Chính sách ngoại thương, tình hình kinh tế khối eu và quan hệ với việt nam - Pdf 64

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH

TIỂU LUẬN KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
Đề tài:
CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG, TÌNH HÌNH KINH TẾ KHỐI EU VÀ QUAN
HỆ VỚI VIỆT NAM
Nhóm thực hiện: Nhóm 3
Lớp: 06DQN
Giảng viên: Th.S Cao Minh Trí
TP.HỒ CHÍ MINH 2/2009
1
Danh sách nhóm 3:
1. Trần Thị Ngọc Hà
2. Trương Thị Tường Vi
3. Ngô Cẩm Tú
4. Lâm Thị Hồng
5. Dương Ái Phương
6. Nguyễn Thị Thúy
7. Nguyễn Thị Xuân
8. Nguyễn Thị Kim Long.
9. Lương Hồ Xuân Hương
10.Lê Kim Liên
11.Lê Trọng Hiếu
12.Trần Văn Minh
13.Trần Ngọc Minh
14.Trần Vũ Mai Phương
15.Nguyễn Thị Thanh
Thuận
16.Cao Quốc Thắng.

1. Xuất khẩu da giày vào EU suy giảm lợi thế giá
2. Từ 1-1-2009, EU chính thức “loại” giày da Việt Nam ra khỏi GSP
3. Suy thoái kinh tế sẽ gây những khó khăn cho xuất khẩu Việt Nam sang EU
trong năm 2009
4. Những khó khăn của VN khi thâm nhập thị trường EU
2
Lời mở đầu
Trong những những năm gần đây nền kinh tế nước ta phát triển và đạt nhiều thành
tựu đáng kể, điển hình là Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương
mại thế giới WTO. Việc là thành viên của WTO cho nước ta nhiều cơ hội cũng như
thách thức, đặc biệt là ở thị trường khó tính như EU.
EU là một trong những thị trường xuất khẩu chủ yếu của doanh nghiệp Việt Nam
bên cạnh thị trường Mỹ, Nhật. Để có thể kinh doanh thành công tại thị trường khó tính
này doanh nghiệp Việt Nam cần phải tìm hiểu rõ những chính sách ngoại thương của
EU.
Vì vậy chúng tôi nghiên cứu trình bày về chính sách ngoại thương ,tình hình thương
mại quốc tế của EU & quan hệ với Việt Nam
I. Qúa trình hình thành của EU:
Ngày nay, EU là một tổ chức kinh tế hùng mạnh trên thế giới, là một trong ba trung
tâm lớn nhất trong nền kinh tế thế giới (Hoa Kỳ, Nhật và EU) với GDP năm 1998 đạt
8.482 tỷ USD, chiếm 19,8% GDP toàn cầu, năm 2000 đạt 9.050 (khoảng 20% toàn cầu), và
năm 2001 đạt 9.315 tỷ USD. GDP tính theo đầu người năm 1995 là 23.089 USD/ người,
năm 2000 đạt trên 24.000 USD, đồng thời EU cũng là Trung tâm Thương mại Tài chính
khổng lồ với đồng.
Là một tổ chức liên chính phủ của các nước châu Âu. Từ 6 thành viên ban đầu,
hiện nay có 27 quốc gia thành viên. Liên minh được thành lập với tên gọi hiện nay theo
Hiệp ước về Liên minh châu Âu năm 1992, thường gọi là Hiệp ước Maastricht. Tuy nhiên,
nhiều phương diện của Liên minh châu Âu đã có từ trước, kể từ thập niên 1950, thông qua
một loạt các tổ chức tiền thân.
Lịch sử của Liên minh châu Âu bắt đầu từ chiến tranh thế giới thứ II. Ý tưởng về hội

