
lập quan hệ ngoại giao với khoảng 90 nước và đã có 15 cơ quan đại diện ở nước
ngoài, trong đó chủ yếu là một số nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, Bồ Đào Nha,
Inđônêxia, Thái Lan Hiện ở Đili có 9 cơ quan đại diện nước ngoài, trong đó có
Mỹ, Nhật, Trung Quốc, EU, Bồ Đào Nha, Inđônêxia, Ố-xtrây-li-a, Ma-lai-xi-a và
Thái Lan.
Đông Timo chủ trương thúc đẩy quan hệ láng giềng thân thiện, đặc biệt là với
Ố-xtrây-li-a, Inđônêxia và Bồ Đào Nha, cũng như các nước ASEAN, coi trọng
quan hệ với các nước lớn như Trung Quốc, Mỹ và EU. Ô-xtrây-li-a là nước viện
trợ quan trọng nhất cho Đông Timo.
Ngày 26/2/2002, tại Bali, Inđônêxia đã diễn ra cuộc gặp đầu tiên giữa Bộ
trưởng Ngoại giao ba nước Ố-xtrây-li-a-Inđônêxia-Đông Timo để thảo luận về các
vấn đề như xây dựng quan hệ hợp tác kinh tế giữa ba nước sau khi Đông Timo
5
chính thức tuyên bố độc lập, tái hồi hương người tỵ nạn Đông Timo, phân định
lãnh hải khu vực phía Đông và phía Bắc Đông Timo, và phòng chống tội phạm

Ngôn ngữ: Bahasa Indonesia (chính thức), Hà Lan, Anh, và hơn 583 thổ ngữ.
2. Đặc điểm về địa lý, tự nhiên sinh thái
2.1Đặc điểm địa lý
Diện tích: Phần đất rộng 1,9 triệu km2 (đứng thứ 16 trên thế giới về diện tích
đất liền) và phần nước 9,9 triệu km2.
Nằm trong khoảng múi giờ UTC +7 đến +9, giữa hai lục địa Đông Nam
Á và Châu Đại Dương
Có biên giới trên bộ với Malaysia trên hòn đảo Borneo và Sebatik, Papua
New Guineatrên đảo New Guinea, và Đông Timor trên đảo Timor; chung biên giới
với Singapore, Malaysia, và Philippines ở phía bắc và Australia ở phía nam bằng
một dải nước hẹp.
Là quốc gia quần đảo lớn nhất trên thế giới, gồm trên 17.500 hòn đảo lớn nhỏ.
4 đảo lớn nhất: Sumatra, Java, Bali, Kalimantan.
Nhận xét
Vị trí chiến lược thuận lợi phát triển kinh tế [Indonesia nằm trên trục đường
biển và hàng không quốc tế] [Là đường giao thông hàng hải nối Châu Á, Châu Âu
với Châu Đại Dương và nối liền châu Mỹ với Châu Á và châu Âu.]
7
Lãnh thổ trải rộng trên nhiều hòn đảo gây khó khăn cho việc quản lý và việc
thực hiện một cách thống nhất các chủ trương, đường lối phát triển kinh tế.
2.2 Đặc điểm tự nhiên sinh thái
Khí hậu nhiệt đới gió mùa với 2 mùa: mùa khô từ tháng 5 đến tháng 10 và
mùa mưa từ tháng 11 đến tháng 4.
Các con sông lớn nhất là các đường giao thông quan trọng nối giữa các khu
định cư trên đảo. Lượng mưa trung bình hàng năm tại các vùng đất thấp. Độ ẩm
nói chung cao, trung bình khoảng 80%. Nhiệt độ ít thay đổi trong năm
Indonesia nằm trên các rìa của các mảng kiến tạo Thái Bình Dương, Âu Á,
và Úc khiến nước này trở thành nơi có nhiều núi lửa và thường xảy ra các vụ động
đất. Indonesia đứng thứ hai thế giới về mức độ đa dạng sinh học và có nhiều nguồn
tài nguyên thiên nhiên lớn, gồm dầu mỏ, khí tự nhiên, thiếc, đồng, và vàng.