USD, chiếm 19,8% GDP toàn cầu, năm 2000 đạt 9.050 (khoảng 20% toàn cầu), và năm
2001 đạt 9.315 tỷ USD. GDP tính theo đầu người năm 1995 là 23.089 USD/ người, năm
2000 đạt trên 24.000 USD, đồng thời EU cũng là Trung tâm Thương mại Tài chính khổng
lồ với đồng.
4
Mốc lịch sử đánh dấu sự hình thành của EU là bản “Tuyên bố Schuman” của Bộ
trưởng ngoại giao Pháp Robert Schuman vào ngày 09 tháng 05 năm 1950 với đề nghị đặt
toàn bộ nền sản xuất gang thép của Cộng hoà liên bang Đức và Pháp dưới một cơ quan
quyền lực chung, trong một tổ chức mở cửa để các nước châu Âu khác cùng tham gia. Sau
đó, Hiệp ước thành lập Cộng đồng than thép châu Âu (ECSC), một tổ chức tiền thân của
EU ngày nay được ký kết. Từ đó đến nay, sự liên kết giữa các quốc gia châu Âu đã không
ngừng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu với đỉnh cao là một Liên minh châu Âu
như chúng ta thấy ngày nay và trong tương lai có thể sẽ đạt tới cấp độ liên kết cao hơn.
Nhìn lại hơn 50 năm hình thành và phát triển của Liên minh châu Âu, có thể thấy quá trình
này gắn liến với các hiệp ước chủ yếu sau đây (từ năm 1951 đến nay):
- Hiệp ước Paris thành lập cộng đồng Than – Thép châu Âu (ECSC) được ký
ngày 18/04/1951 với sự tham gia của 6 nước: Pháp, Đức, Italy, Bỉ, Hà Lan và
Luxembourg
- Hiệp ước Rome thành lập Cộng đồng Năng lượng nguyên tử châu Âu
(EURATOM) và Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC) được ký ngày 25/31957 với
sự nhất trí của 6 nước thành viên ECSC.
- Hiệp ước thành lập Cộng đồng châu Âu (EC) được ký ngày 08/04/1965 giữa các
nước của 3 nước Cộng đồng này dưới tên gọi: Cộng đồng châu Âu.
- Hiệp ước Maastricht thành lập Liên minh châu Âu được ký ngày 07/2/1992 tại
Maastricht – Hà Lan, với sự nhất trí hoàn toàn của nguyên thu quốc gia các nước
thành viên (lúc này, số thành viên của EC là 12 nước bao gồm: Pháp, Đức, Bỉ,
Italy, Hà Lan, Luxembourg, Anh, Đan mạch, Ailen, Hy Lạp, Bồ Đào Nha và
Tây Ban Nha) nhằm thành lập một “không gian châu Âu” thống nhất về kinh tế,
chính trị, an ninh, quốc phòng và các chính sách về xã hội.
- Hiệp ước Amsterdam được ký vào ngày 2/10/1997 bởi các nguyên thủ của 15

thương mại của EU là bảo hộ nông nghiệp, bảo vệ môi trường và bảo vệ
sức khoẻ người tiêu dùng. EU trợ cấp sản xuất nông nghiệp trong khối
đồng thời đánh thuế cao và áp dụng hạn ngạch đối với một số nông sản
nhập khẩu như gạo, đường, chuối, sắn lát.v.v...Các yêu cầu về xuất xứ, tiêu
chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm luôn được thực hiện nghiêm ngặt.
2. Bên cạnh cam kết với các nước thành viên WTO, EU ký nhiều hiệp định
thương mại và các hiệp định ưu đãi khu vực và song phương và dành chế
độ MFN toàn phần cho sản phẩm nhập khẩu từ Ôxtrâylia, Canađa, Đài
6
Loan, Hồng Kông, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, NiuZealand, Hoa Kì
và các hiệp định ngành hàng song phương khác.
3. Bên cạnh các cam kết mở cửa thị trường trong khuôn khổ WTO về nông
nghiệp, EU duy trì hạn ngạch áp dụng thuế quan đối với một số sản phẩm,
giảm dần trị giá và số lượng các sản phẩm được trợ cấp xuất khẩu. Trong
một số lĩnh vực dịch vụ, EU đã có cam kết cụ thể thực hiện theo lịch trình
chung của GATs, kể cả lĩnh vực viễn thông cơ bản, tài chính và dịch vụ
nghe nhìn.
4. EU áp dụng Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) dành cho 143 quốc
gia và 36 vùng lãnh thổ, trong đó các nước chậm phát triển nhất được ưu
đãi nhiều hơn theo sáng kiến “Mọi sản trừ vũ khí-EBA”
5. EU áp dụng nhiều biện pháp tác động trực tiếp đến nhập khẩu vào lãnh thổ
mình như thủ tục hải quan, quy tắc xuất xứ, thuế quan, thuế gián tiếp, giấy
phép, biện pháp tự vệ, quy tắc và tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa, chống
bán phá giá…
6. Tất cả các nước thành viên EU phải áp dụng chính sách ngoại thương
chung đối với ngoài khối. Uỷ ban Châu Âu là người đại diện duy nhất cho
Liên minh trong đàm phán, ký các Hiệp định thương mại và dàn xếp tranh
chấp trong lĩnh vực này.
7. Chính sách ngoại thương của EU gồm chính sách thương mại tự trị và
chính sách thương mại dựa trên cơ sở Hiệp định được xây dựng dựa trên

sách chống bán phá giá
12.Biểu thuế quan chung (CCT – Common Custom Tariff) của Liên
minh châu Âu.
 EU áp dụng biểu thuế quan chung (CCT) chủ yếu đối với các mặt hàng
công nghiệp. Đây là công cụ chủ yếu trong chính sách thương mại của Liên
minh.
 Các thành phần của CCT bao gồm danh mục các mặt hàng tính thuế, các
quy định về cách tính thuế, miễn hoặc giảm thuế, xuất xứ hàng hoá. Các
mức thuế quan được xây dựng trên cơ sở lấy bình quân các mức thuế áp
dụng với từng mặt hàng kể từ ngày 1/1/1957 ở 6 nước của EEC khi mới
thành lập là Pháp, Tây Đức, Italy, và Benelux (gồm Bỉ, Hà Lan và
Luxembourg). Theo cách tính này thì phần lớn các mức thuế của Pháp và
8
Italy phải giảm đi, còn các mức thuế ở Đức và Luxembourg được tăng lên.
Trong quá trình xây dựng, CCT được chia thành ba giai đoạn và kết thúc
vào năm 1968, sớm hơn so với thời hạn dự kiến 2 năm.
 Hiệp ước Roma có quy định điều khoản theo đó các thành viên EC luôn
sẵn sàng đàm phán nhằm cắt giảm các mức thuế quan chung. Những thoả
thuận về những cắt giảm như vậy đã đạt được trong khuôn khổ một loạt
các vòng đàm phán Dillon (1961-1962), mức CCT bình quân được giảm từ
25% vào năm 1958 xuống còn 11,7% vào năm 1963. Còn kết quả đạt được
sau vòng đàm phán Kennedy là các mức thuế quan được cắt giảm trung
bình đối với Hoa Kỳ là 32% và với Anh là 35%. Do có những thoả thuận
cắt giảm như vậy cho nên đến tháng 1/1972, mức trung bình của CCT chỉ
còn là 8,1% giảm đi 35% so với mức ban đầu, 12% và 11,5%. Một khi đã
xây dựng được các mức CCT thì các nước thành viên phải có nghĩa vụ áp
dụng chúng theo một cách thức thống nhất. Điều này liên quan đến danh
mục các mặt hàng, thủ tục tính thuế và các quy định về xuất xứ hàng hoá
kết hợp với việc thực hiện GSP.
 Đặc biệt khi làm rõ đặc điểm trong chính sách ngoại thương EU, cần phải