(2005). Tình trạng chênh lệch giàu nghèo và chỉ số phát triển con người vào mức
trung bình với hệ số GINI là 36,8 (2011) và HDI là 0,617 (2011)
Nhận xét
Có nguồn nhân lực dồi dào
Sự phức tạp về dân tộc, tín ngưỡng sẽ gây ít nhiều khó khăn cho công tác
quản lý và triển khai.
9
4. Kinh tế
4.1 Tổng quan
Indonesia có một nền kinh tế thị trường trong đó chính phủ đóng vai trò chủ
đạo. Nó có hơn 164 công ty sở hữu quốc doanh, hoạt động kinh doanh các mặt
hàng cơ bản như dầu mỏ, gạo, và điện lực.
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Indonesia được ước tính khoảng 1208 tỉ
USD (2012) (theo PPP), GDP danh nghĩa khoảng 928.274 tỷ USD. Năm 2012, ước
tính GDP bình quân đầu người danh nghĩa là 3797 đô la, và GDP trên đầu người
theo sức mua tương đương (PPP) là 4943 (đô la quốc tế).
Lĩnh vực dịch vụ là ngành lớn nhất của nền kinh tế và chiếm 45,3% GDP
(2005). Tiếp theo là công nghiệp (40,7%) và nông nghiệp (14,0%). Nông nghiệp sử
dụng 44,3% trong tổng số lực lượng lao động 95 triệu người. Tiếp theo là lĩnh vực
dịch vụ (36,9%) và công nghiệp (18,8%). Các ngành công nghiệp chính là dầu mỏ
và khí thiên nhiên, dệt, may, và khai thác mỏ. Các sản phẩm nông nghiệp chính là
dầu cọ, gạo, chè, cà phê, gia vị, và cao su.
Các thị trường xuất khẩu chính (2009) là Nhật Bản (17.28%), Singapore
(11.29%), Hoa Kỳ (10.81%) và Trung Quốc (7.62%). Nhập khẩu nhiều hàng của
Nhật Bản (18,0%), Trung Quốc (16,1%), và Singapore (12,8%). Năm 2011 lạm
phát của Indonesia là 5.3%, nợ công là 454,3 tỷ USD (56,2% GDP)
4.2 Đặc điểm
Trong thập kỷ 1960, nền kinh tế đã suy giảm nghiêm trọng vì sự bất ổn chính
trị, một chính phủ trẻ và không có kinh nghiệm, và chủ nghĩa kinh tế quốc gia yếu
kém, dẫn tới tình trạng nghèo đói nghiêm trọng. Sau khi chế độ Sukarno sụp đổ hồi

Ví dụ, Tổ chức Minh bạch Quốc tế xếp Indonesia đứng hạng 143 trên 180
nước trong bảng Chỉ số nhận thức tham nhũng của họ. Tuy nhiên, tốc độ tăng
trưởng GDP đã vượt 5% trong cả hai năm 2004 và 2005, và được dự báo sẽ còn
tăng thêm. Mặc dù vậy, tốc độ tăng này chưa đủ mạnh đề dẫn tới một sự thay đổi
lớn trong tỷ lệ thất nghiệp, và mức tăng lương, giá nhiên liệu và gạo tăng cao càng
làm trầm trọng hơn vấn đề đói nghèo. Năm 2006, ước tính 17,8% dân số sống dưới
mức mức nghèo khổ, 49,0% dân số sống với chưa tới 2 đô la mỗi ngày, và tỷ lệ
thất nghiệp ở mức 9,75%.
Năm 2005, có thặng dư thương mại, với kim ngạch xuất khẩu đạt 83,64 tỷ
USD và kim ngạch nhập khẩu là 62,02 tỷ. Các mặt hàng nhập khẩu chính của
Indonesia gồm máy móc và thiết bị, hoá chất, nhiên liệu và các mặt hàng thực
phẩm.
Dưới đây là bảng thống kê tổng sản phẩm quốc nội của Indonesia theo giá cả
thị trường bởi Quỹ tiền tệ quốc tế. Đơn vị tính là triệu rupiah.
Năm GDP Trao đổi USD (rupiah)
Chỉ số lạm phát
(2000=100)
1980 60.143.191 626.98 12
1985 112.969.792 1.110,58 20
1990 233.013.290 1.842,80 29
1995 502.249.558 2.248,60 44
2000 1.389.769.700 8.396,33 100
2005 2.678.664.096 9.705,16 155
12
5. Đối ngoại
5.1 Tổng quan
Luôn nêu cao tự cường quốc gia, tự cường khu vực và đa dạng hoá quan hệ,
kiên trì chính sách đối ngoại "độc lập và tích cực", hoà bình, độc lập, trung lập và
không liên kết. Trong đó, In-đô-nê-xi-a coi trọng quan hệ với ASEAN, các nước và
các trung tâm lớn như Mỹ, Nhật, Trung Quốc, EU, Nga…, tranh thủ về vốn, kỹ