đích giúp cho hàng hoá của các nước này tăng khả năng thâm nhập vào thị
trường EU thông qua một số những ưu đãi thuế quan nhất định, từ đó thúc
đẩy kinh tế của các nước này phát triển. Chế độ GSP được xây dựng dựa
trên các nguyên tắc tự nguyện, không đòi hỏi có đi có lại, đơn phương
quyết định. Chương trình này đã được Hội đồng châu Âu thông qua quy
chế áp dụng cho từng thời kỳ: 1971 -1980, 1981-1990, 1991-1994,
1994-2005. Trong 8 năm trở lại đây, chương trình ưu đãi thuế quan 4 năm
(1995-1998) đối với các sản phẩm công nghiệp nhất định có nguồn gốc từ
các nước đang phát triển; (2) Quy định số 1256/96 ngày 20/6/1996 về việc
áp dụng một chương trình ưu đãi thuế quan trong 4 năm (1996-1999) đối
với một số sản phẩm nông nghiệp có nguồn gốc từ các nước đang phát
triển: (3) Quy định số 2820 ngày 21/12/1998 về việc áp dụng một chương
trình ưu đãi thuế quan trọng 3 năm (1999-2001) đối với tất cả các sản phẩm
có xuất xứ các nước đang phát triển.
10
 Hiện nay, EU vẫn đang áp dụng chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập cho
thời kỳ từ 1/7/1999 đến 31/12/2001. Theo chương trình này, EU chia ra các
sản phẩm được hưởng GSP thành 4 nhóm với mức thuế khác nhau dựa trên
mức độ nhạy cảm đối với bên nhập khẩu, mức độ phát triển của nước xuất
khẩu và những văn bản thoả thuận đã ký kết giữa hai bên. Bốn nhóm sản
phẩm của các nước đang phát triển được hưởng ưu đãi thuế quan phổ cập
của EU là:
+ Nhóm 1- Sản phẩm rất nhạy cảm: bao gồm phần lớn là nông sản và một số ít
sản phảm công nghiệp tiêu dùng như: chuối tươi, chuối khô, dứa tưới, dứa hộp,
(lượng đường không quá 17% trọng lượng), quần áo may sẵn, nguyên liệu thuốc lá,
lụa tơ tằm,.. được hưởng mức thuế GSP bằng 85% thuế xuất MFN. Đây là nhóm
mặt hàng EU hạn chế nhập khẩu.
+ Nhóm 2- Sản phẩm nhạy cảm: chủ yếu là thực phẩm, đồ uống, hoá chất,
nguyên liệu, hàng thủ công (gạch lát nền và đồ sứ), gày dép, hàng điện tử dân dụng,
xe đạp, ô tô, đồ chơi trẻ em…được hưởng mức thế GSP bằng 70% thuế suất MFN.

 Các biện pháp khuyến khích trong GSP của EU so với ưu đãi mà cá nước
và khu vực khác dành chó các nước đang phát triển vào loại thấp nhất. Có
lẽ vì thế đã tồn tại trong hệ thống GSP của EU quy định khuyến khích tăng
thêm mức ưu đãi 10%, 20%o Cho 35% đối với hàng nông sản và 15% 25%
35% đối với hàng nông sản và của EU bắt đầu có hiệu lực từ ngày
1/7/1999 thì những trường hợp sau được hưởng ưu đãi thêm:
+ Bảo vệ quyền của người lao động: nước hưởng GSP cần chứng minh trong
các văn bản pháp quy của mình có các quy định về các tiêu chuẩn áp dụng các
nguyên tắc về tổ chức, đàm phán tập thể và tuổi lao động tối thiểu.
+ Bảo vệ môi trường: các văn bản pháp quy của nước hưởng GSP phải có các
quy định cụ thể áp các tiêu chuẩn của OIBT về bảo vệ môi trường.
14. Chính sách chống bán phá giá.
 Các quy định về chống bán phá giá của EU được đưa ra từ những ngày đầu
thành lập và được xây dựng trên cơ sở điều khoản của WTO, EU chỉ được
áp dụng các biện pháp chống bán phá giá trong trường hợp các ngành công
nghiệp của EU bị tổn hại do việc nhập khẩu các sản phẩm phá giá. Đây là
những sản phẩm được bán trên thị trường nội địa với mức giá “thông
thường”. Tuy nhiên, việc so sánh các mức giá này thường gặp khó khăn.
12
Cách tính giá “thông thường” của EU dựa vào chi phí sản xuất cộng với lợi
nhuận cận biên. Vấn đề là mức lợi nhuận như thế nào mới được coi là thích
hợp. Xu hướng của EU là tính mức lợi nhuận cao, có khi tới 30%.
 Các quy định chống bán phá giá của EU được xác định trong Quy chế
chống phá giá có hiệu lực từ năm 1995 và sau đó được cập nhật bằng quy
chế 384/96 có hiệu lực từ ngày 6/3/1996. Quy chế mới lồng ghép tất cả các
biện pháp được thoả thuận tại vòng đàm phán Urugoay của GATT. Quy
chế chống phá giá năm 1996 quy định việc áp dụng thuế chống bán phá giá
và chỉ được áp dụng thuế này trong các đìều kiện:
+ Có phát hiện bán phá giá: giá xuất khẩu của sản phẩm trên thị trường EU
thấp hơn giá bán tại thị trường của nhà xuất khẩu.

trường hợp mức thuế áp dụng vượt quá mức phá giá thì khoản chênh lệch
sẽ phải được hoàn trả cho nhà xuất khẩu.
15. Các biện pháp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Liên minh châu
Âu
 Một đặc điểm nổi bật trên thị trường EU là quyền lợi của người tiêu dùng
được bảo vệ nghiêm ngặt, khác hẳn với thị trường của các nước đang phát
triển. Để đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng, EU tiến hành kiểm tra
các sản phẩm ngay từ nơi sản xuất và có các hệ thống báo động giữa các
nước thành viên, đồng thời bãi bỏ việc kiểm tra các sản phẩm ở biên giới.
EU đã thông qua những quy định bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng về
độ an toàn chung của các sản phẩm được bán ra, các hợp đồng quảng cáo,
bán hàng tận nhà, nhãn hiệu, v.v.. các tổ chức chuyên nghiên cứu đại diện
cho giới tiêu dùng sẽ đưa ra các quy chế định chuẩn Quốc gia hoặc châu
Âu. Hiện nay, ở EU có 3 tổ chức định chuẩn: Uỷ ban châu Âu về định
chuẩn, Uỷ ban châu Âu về định chuẩn điện tử, Viện Định chuẩn viễn thông
châu Âu. Tất cả các sản phẩm chỉ có thể bán được ở thị trường này với
điều kiện phải bảo đảm tiêu chuẩn an toàn chung của EU, các luật và định
chuẩn quốc gia được sử dụng chủ yếu để cấm buôn bán sản phẩm được sản
xuất từ các nước có những điều kiện sản xuất chưa đạt được mức an toàn
ngang với tiêu chuẩn của EU. Quy chế bảo đảm an toàn của EU đối với
một số loại sản phẩm tiêu dùng biểu hiện cụ thể như sau:
14
+ Các sản phẩm thực phẩm, đồ uống đóng gói sản phẩm phải ghi rõ tên sản
phẩm, nhãn mác, danh mục thành phẩm, thành phần, trọng lượng tịnh, thời gian sử
dụng, cách sử dụng, địa chỉ của nước sản xuất hoặc nơi bán, nơi sản xuất, các điều
kiện đặc biệt để bảo quản, để chuẩn bị sử dụng hoặc các thao tác bằng tay, mã số và
mã vạch để dễ nhận dạng lô hàng.
+ Các loại thốc men đều phải được kiểm tra chặt chẽ, phải đăng ký và được
các cơ quan có thẩm quyền của các quốc gia thuộc EU cho phép trước khi sản phẩm
được bán ra trên thị trường EU. Giữa các cơ quan có thẩm quyền này và Uỷ ban