Khuôn khổ Hợp tác Hữu nghị và Toàn diện bước vào thế kỷ 21”, Hiệp định Phân
định ranh giới thềm lục địa và Hiệp định Miễn thị thực cho người mang hộ chiếu
phổ thông. Ngày 6/10/2004, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam và In-đô-nê-xi-a đã
ký Bản ghi nhớ hợp tác hai Bộ Ngoại giao. Tổng thống In-đô-nê-xi-a là ông Xu-xi-
lô Bam-bang Giu-đô-giô-nô đã thăm chính thức Việt Nam từ 28-30/5/2005. Lãnh
đạo hai nước nhất trí duy trì các cơ chế tham khảo ý kiến hiện nay giữa hai nước và
thiết lập cơ chế tham vấn ở cấp cao. Hai nước đã ký MOU về Hợp tác phòng ngừa
và đấu tranh chống tội phạm và MOU về Hợp tác trong lĩnh vực giáo dục. Thủ
tướng Chính phủ Phan Văn Khải thăm chính thức In-đô-nê-xi-a từ ngày 22-
23/2/2006. Nhân dịp này, hai bên đã ký Thoả thuận về Hợp tác Du lịch.
Từ 6-7/11/2006, tại Ba-tam (In-đô-nê-xi-a) đã diễn ra cuộc họp giữa hai đoàn
cán bộ liên ngành của Việt Nam và In-đô-nê-xi-a nhằm giải quyết vấn đề ngư dân
và tàu thuyền của Việt Nam hiện còn bị kẹt tại In-đô-nê-xi-a.
 Về hợp tác kinh tế, đầu tư, khoa học công nghệ và văn hóa
Về đầu tư, In-đô-nê-xi-a tập trung vào các lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu
khí, khai thác than, ngân hàng, khách sạn, chế biến xuất khẩu gỗ, sản xuất sợi
Polyester và hoạt chất tẩy rửa DBSA, may mặc và dịch vụ dầu khí. Tính đến hết
14
năm 2005, In-đô-nê-xi-a có 13 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký là
130 triệu USD, tập trung vào lĩnh vực dịch vụ, công nghiệp và xây dựng.
Kim ngạch thương mại hai chiều đạt 1,18 tỷ USD năm 2004 và năm 2005 đạt
1,17 tỷ USD. Năm 2006 kim ngạch thương mại hai chiều đạt khoảng 1,7 tỷ USD.
Trong 4 tháng đầu năm 2007, kim ngạch thương mại hai chiều đạt gần 930 triệu
USD. In-đô-nê-xi-a tiếp tục là thị trường truyền thống về nhập khẩu gạo của ta. Ta
nhập chính các mặt hàng hoá chất và các sản phẩm hoá chất, bông, vải sợi, nguyên
phụ liệu dệt may, máy móc thiết bị, sắt thép, kim loại thường… Hai Bộ Thương
mại đã ký MOU năm 2003 về Hàng đổi hàng nhưng đến nay vẫn khó triển khai vì
cơ cấu hàng hai bên khá giống nhau và chưa tìm ra được phương thức thanh toán.
Tháng 4/2005, hai nước đã tổ chức Diễn đàn Doanh nghiệp tại TP Hồ Chí Minh.
Từ khi lập Uỷ ban hỗn hợp năm 1990, hai nước đã họp được 4 phiên.

Thoả thuận hợp tác trong lĩnh vực dầu khí
Thỏa thuận về hợp tác kỹ thuật giữa Hiệp hội cà phê-ca cao với Hiệp hội các nhà
xuất khẩu cà phê In-đô-nê-xi-a (26/6/2003)
MOU về Hợp tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và MOU về Hợp tác trong
lĩnh vực giáo dục (28-30/5/2005)
Thoả thuận về Hợp tác Du lịch (2/2006). MOU về hợp tác mua bán gạo (5/4/2007).
( Nguồn: /> /> /> />newsPath=/vnemb.vn/cn_vakv/ca_tbd/nr040819102944/ns070731094247
)
II. Các chính sách kinh tế tại Indonesia
Chính sách thương mại quốc tế
Trong thời kỳ những năm 1980 tới năm 1997 Indonesia theo đuổi chiến lược
công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu. Khi khủng hoảng tư bản xảy ra, giá dầu suy
16
giảm khiến cho lượng dầu xuất khẩu của Indonesia giảm sút nghiêm trọng, tốc độ
tăng trưởng chậm (năm 1982: 2.2%, năm 1985: 2.5%), cán cân thương mại bị thâm
hụt 6.1 tỷ USD, nợ nước ngoài lên tới 30% GDP.
Để khắc phục tình trạng này, sắc lệnh số 4 của tổng thống ban hành tháng
4/1985 tiến hành giảm mạnh và đơn giản hóa thủ tục xuất nhập khẩu, cho phép mở
rộng các hoạt động bốc dỡ hàng hóa tại các cầu cảng trong vòng 24h mỗi ngày, cho
phép các công ty có quyền bán tháo tất cả các hàng hóa trị giá trên 5000 USD. Sắc
lệnh này tạo điều kiện giảm chi phí nhập khẩu và tăng doanh thu từ thuế nhập khẩu
cho chính phủ.
Năm 1986, thu nhập từ xuất khẩu dầu mỏ tiếp tục giảm mạnh. Indonesia tích
cực thực hiện chính sách thúc đẩy xuất khẩu phi dầu lửa bằng 2 biện pháp cải cách
thương mại vào tháng 5/1986:
• Phá bỏ các trở ngại về thuế quan, cho phép các ngành công nghiệp xuất khẩu
được tự do nhập khẩu các sản phẩm cần thiết cho sản xuất.
• Tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà xuất khẩu bằng cách phá giá đồng
Rupiah 45% so với đồng USD, thiết lập hệ thống tỷ giá hối đoái linh hoạt
hơn.