tiếp vào giá cả thế giới.
 Nói một cách chung nhất, tác động trực tiếp của chính sách bảo hộ nói trên
là đem lại lợi ích cho nhà sản xuất, còn người tiêu dùng của EU thì bị đánh
thuế. Tuy nhiên, sự bảo hộ như vậy chỉ là bề ngoài vì nó phụ thuộc không
chỉ vào các mức thuế linh hoạt và các chính sách, công cụ khác. Đây chỉ là
hình thức bảo hộ danh nghĩa vì các mức thuế linh hoạt và các chính sách,
công cụ khác còn phụ thuộc vào các yếu tổ tiền tệ tỷ giá hối đoái nữa. Do
các mức giá nói trên được tính bằng EURO trong khi giá thế gới nhìn
chung lại được tính bằng USD, nên khi USD lên giá so với EURO thì các
mức đó sẽ giảm xuống hoặc ngược lại. Có chế giá cả và kiểm soát đối với
từng sản phẩm cũng có tác động đến quan hệ thương mại với các nước
ngoài EU. Lý do là vì cơ chế này ảnh hưởng không chỉ tới nhu cầu nhập
khẩu và lượng hàng hoá dành cho xuất khẩu. Do các cơ chế kiểm soát nói
trên làm mức giá nội địa cao hơn mức giá trên thị trường thế giới cho nên
sản xuất có xu hướng gia tăng, và tiêu dùng có xu hướng giảm sút. Kết quả
là nhập khẩu của EU có xu hướng giảm trong mức cung xuất tăng lên. Tuy
mức giá chung cao hơn mức giá thế giới. Nhưng nhập khẩu lại có xu
hướng giảm sút vì tác dụng của các mức thuế quan linh hoạt, còn xuất khẩu
được khuyến khích bởi cơ chế tài chính, thuế quan. Nên có khuynh hướng
tăng lên.
16. Hàng rào phi quan thuế của Liên minh châu Âu
 Hạn ngạch (Quota): là một công cụ được EU sử dụng để hạn chế số
lượng hoặc giá trị một số mặt hàng nhập khẩu vào EU và phân bổ theo hạn
ngạch theo chương trình hỗ trợ các nước đang phát triển trong khung khổ
của GSP. Những hạn ngạch này nằm cho quy chế 519/94 (của khối EU cũ)
16
áp dụng cho một số nước chưa phải là thành viên của WTO. Tuy nhiên, sau
khi gia nhập WTO, những hạn chế về định lượng được thoả thuận là phải
dỡ bỏ vào năm 2005. Hiện nay, một số mặt hàng của Việt Nam như hàng
dệt may, một số loại thuỷ sản xuất khẩu sang thị trường EU cũng phải chịu

trường EU.
+Tiêu chuẩn 3: tiêu chuẩn an toàn cho người sử dụng EU đã thông qua những
quy định về độ an toàn chung của sản phẩm hay các định chuẩn. Hiện nay, ở EU có
3 tổ chức định chuẩn: Uỷ ban châu Âu về định chuẩn điện tử, Viện định chuẩn viễn
thông của châu Âu chịu trách nhiệm đưa ra các quy chế định chuẩn. Theo hệ thống
quy chế này, ký mã hiệu là quan trọng số một trong lưu thông hàng hoá trên thị
trường EU và được quy định rất nghiêm ngặt, cụ thể đối với một số nhóm hàng của
nước ta như sau:
+ Các loại thuốc mem đều phải được kiểm tra, đăng ký và phải được các cơ
quan thẩm quyền của các quốc gia thuộc EU cho phép trước khi được bán ra trên thị
trường. Giữa các cơ quan thẩm quyền này và uỷ ban châu Âu về định chuẩn thiết
lập một hệ thống thông tin trao đổi tức thời có khả năng nhanh chóng thu hồi bất cứ
loại thuốc nào có tác dụng phụ đang được bán trên thị trường.
+ Đối với các loại vải lụa, EU lập ra một hệ thống thống nhất về mã hiệu cho
biết các loại sợi cấu thành nên loại vải hay lụa được bán trên thị trường.
+Tiêu chuẩn 4: tiêu chuẩn bảo vệ môi trường. Thị trường EU yêu cầu các hàng
hoá có liên quan đến môi trường phải dán nhãn sinh thái (ecolabels) hoặc nhãn tái
sinh theo quy định. Ngoài ra, các nhà sản xuất còn phải đảm bảo tuân thủ hệ thống
quản lý môi trường ISO 14000. Đây là bộ tiêu chuẩn được xây dựng trên cơ sở các
thoả thuận quốc tế, đem đến cách tiếp cận hệ thống cho việc quản lý môi trường và
cung cấp các công cụ hỗ trợ có liên quan như đánh giá môi trường, phân tích chu kỳ
sống của sản phẩm. Nhằm cải thiện môi trường một cách liên tục tại các tổ chức cơ
sở. Như vậy, thị trường EU yêu cầu hàng hoá có liên quan đến môi trường phải dán
nhãn theo quy định (nhãn sinh thái, nhãn tái sinh) và có chứng chỉ được quốc tế
công nhận, nên các doanh nghiệp Việt Nam cần có ý thức tôn trọng. Ví dụ, tiêu
chuẩn GAP (Good agrricultural Practice) và các nhãn hiệu sinh thái (Ecolabels)
đang ngày càng phổ biến, chứng tỏ các cấp độ kách nhau về môi trường tốt. Ngoài
ra, các công ty ngày càng được yêu cầu phải tuân thủ hệ thống quản lý môi trường
18
(các tiêu chuẩn The social Accountability 8000 sẽ ngày càng trở nên quan trọng