18
Chính phủ có kế hoạch áp thuế suất 20% đối với 14 loại khoáng sản xuất khẩu
gồm: Đồng, vàng, bạc, thiếc, chì, crôm, bạch kim, bô xít, quặng sắt, cát sắt, ni ken,
mô líp đen, man gan và ăng ti moan. (Nguồn: />tuc/34392/chinh-sach-moi-cua-indonesia-ve-han-che-xuat-khau-tai-nguyen-khoang-san.aspx)
Chính sách đầu tư
Năm 1993 lượng vốn đầu tư trực tiếp FDI vào Indonesia suy giảm do vốn
chảy vào các thị trường mới như Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam. Đối mặt với vấn
đề này, chính phủ Indonesia đưa ra Sắc lệnh số 20/1994 về đầu tư nước ngoài với
nhiều giải pháp như nới lỏng chính sách, hủy bỏ chính sách Bản địa hóa, cho phép
lập công ty 100% vốn nước ngoài Kết quả là lượng FDI năm 1994 tăng 75% so
với năm 1993 lên 14,100 triệu USD.
Năm 2002, chính phủ Indonesia đã thay thế Luật Đầu tư số 21/1967 bằng một
bộ Luật Đầu tư mới. Điểm mấu chốt của bộ luật này là Indonesia không phân biệt
đầu tư trong nước và nước ngoài. Từ năm 2004, Chính phủ Indonesia thi hành
nhiều chính sách “trải thảm đỏ” mời gọi đầu tư nước ngoài như đơn giản hóa thủ
tục lập doanh nghiệp, thành lập các đặc khu kinh tế theo kiểu Trung Quốc, đơn
giản hóa thủ tục hải quan và thuế khóa…Kết quả là nhiều đại gia công nghiệp đã
tìm đến Indonesia, trong đó có cả doanh nghiệp châu Á như Singapore, Trung
Quốc, Nhật Bản, doanh nghiệp đến từ Mỹ và châu Âu trong những lĩnh vực quan
trọng như năng lượng, sản xuất ô tô, công nghệ viễn thông
Hiện nay, Indonesia đang thực hiện chiến lược toàn cầu để thúc đẩy xuất khẩu
và thu hút đầu tư nước ngoài, đảm bảo sự phát triển kinh tế nhanh chóng và tạo
thêm việc làm cho các ngành công nghiệp sản xuất cần nhiều nhân công ở đảo Java
(đảo phát triển nhất ở Indonesia, nơi có thủ đô Jakarta).
Chiến lược dựa trên định hướng xuất khẩu bao gồm hai chính sách lớn. Trước
tiên, là để khắc phục những sai lầm như trường hợp của Hà Lan về vấn đề tỷ giá và
19
làm cho tỷ giá hối đoái hiệu lực thực tế (REER) trở nên tích cực. Ở trong nước, tỷ
giá REER tích cực có thể mang lại cho các sản phẩm nội địa khả năng cạnh tranh
về mặt tài chính trên các thị trường quốc tế. Còn ở bên ngoài, nó tác động đến khả