19
hàng đầu đối với chúng ta hiện nay. Theo cách tính toán của UNCTAD ( Hội nghị
Liên hợp quốc về thương mại phát triển), do thiếu thông tin và không hiểu rõ các
quy định về thủ tục của EU, Việt Nam hiện nay chỉ sử dụng được khoảng 48% các
ưu đãi của EU trong chế độ GSP.
+EU sử dụng “rào cản kỹ thuật” là biện pháp chủ yếu để đảm bảo hộ sản xuất
và tiêu dùng nội địa hiện nay vì thuế nhập khẩu vào EU đang giảm dần. Hơn nữa,
các nước đang phát triển được EU cho hưởng thuế quan ưu đãi GSP. Bởi vậy, yếu
tố có tính quyết định việc hàng của các nước này có thâm nhập vào được thị trường
EU hay không chính là hàng hoá đó có vượt qua được rào cản kỹ thuật của EU hay
không.
+EU là thị trường đòi hỏi yêu cầu chất lượng cao, điều kiện thương mại
nghiêm ngặt và được bảo hộ đặc biệt. Các khách hàng EU nổi tiếng khó tính về mẫu
mốt, thị hiếu. Khác với Việt Nam, nơi giá cả có vai trò quyết định trong vịêc mua
hàng, đối với phần lớn người châu âu thì “thời trang” là một trong những yếu tố
quyết định. Chỉ khi các yếu tố chất lượng, thời trang và giá cả hấp dẫn thì sản phẩm
mới có cơ hội bán được ở châu Âu. Việc nhiều nước châu âu khác, đặc biệt là
Trung Quốc, với tiềm năng xuất khẩu lớn và đã có nhiều kinh nghiệm có mặt ở thị
trường EU là một khó khăn lớn đối với Việt Nam khi thâm nhập thi trường này.
Ngày nay, EU là một thị trường mở có quy mô lớn đối với các nhà đầu tư và các sản
phẩm nước ngoài. Do đó, nó là một thị trường mang tính cạnh tranh rất lớn vì lượng
hàng nhập khẩu rất nhiều. Nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường
này đang bị sức ép rất mạnh của Trung Quốc (giày dép, dệt may, hàng điện tử, đồ
chơi, thủ công mỹ nghệ), hàng Indonesia (dệt may, giày dép,..). Phần lớn hàng của
các đối thủ cạnh tranh có ưu thế hơn hàng của Việt Nam về chất lượng, giá cả và
nguồn cung cấp ổn định. Muốn đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường EU thì không
còn cách nào khác là chúng ta phải chiến thắng trong cạnh tranh, đánh bại các đối
thủ chiếm lĩnh thị trường. Để làm được việc đó, hàng xuất khẩu Việt nam phải phù
hợp với thị hiếu tiêu dùng và đáp ứng tốt 5 tiêu chuẩn của sản phẩm (chất lượng, vệ
sinh thực phẩm, an toàn cho người sử dụng, bảo vệ môi trường và lao động). Ngay