tiêu, làm cơ sở cho lãi suất tín phiếu NHTW (SBI) 1 tháng (bình quân gia quyền).
Thống đốc Ngân hàng Trung ương Indonesia (ICB) Darmin Nasution nhận
định nước này vẫn đang đối mặt với sức ép lạm phát do giá lượng thực và dầu mỏ
leo thang, đồng thời cho rằng sự tăng giá của đồng nội tệ (rupiah) sẽ giúp kiềm chế
các áp lực về giá và việc điều chỉnh tăng giá đồng tiền này có thể được tiếp tục
trong năm nay.
Chính sách tỷ giá
* Thời kì khủng hoảng tài chính Đông Á
Indonesia là một trong những nước bị ảnh hưởng mạnh nhất bởi cuộc khủng
hoảng này, cùng Hàn Quốc và Thái Lan. Nguyên nhân trực tiếp của khủng hoảng
tài chính Đông Á năm 1997 là những cuộc tấn công đầu cơ và việc rút vốn đồng
loạt khỏi các nước châu Á. Khi mới bị tấn công tiền tệ, đáng lẽ phải lập tức thả nổi
đồng tiền của mình, các nước châu Á lại cố sức bảo vệ tỷ giá để đến nỗi cạn kiệt cả
dự trữ ngoại hối nhà nước mà lại càng làm cho tấn công đầu cơ thêm kéo dài.
Tháng 7, khi Thái Lan thả nổi đồng Baht, cơ quan hữu trách tiền tệ của
Indonesia đã nới rộng biên độ dao động của tỷ giá hối đoái giữa Rupiah và Dollar
Mỹ từ 8% lên 12%. Tháng 8, đồng Rupiah bị giới đầu cơ tấn công và đến ngày 14
thì chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý được thay thế bằng chế độ thả nổi hoàn
toàn. Đồng Rupiah liên tục mất giá. IMF đã thu xếp một gói viện trợ tài chính khẩn
cấp cho Indonesia lên tới 23 tỷ Dollar, nhưng Rupiah tiếp tục mất giá do đồng
Rupiah bị bán ra ồ ạt và lượng cầu Dollar Mỹ ở Indonesia tăng vọt. Tháng 9, cả giá
21
Rupiah lẫn chỉ số thị trường chứng khoán đều giảm xuống mức thấp lịch sử, tỷ lệ
lạm phát tăng vọt.
Trước khủng hoảng, tỷ giá hối đoái giữa Rupiah và Dollar vào khoảng
2000/1. Nhưng trong thời kỳ khủng hoảng, tỷ giá đã giảm xuống mức 18.000/ 1.
Bảng : Tình hình phá giá của các đồng tiền ĐNA
Đồng tiền
Tỷ giá so với USD Mưc độ phá giá
Đơn vị: %

2018, cơ quan chức năng sẽ bắt đầu thu hồi dần tiền Rp "cũ," và từ năm 2019-2020
đồng Rp "mới" sẽ được đưa vào lưu hành.
Thống đốc BI Darmin Nasution cho biết đề xuất chính sách nói trên của BI
dựa trên thực tế tỷ giá hối đoái của đồng Rp là “quá thấp so với các loại tiền tệ
khác.” Đây cũng là một phần trong nỗ lực điều chỉnh thích ứng với những cải cách
kinh tế khu vực tiến tới thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN vào năm 2015.
23
Hiện tại, tỷ giá giữa đồng Rp với đồng USD là 9.100 Rp/1 USD - mức thấp thứ ba
xét về tỷ giá hối đoái đối với đồng USD, đứng sau đồng metical của Mozambique
(23.100) và Việt Nam đồng (21.000). Việc cắt bớt đi 3 số không cuối cùng của các
tờ Rp sẽ chuyển tỷ giá trao đổi của loại tiền này với đồng USD thành mức 9,1 Rp/1
USD.
Chính sách khoa học công nghệ
Indonesia quốc gia vạn đảo có bước phát triển ấn tượng và đạt được kết quả
vượt bậc như hiện nay không thể phủ nhận vai trò của khoa học và công nghệ
(KH&CN). Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng sự tiến bộ nhanh chóng của KH&CN
Inđônêxia thời gian qua phải kể đến vai trò “cầu nối” cùng với chính sách và
truyền thông làm nên sự thành công của Inđônêxia.
Hình 1. Năng suất nghiên cưú khoa học quốc gia của 11 nước trong khu vực
Đông Á tính theo số công bố quốc tế trên một triệu dân .
24
NSNCQG của Indonesia sở dĩ thấp nhất trong 11 nước không phải do số
lượng công bố quốc tế của các nhà khoa học tại đây ít mà phần nào do dân số đông
đúc của Indonesia.
Hình 2: Tương quan mạnh giữa NSNCQG với bình quân GDP. Dữ liệu năm
2004
25


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status