chia rẽ nội bộ EU và ảnh hưởng không nhỏ tới kinh tế châu Âu. Khoảng cách giữa
các quốc gia trong khối ngày càng thu hẹp. Trong số các quốc gia thuộc EU thì
21
các nước nhỏ Bắc Âu tỏ ra tiến mạnh nhất, nước Đức khổng lồ thường bị tụt hậu
trong mấy năm gần đây cũng đã bắt kịp với tốc độ tăng trưởng kinh tế chung của
cả khối. Chỉ có Italy, mặc dù hơi yếu về khả năng cạnh tranh cũng đã vươn lên với
tốc độ tăng trưởng 2,6 % trong năm 2000, tuy nhiên vẫn bị coi là mức thấp nhất
trong khối. Theo uỷ ban châu Âu, kinh tế EU vẫn đang phát triển khả quan. Các
chuyên gia kinh tế của IMF (Quỹ tiền tệ quốc tế) và OECD (Tổ chức phát triển và
hợp tác kinh tế) cũng rất lạc quan vào sự tiếp tục phát triển kinh tế của EU bởi
Ngân hàng trung ương châu Âu tiếp tục kiểm soát chặt chẽ mức cấp tiền và duy trì
mức lãi xuất khá ổn định ở mức 4,5%. Theo dự báo của OECD, trong năm 2003,
tốc độ tăng trưởng kinh tế EU vẫn sẽ ổn định ở mức trên dưới 2,6%, tỉ lệ thất
nghiệp sẽ giảm đáng kể từ 8,8% năm 2003. Các nhà kinh tế cho rằng “EU tăng
trưởng chậm nhưng chắc” và vẫn tin tưởng khẳng định xu hướng đi lên của kinh
tế EU trong những năm tới 2010 và tầm nhìn tới 2020.
(Giải pháp đẩy mạnh XK hàng hoá của Việt Nam sang thị trường Châu Âu –
PGS. TS Vũ Chí Lộc)
 Tại phiên họp các nước thành viên của Liên minh châu Âu (EU) diễn ra
tại Brussels (Bỉ)(17/02), các nước thành viên trong EU cùng nhau thống
nhất một quan điểm đó là từ bỏ “chủ nghĩa bảo hộ” và cùng nhau liên
minh đối chọi với khủng hoảng tài chính.
 Chủ tịch luân phiên của EU đồng thời là Thủ tướng của Cộng hòa Séc -
Mirek Topolánek cho hay, đối mặt với khủng hoảng là nhiệm vụ được
ưu tiên hàng đầu của EU, các nước thành viên của EU là đang là những
người “cùng thuyền”, vì vậy liêm minh để giải quyết vấn đề là không có
gì khác lạ.
 Theo ông Topolánek hội nghị thượng đỉnh của EU vào ngày 01/03 tới sẽ
tiếp tục thảo luận về vấn đề này, như làm thế nào để có thể đương đầu
với khủng hoảng, các vấn đề với tài sản xấu, khuyến khích các tổ chức

đến-1-9-2008/34/448)
 Trong năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính đã có những tác động mạnh đến nền
kinh tế EU. Theo số liệu của Eurostat (Cơ quan thống kê của EU), GDP của cả khu
23

Trích đoạn Những cơ sở vàng Bối cảnh mối quan hệ mớ Mối quan hệ của VN và một số nước EU Mối quan hệ giữa VN_EU thể hiện ở1 số lĩnh vực 1 Lĩnh vực đầu tư Chinh sách ngoai thương giữa EU_VN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status